Ra mắt cuốn sách Trước bình minh tại trường THPT Phan Đình Phùng.jpg
Ra mắt cuốn sách Trước bình minh tại trường THPT Phan Đình Phùng

Từ phố nghèo Hà Tĩnh đến giảng đường Sorbonne

Sinh năm 1957 tại phường Thành Sen, Hà Tĩnh – một mảnh đất “nghèo nhưng giàu nghĩa khí” – tuổi thơ Trần Thị Hảo lớn lên trong tiếng bom đạn chiến tranh. Bà từng tâm sự: “Tôi viết để tìm sự đồng cảm, sự chia sẻ. Nếu tôi hoặc những người ở thế hệ tôi không viết ra, thì thế hệ sau sẽ không biết đến những gì mình đã trải qua.” Ký ức về những đêm thức giấc vì còi báo động, những ngày sơ tán, nhặt củi, sống trong hầm trú ẩn – tất cả như những thớ thịt nuôi dưỡng ý chí và tình yêu văn chương trong bà.

Tốt nghiệp trường THPT Phan Đình Phùng, bà thi vào khoa tiếng Pháp, Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Tốt nghiệp xuất sắc, bà được giữ lại trường giảng dạy tiếng Pháp và Văn học Pháp. Những năm tháng đứng trên bục giảng ở Hà Nội, bà đã truyền lửa cho bao thế hệ sinh viên, nhưng trong bà vẫn âm ỉ khát khao học thuật lớn hơn.

Năm 1998, theo chồng – nhà ngoại giao Văn Nghĩa Dũng – sang làm nhiệm vụ tại Đại sứ quán Việt Nam ở Pháp, bà quyết định ghi danh vào Đại học Sorbonne Paris IV. Năm 2002, bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Văn học so sánh về Victor Hugo, được hội đồng đánh giá xuất sắc và đề nghị phát triển thành giáo trình giảng dạy ngay tại Sorbonne. Đó không chỉ là niềm tự hào cá nhân, mà còn là lần đầu tiên một học giả được đào tạo bài bản tại Việt Nam khẳng định vị thế trên đất Pháp.

Bà Trần Thị Hảo làm thiện nguyện cùng các Hội đoàn từ thiện Pháp.jpg
Bà Trần Thị Hảo làm thiện nguyện cùng các Hội đoàn từ thiện Pháp

Cây bút song hành giữa hai ngôn ngữ

Điều làm nên sự độc đáo của Trần Thị Hảo chính là khả năng sáng tác song ngữ một cách tự nhiên và sâu sắc. Bà không xem tiếng Việt và tiếng Pháp là hai thế giới tách biệt, mà là hai phương tiện để kể những câu chuyện cần được kể cho những đối tượng độc giả khác nhau.

Bằng tiếng Việt, bà mang hình ảnh nước Pháp và những số phận đa đoan về với bạn đọc quê nhà. Tập truyện ngắn đầu tay Ảo vọng du học (2006) – phản ánh những ước mơ và va vấp của du học sinh. Tiểu thuyết Ngân (2007) xót xa cho số phận cô gái trẻ là nạn nhân chất độc da cam. Bông mai vàng trước gió (2009) kể mối tình đầy trắc trở giữa sinh viên Việt Nam và người Pháp gốc Việt, với những giằng xé về căn tính và văn hóa. Và có lẽ, Tình sử Nam Phương Hoàng hậu (2010) là tác phẩm để lại dấu ấn đậm nhất, phác họa chân dung đầy cảm thông về vị hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn – một người phụ nữ tài sắc vẹn toàn nhưng chìm nổi giữa dòng lịch sử biến động. Gần đây nhất, tiểu thuyết Trước bình minh (2025) như một lời tri ân với quê hương Hà Tĩnh. Ra mắt tại ngôi trường Phan Đình Phùng cũ, cuốn sách tái hiện chân thực và đầy xúc cảm cuộc sống miền Bắc từ thập niên 1950 đến 1990, những năm tháng “mưa bom bão đạn, rồi những ngày hậu chiến đói khát mà nghĩa tình”. Bà bảo: “Các chi tiết trong tiểu thuyết là có thật, hoặc của chính mình, hoặc của người khác, đặc biệt là về những người lính.”

Bằng tiếng Pháp, bà trở thành sứ giả đưa văn hóa, lịch sử Việt Nam đến với độc giả Pháp ngữ. Tiểu thuyết Cô gái và chiến tranh (La jeune fille et la guerre, 2007) là một bước ngoặt. Câu chuyện về một cô gái lớn lên trong gia đình Nho giáo, trải qua thời chiến và hậu chiến, đã chạm đến trái tim người đọc Pháp bằng sự chân thành. Từ năm học 2016-2017, tác phẩm được đưa vào chương trình dạy ngữ pháp tiếng Pháp trực tuyến (FLOT/SILLAGES) cho học sinh, sinh viên Pháp và cộng đồng Pháp ngữ – một sự công nhận hiếm có dành cho một tác giả gốc Việt.

Bà tiếp tục với tiểu luận Những kiến thức sơ đẳng về Việt Nam (2007) – một “cuốn cẩm nang” để người Pháp hiểu đúng, hiểu sâu về đất nước hình chữ S, rồi Mãi mãi là vợ của anh (A toujours ma concubine, 2010), cuốn từ điển thành ngữ tục ngữ song ngữ công phu (2010), và tiểu thuyết Bà Hoàng cuối cùng của nước Annam (La dernière Impératrice d’Annam, 2014) – tác phẩm lọt vào top 10 chung kết Giải Văn học châu Á 2015. Mỗi trang sách bằng tiếng Pháp của bà đều là một viên gạch vững chắc xây nên cây cầu văn hóa bắc qua dòng sông Seine và sông Hồng.

Bà Trần Thị Hảo ký tặng sách cho các độc giả.jpg
 Bà Trần Thị Hảo ký tặng sách cho các độc giả

Người thầy, người làm nhân đạo và tấm lòng với quê hương

Những ai từng gặp Trần Thị Hảo đều nhận thấy sự giản dị, khiêm nhường và ấm áp. PGS,TS Đường Công Minh, nguyên Chủ nhiệm Khoa tiếng Pháp, Đại học Hà Nội, nhận xét: “Trong cuộc sống, nhà văn Trần Thị Hảo là người giản dị. Trong văn học, chị có cách viết nhẹ nhàng, đơn giản nhưng sâu sắc bằng cả tiếng Pháp và tiếng Việt.”

Sự giản dị ấy là sự lắng đọng của một đời tích lũy tri thức và trải nghiệm. Bà quan niệm: “Điều không thể thiếu khi bắt đầu hành trình viết là những trải nghiệm và kiến thức, càng nhiều, càng phong phú đa dạng càng tốt”. Và bà đã sống với trải nghiệm bằng cả trái tim. Ngoài viết, bà dành nhiều thời gian cho các hoạt động thiện nguyện. Nhiều năm liền, bà làm cầu nối để các tổ chức nhân đạo của Pháp đến với những vùng khó khăn ở Nghệ An, Hà Tĩnh. Bà dịch hàng trăm bức thư của cha mẹ đỡ đầu người Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ sang tiếng Việt và thư của các con được đỡ đầu từ Việt Nam sang tiếng Pháp – những “tư liệu sống” để bà viết tiểu thuyết Hai ngày nữa, tôi sẽ tròn hai mươi tuổi.

Những lần về thăm quê, bà lại đến các mái ấm tình thương, trại trẻ mồ côi. Có một hình ảnh rất xúc động: nhà văn ngồi giữa vòng tay trẻ em cơ nhỡ trong chiếc áo giản dị, nở nụ cười hiền hậu. Bà bảo, càng sống ở nước ngoài, chứng kiến sự văn minh của nhân loại, bà càng thương dân tộc mình, càng khâm phục khả năng “âm thầm mà bền bỉ đứng dậy sáng lòa”. Và bà kết luận bằng một câu chất chứa: “Hòa bình luôn là điều thiêng liêng nhất!”

Bà Trần Thị Hảo khi được xướng tên trong lễ trao giải của Viện Hàn Lâm Pháp.jpg
Bà Trần Thị Hảo khi được xướng tên trong lễ trao giải của Viện Hàn Lâm Pháp

Những vòng nguyệt quế, sự ghi nhận xứng đáng

Đóng góp thầm lặng của Trần Thị Hảo đã được tôn vinh. Năm 2018, bà được Bộ Văn hóa Cộng hòa Pháp trao tặng Huân chương Hiệp sĩ Văn học Nghệ thuật (Chevalier des Arts et des Lettres) – một trong những danh hiệu cao quý nhất của Pháp. Và rồi năm 2023, một vinh dự lớn hơn nữa: Viện Hàn lâm Pháp trao tặng bà Giải thưởng lớn Grand Prix, vinh danh: “Làm tỏa sáng Tiếng Pháp và Văn học Pháp”.

Trong giới văn chương Pháp ngữ, bà được xếp vào nhóm “Năm nàng công chúa Ngũ Long” – cùng Kim Lefèvre, Anna Moi, Linda Lê và Kim Thúy – những nữ văn sĩ gốc Việt tạo nên một “tấm hoa văn rực rỡ sắc màu” cho văn học viết bằng tiếng Pháp. Nhưng khác với nhiều người, Trần Thị Hảo không ở lại Pháp để hưởng vinh quang. Bà vẫn đi về, vẫn trở lại Hà Tĩnh, vẫn lặng lẽ trao học bổng cho học sinh nghèo, ra mắt sách tại ngôi trường cũ trong niềm xúc động nghẹn ngào.

Trần Thị Hảo không chỉ là nhà văn. Bà là hiện thân của sự hòa điệu giữa các nền văn hóa. Ở bà, người ta thấy sự tinh tế của một nhà nghiên cứu Sorbonne, sự sâu lắng của một nhà văn Việt, và sự rộng mở của một công dân toàn cầu. Hành trình từ Hà Tĩnh đến Paris, từ những ký ức chiến tranh khắc nghiệt đến những buổi giao lưu văn hóa ấm áp, là minh chứng sống động cho sức mạnh của văn chương – vượt qua biên giới, xóa nhòa khoảng cách, chạm đến những giá trị phổ quát.

Bà viết như một cách lưu giữ ký ức, một sự sẻ chia và một hành động kiến tạo sự hiểu biết. Qua ngòi bút của bà, độc giả Việt Nam hiểu hơn về nước Pháp và độc giả Pháp ngữ thấy được một Việt Nam chân thực, phức hợp, giàu bản sắc và đầy sức sống. Bà đã, đang và sẽ mãi là một cây cầu văn hóa vững chãi, khiêm nhường nhưng kiên định. Trong “cõi sách” mênh mông, chân dung nhà văn Trần Thị Hảo hiện lên như một người kể chuyện tài ba, một người thầy tận tâm, và trên hết, một người con đất Việt với trái tim luôn rộng mở, luôn đau đáu tình yêu quê hương và sứ mệnh kết nối những giá trị đẹp đẽ nhất của nhân loại.

LÊ BẢO NHI

Nguồn: Tạp chí VHNT số 644, tháng 5-2026