
Người giữ “vai trò thiêng” trong lễ hội người Thái
Theo Từ điển tiếng Việt: Người giữ vai trò thiêng (thường là chủ tế, thầy cúng, thầy mo, thầy phù thủy hoặc các bô lão được cử) là những người được cộng đồng tin tưởng, giao phó thực hiện các nghi lễ linh thiêng, đóng vai trò kết nối giữa con người và thần linh. Họ đảm bảo sự trang nghiêm, thực hiện đúng các nghi thức “kiêng, kỵ, hèm” để duy trì tính thiêng (Hoàng Phê, Nxb Đà Nẵng, 1988).
Trước hết, xin bàn về thầy mo, họ giữ vai trò rất đặc biệt trong đời sống văn hóa và lễ hội của người Thái ở Nghệ An. Có thể xem họ là người dẫn đường tâm linh của người Thái. Theo nhà nghiên cứu văn hóa người Thái Quán Vi Miên, họ là những người có khả năng chuyên nghiệp về lĩnh vực nào đó, có ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng, được suy tôn với một danh hiệu kính trọng là “Mo” (mó), có nghĩa là “thầy, nghệ nhân”. Trong xã hội Thái có các mo sau: Mo Môn, Mo Một, Mo lăm, Mo xư (thầy giáo)… Trong đó, Mo Môn có vị thế cao, được coi trọng và khó tu tập nhất. Họ là những người có khả năng “liên lạc, tiếp xúc” với các thần linh. Mo Môn là người có khả năng chữa bệnh bằng các bài thuốc hoặc phép thuật. Bởi thế, trong lễ hội Xăng Khan, có nhiều người đến giúp công, giúp của nhất là những người được các Mo chữa khỏi bệnh tật (lực liệng). Điều dễ nhận thấy của Mo Môn là họ có bàn thờ ma Môn (tổ nghề) riêng, đặt ở buồng kín trên đầu giường, nơi mo nghỉ. Theo quan niệm của người Thái, để trở thành mo, nhất là Mo Môn thì phải đi học nghề, phải mất tiền và làm công cho người dạy, trong quá trình học phải chịu cảnh sinh hoạt rất khắt khe, như phải học thuộc lòng, phải nhớ, không được ghi chép… Về đạo đức, đã là Mo đều được tôn trọng, kính nể như nhau… họ luôn xứng đáng là người quân tử, đã hứa là làm, nói năng dứt khoát, không bao giờ làm điều thấp hèn, bất nhân, bất nghĩa. Như vậy, đã là thầy Mo thì phải trải qua sự khổ luyện, ý chí kiên định, ngoài ra còn có các yếu tố thuộc về tâm linh như căn số, thế tập; không chỉ nhớ giỏi mà còn phải sáng dạ, đối đáp, ứng khẩu rất mau lẹ, thông thạo tiếng của các tộc người Thái, Khơ mú, Ơđu… Có nhiều Mo đọc thông, viết thạo cả chữ Thái lẫn chữ Nho, chữ Nôm. Theo PGS Ninh Viết Giao: “Họ là người sống thanh đạm, thậm chí nghèo, hành nghề là để làm việc nghĩa”. Các tác giả Cầm Trọng, Ngô Đức Thịnh trong cuốn Luật tục Thái Việt Nam viết: người ở trong dòng họ quý tộc muốn giữ chức thế tập như Pằn (xen), Mo Mường… phải tiến hành đổi họ thành họ ngoài quý tộc, tục này gọi là Tư Đằm (nhập Đẳm). Bởi vậy, một thầy “Mo” nhất là “Mo Môn” phải là thầy cúng (Mo Xơ), người có uy tín, đủ trưởng thành (lớn tuổi) và cũng có thể là người phụ nữ có uy tín trong cộng đồng (số lượng Mo nữ trong các dân tộc ở Nghệ An khá phổ biến nhất là ở người Thái, Thổ, Ơđu).
Thầy cúng là người thực hành các bài cúng trong gia đình, làng bản và cộng đồng; họ rất đa dạng từ thầy cúng mới vào nghề và có thể đạt đến trình độ cao “Mo”. Thầy cúng người Thái gọi là Mo Xơ - thầy cúng chuyên nghiệp; người Mông gọi là Sí Dì/Chứ Nênh (tùy khẩu âm từng vùng); người Khơ Mú, Ơđu, Thổ đều gọi chung là Mo và thêm vào các công việc họ đảm nhận. Ví dụ: người Khơ Mú gọi mo cao tay là Mo Môn (giống tiếng Thái), Ca thôm ca tha (thầy cúng nhỏ), Châu chăm nên (thầy cúng ma làng); người Thổ cũng gọi thầy cúng theo từng nghi lễ: Mo ma (thầy cúng trong tang lễ), Mo mạt nhà (thầy cúng mát nhà), Mo vía, Mo cưới; còn người Ơđu cơ bản gọi theo tên tiếng Thái.

Vai trò của người giữ “tính thiêng” trong lễ hội truyền thống của người Thái
Chức năng chính của các thầy mo (Mo Môn), thầy cúng (Mo xơ) là người chủ trì nghi lễ, giao tiếp với thần linh, tổ tiên, giao tiếp với thần linh, tổ tiên và có vai trò dẫn dắt tinh thần của cả cộng đồng. Ví dụ, trong lễ hội Đền Chín Gian, người thờ cúng phải là người thuộc dòng họ Lo Căm (Lò Vàng) thuộc Mường Tôn (Mường Gốc), huyện Quế Phong (cũ) mới được làm chủ lễ.
Hay trong lễ hội cầu mưa nơi người Thái gọi là xon phôôn hay ru hừn tạ prư hay bùa ngư tức lễ hội kéo đuôi con thuồng luồng. Theo đồng bào, nguyên nhân gây ra hạn hán là do trời đất mất cân bằng, vạn vật mất đi giao hòa âm dương. Lễ cầu mưa là hành động chọc tức ma thuồng luồng, đồng bào thả ruốc cá vào vùng cấm, nơi thuồng luồng ở, bày trò chơi kéo đuôi thuồng luồng vì cho là nó ngủ quên. Theo cố GS Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn sách Người Ơđu, mục đích của việc làm trên là cốt sao cho trời hay thuồng luồng nổi xung dâng nước làm mưa. Hình thức “trêu chọc” biểu thị phần nào ý thức bình đẳng giữa trời, thuồng luồng với con người của một xã hội mà thần quyền chưa phải là điều làm cho con người lúc nào cũng run sợ, mà sự cách biệt giữa thần linh và con người con chưa rõ ràng. Lễ cầu mưa được tổ chức ở rìa bản, người tham gia “vật lộn” với đuôi của con thuồng luồng (một cành cây cắm xuống đất) rồi nhổ lên khỏi hố và chạy xuống té nước vào nhau reo hò: có mưa rồi! Nghi thức gửi niềm tin, sự giải tỏa về tinh thần khi con người đối mặt với thời tiết khắc nghiệt. Và nơi đó, những “người được chọn” đã thay mặt cộng đồng mang theo ước nguyện về mưa thuận gió hòa.
Về vai trò Mo, nhất là Mo Môn, họ là người chủ trì các nghi lễ quan trọng như Xên bản, Xên mường, lễ cầu mưa, lễ cúng vía lúa. Là cư dân nông nghiệp, nên đa số lễ hội của người Thái ở Nghệ An… đều là tín ngưỡng thờ vật linh, các nghi thức, nghi lễ và nội dung mang ý nghĩa cầu mùa (Hoàng Lương, Văn hóa các dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam tr.209).
Lễ hội mùa Xuân trong đó phổ biến nhất là Tết Nguyên đán. Tết Nguyên đán người Thái gọi là Tết cả (Tết lớn) hay là “Kin chiêng”, tức ăn Tết tháng Giêng. Tùy khả năng, từng gia đình mà tổ chức ăn Tết to nhỏ khác nhau nhưng đều có mục đích là tiễn năm cũ và đón một năm mới tốt đẹp tới. Tết diễn ra các nghi lễ cúng trong phạm vi gia đình và tổ chức cúng theo từng dòng họ. Thông thường, người Thái ăn Tết Nguyên đán trong 3 ngày, ngày đầu tiên các gia đình tổ chức cúng tổ tiên, từ ngày thứ hai trở đi, mọi người dành cho phần hội. Trong thực hành các nghi lễ, các thầy mo, thầy cúng hoặc chủ gia đình sẽ đảm nhận công việc cúng gia tiên; phụ nữ chuẩn bị thức ăn, đồ cúng lễ. Riêng nghi lễ cúng ở nhà thờ họ do tộc trưởng, người già trong dòng họ đảm nhận. Phần hội vào dịp Tết Nguyên đán của người Thái ở Nghệ An có điểm rất độc đáo là tục chơi hang, trong đó nổi bật nhất là lễ hội Hang Bua thuộc xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu (cũ) rất quy mô, nổi tiếng nhất ở xứ Nghệ. Có rất nhiều giai thoại, sử tích về tục chơi hang của người Thái ở Nghệ An, nhất là lễ hội Hang Bua; trong đó có hai nguồn gốc chính: gợi nhắc về nguồn gốc của xã hội loài người (sống trong hang động) và dấu tích về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Tục chơi hang còn phổ biến ở các địa phương khác ở Việt Nam như: hang Thằm Lé (Văn Chấn, Yên Bái), hang Giơi, hang Tiên ở Hòa Bình... Lễ hội Hang Bua thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”, giáo dục thế hệ trẻ về nguồn gốc tổ tiên. Tiến hành nghi lễ phải do thầy Mo Xơ (thầy cúng chuyên nghiệp) là những người am hiểu luật tục, nắm vững các bài ca nghi lễ. Mo Xơ trong các nghi lễ lớn như Hang Bua, đền Chín Gian không nhiều, cả mường có khi chỉ có một vài người; họ khác với các thầy cúng ở gia đình, dòng họ. Để tiến hành nghi lễ cúng lễ ở Hang Bua, Đền Chín gian Mo Xơ phải tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, miệng ăn trâu cho đỏ, đầu chít khăn. Trước khi lễ cúng, Mo Xơ kiểm tra các mâm cúng, xem các mâm cúng có thiếu, sơ suất gì không để sai người bổ sung. Lễ vật trong lễ hội Hang Bua gồm 5 mâm, thờ 5 vị sau: (1) Thần Mường tức Pủ Xừa, (2) Thần nước tức Nặm Bỏ, (3) Thần bản tức các vị Xiều Luông, Xiều Bọ, Xiều Kẻ, (4) Mâm cho anh em Căm Lự, Căm Lạn, (5) Mâm thờ tổ tiên, cha mẹ. Khi mọi thứ xong xuôi, thầy cúng mới vái lạy ba cái và chắp tay trước bụng, những người phụ lễ xung quanh cũng tiến hành các nghi thức giống Mo Xơ, lùi lại phía sau và chắp tay cho đến kết thúc lễ cúng. Mo Xơ sẽ đọc bài cúng mà họ đã thuộc làu làu, âm thanh trầm bổng theo ngữ điệu lời cúng của tiếng Thái (Quán Vi Miên, Văn hóa Thái tìm hiểu và khám phá, Nxb Khoa học xã hội tập 1, tr.414).
Trong các lễ hội mùa Xuân, còn có các lễ hội như Kin lẩu nó hay lễ hội Xăng Khan, lễ hội xuống đồng. Xăng Khan theo nghĩa đen của tiếng Thái ở Nghệ An “xăng/xang” là đóng lại, “khan” là bịt lại, hàn. Lễ hội Xăng Khan là để bày tỏ sự tưởng nhớ, sự cảm ơn tổ sư Môn (Phi Môn) và cảm ơn các “phi” (thần) giúp Mo Môn trong quá trình hành nghề. Bởi thế, Lễ hội Xăng Khan là nghi lễ cúng tổ sư nghề của những người làm nghề Mo Môn. Lễ hội xuống (Lôông tổng), thầy cúng được chọn là gia đình có ruộng tốt nhất, biết làm ăn, có uy tín trong cộng đồng. Mâm cúng của thầy cúng ngoài lễ vật như các gia đình còn có thêm thủ lợn luộc, mấy bát tiết, đặc biệt là có bầu nước thiêng lấy từ đêm 30 Tết ở đầu nguồn nước hoặc mó nước sạch nhất bản. Nghi thức cúng khá đặc biệt, ông mo khấn thần linh xong sẽ ngậm nước vào miệng và phun ra bốn phía nhằm cầu cho mưa thuận gió hòa. Tiếp đó, ông chọn ra hai đôi nam nữ chưa lập gia đình đứng xung quanh cột còn và cúng thần còn. Ông Mo vừa khấn vừa ném còn về phía bốn thanh niên để mở đầu cho hội ném còn. Nghi thức cúng Lôồng tổng thể hiện vai trò làm gương của thầy mo và lễ vật thể hiện cho trách nhiệm xã hội, là hình mẫu, mang theo khát vọng về một mùa vụ bội thu, gia đình viên mãn.
Lễ hội cuối Hè đầu Thu của người Thái, tiêu biểu nhất là tết tháng 7 (kín chêết/xíp xí); lễ tết diễn ra vào ngày 14/7 hằng năm. Theo lịch tiết, đây là lễ tết truyền thống (tương tự như kiêng chiêng - Tết Nguyên đán). Người Thái ở Nghệ An đã mở rộng Tết này trở thành Tết chung của dòng họ, được tổ chức theo quy mô của cả dòng họ. Để tiến hành nghi lễ phải do các thầy cúng cao tay (Mo xơ) tiến hành; lễ tết góp phần tái hiện nghi lễ nông nghiệp và dấu ấn văn hóa tộc người rất đặc trưng của người Thái.
Bên cạnh những nhân vật nam giới giữ vai trò chủ lễ, phụ nữ cao niên trong cộng đồng các dân tộc ở Nghệ An đóng góp thầm lặng nhưng không kém phần quan trọng; họ được xem là người giữ hồn vía cho lễ hội. Trong các lễ hội, phụ nữ là người chuẩn bị lễ vật, truyền dạy các bài hát dân gian, điệu múa nghi lễ cho thế hệ trẻ. Nếu nhìn nhận lễ hội truyền thống có hai phần quan trọng là phần lễ và phần hội; phần lễ thường được mặc định cho nam giới thì với phần hội, phụ nữ - nhất là phụ nữ lớn tuổi có vai trò đậm nét; họ là người thực hiện các trò lễ, tục hèm hay trò chơi dân gian như đánh cồng chiêng, khắc luống (tung loòng), nhảy sạp, ném còn...
Ngoài ra, phụ nữ còn là người lưu giữ ký ức văn hóa thông qua lời ca, động tác, cách bài trí mâm lễ. Vai trò của phụ nữ cao niên thể hiện rõ quan niệm về sự sinh sôi, nuôi dưỡng và bảo trợ sự sống trong tín ngưỡng dân gian. Họ là người giữ “linh hồn” lễ hội trong đời sống hiện đại, đặc biệt, trong không gian Hạn khuống - nơi dành riêng cho nam nữ gặp gỡ, giao duyên chúng ta quen gọi là “chợ tình”. Hạn khuống được dựng ngay ngắn giữa bản, nơi tập trung trai gái son trẻ nhất. Để duy trì hạn khuống các cô gái rủ nhau đi lấy củi để tối đốt bếp. Một người con gái xinh xắn, đẹp nết, biết ăn nói… được bạn bè cử ra làm “tốn khuống” (tổ trưởng). Tốn khuống lấy sa chắn ngay lối cửa lên xuống và cất thang đi. Các chàng trai muốn lên Hạn khuống phải hát đối đáp và xin các cô gái bắc thang cho lên; các cô gái không cho lên ngay mà phải thử thách tài các chàng trai trước. Các chàng trai lên Hạn khuống không được ngồi ghế mà phải đứng, muốn hút thuốc cũng phải xin các cô gái. Họ vừa hát đối đáp, vừa làm quen, vừa tỏ tình với nhau, rồi dần dà học xích lại gần nhau (Hoàng Nam - Lê Ngọc Thắng, Nhà sàn Thái, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội tr.115-116). Qua sinh hoạt Hạn khuống, có thể thấy vai trò của phụ nữ trong các sinh hoạt văn hóa và lễ hội truyền thống khá đậm nét.
Người giữ vai trò thiêng trong nhịp sống đương đại
Những người giữ vai trò thiêng chính là linh hồn trong lễ hội của dân tộc Thái. Thông qua họ, các giá trị văn hóa phi vật thể như nghi lễ, lời khấn, luật tục, tri thức dân gian được bảo tồn và truyền nối qua nhiều thế hệ. Họ góp phần cố kết cộng đồng, nuôi dưỡng bản sắc tộc người giữa dòng chảy biến đổi mạnh mẽ của xã hội hiện đại. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, lớp người giữ vai trò thiêng ngày càng cao tuổi, trong khi lớp kế cận còn mỏng. Một số lễ hội bị sân khấu hóa, giản lược nghi thức để phục vụ du lịch, khiến không gian linh thiêng có nguy cơ bị mai một.
Bảo tồn lễ hội truyền thống vì thế không chỉ dừng lại ở việc phục dựng hình thức, mà quan trọng hơn là bảo tồn chính những con người làm nên “hồn” của lễ hội. Việc ghi chép, tư liệu hóa tri thức tạo điều kiện truyền dạy nghi lễ cho thế hệ trẻ, đồng thời tôn trọng yếu tố linh thiêng khi khai thác du lịch, là hướng đi cần thiết và lâu dài. Bài học kinh nghiệm ở Trung Quốc và một số địa phương về hiện tượng thương mại hóa tính thiêng là đang chạm vào “yết hầu” niềm tin tín ngưỡng, hồn cốt tạo nên chiều sâu lễ hội trong nhịp sống đương đại.
Trong đời sống văn hóa của người Thái ở Nghệ An, những người giữ vai trò thiêng không chỉ là chủ thể thực hành nghi lễ mà còn là “ký ức sống” của cộng đồng. Họ góp phần duy trì mạch chảy văn hóa truyền thống, làm nên chiều sâu tinh thần cho lễ hội dân gian. Bảo tồn và phát huy lễ hội truyền thống trước hết cần khuyến khích, tôn trọng các thầy “Mo”, người am hiểu luật tục. Họ chính là người giữ gìn cốt lõi văn hóa và lễ hội truyền thống.
LƯƠNG VĂN THIẾT - TẠ HỒNG NHUNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 649, tháng 7-2026