Từ khóa: vốn văn hóa; Pierre Bourdieu; nghệ thuật trình diễn dân gian; công nghiệp văn hóa.

Abstract: This article uses Pierre Bourdieu’s “Cultural capital” theory as a research basis to identify the cultural capital of Vietnamese folk performing arts within the context of the current development of the cultural industry. The research shows that cultural capital in folk performing arts exists not only in purely material and spiritual forms but also as a special type of asset that promotes creativity and transforms into socio-economic value. Therefore, shifting the mindset of managing and exploiting heritage values from a “static” state to capital management is a prerequisite for promoting the effectiveness of the folk performing arts value chain in the cultural industry.

Keywords: cultural capital; Pierre Bourdieu; folk performing arts; cultural industry.

Liên hoan Ca trù Hà Nội lan thu 3.jpg
Biểu diễn ca trù tại Liên hoan Ca trù Hà Nội lần thứ Ba - năm 2022 - Ảnh tư liệu minh họa: Thúy Nga

1. Đặt vấn đề

Lý thuyết về các dạng vốn của nhà xã hội học người Pháp Pierre Bourdieu ra đời vào thế kỷ XX, xem văn hóa như một loại tài sản tích lũy có khả năng sinh lời và tái đầu tư (Bourdieu, 1986). Đối với nền công nghiệp văn hóa (CNVH) ở Việt Nam, giá trị di sản dưới lăng kính của lý thuyết vốn văn hóa trở nên đa chiều và kinh tế hơn, trong đó có nghệ thuật trình diễn dân gian (NTTDDG). Đây là loại hình di sản giàu sức biểu đạt, được người dân sáng tạo lưu truyền và gìn giữ qua hàng ngàn năm lịch sử, tiêu biểu như âm nhạc, múa, sân khấu dân gian… (Tô Ngọc Thanh, 2007, tr.24-25). Tuy nhiên, di sản này đã có lúc được cho là phải bảo tồn theo cách “bảo tàng hóa” hơn là phát huy nó như một thực thể kinh tế sống động. Vì vậy, NTTDDG rơi vào thế bị động trước sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình nghệ thuật khác, mối liên kết giữa di sản với đời sống hiện đại thiếu bền chặt, nhất là với thị trường văn hóa. Nhưng với quan điểm của Bourdieu cho thấy: NTTDDG không chỉ là tiếng đàn, điệu múa, lời ca xưa cũ; là hoạt động trình diễn nghệ thuật thuần túy mà là tổng thể những yếu tố đã tích lũy được qua nhiều thế hệ, có khả năng thúc đẩy sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa mang giá trị kinh tế cao. Do đó, nhận diện rõ vốn văn hóa trong NTTDDG là yêu cầu cấp thiết để bảo vệ và phát huy hiệu quả giá trị di sản nghệ thuật dân tộc trong bối cảnh CNVH hiện nay.

2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích lý thuyết “vốn văn hóa” của Pierre Bourdieu, soi chiếu lý thuyết này vào NTTDDG để nhận diện các trạng thái tồn tại của vốn văn hóa. Phương pháp nghiên cứu trường hợp để lại lựa chọn các loại hình nghệ thuật tiêu biểu như ca trù, quan họ... và một số sản phẩm văn hóa mới để phân tích, làm rõ quá trình chuyển hóa di sản thành sản phẩm văn hóa. Bên cạnh đó, bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp dữ liệu và so sánh nhằm nghiên cứu các tài liệu, văn bản của Nhà nước, các công trình khoa học; đối sánh lý thuyết của Bourdieu với thực tiễn Việt Nam và quá trình hiện thực hóa lý thuyết này trong sự vận động của NTTDDG, CNVH. Từ đó đề xuất các giải pháp phát huy nguồn vốn văn hóa phù hợp với đặc thù của cộng đồng, xã hội và bối cảnh nước ta hiện nay.

3. Kết quả và thảo luận

Khái niệm vốn văn hóa của Pierre Bourdieu

“Vốn văn hóa” (Cultural capital) là khái niệm do Pierre Bourdieu xây dựng và vận dụng trong các nghiên cứu của mình, bên cạnh những khái niệm như vốn kinh tế, vốn xã hội và vốn biểu tượng. TheoBourdieu, vốn văn hóa là hệ thống các giá trị, tri thức, kỹ năng và yếu tố văn hóa mà con người tích lũy được, có khả năng chuyển hóa, trao đổi và tạo ra lợi ích trong quá trình phát triển xã hội dưới hình thức “tư bản văn hóa”.

Đến năm 1986, trong nghiên cứu The forms of capital (Các hình thức của vốn), Bourdieu đã phân biệt ba loại vốn: vốn kinh tế, bao gồm các nguồn lực kinh tế như tiền, tài sản, nguồn lực...; vốn xã hội, là các nguồn lực có được do sở hữu các mối quan hệ quen biết bền vững và thừa nhận lẫn nhau đã được công nhận; vốn văn hóa, là các loại hình tri thức, kỹ năng, giáo dục hoặc các ưu thế khác khiến cho vị thế xã hội của người sở hữu nó cao hơn và tương lai hứa hẹn hơn.

Vốn văn hóa tồn tại ở ba trạng thái chủ yếu:

Trạng thái hiện thân: là trạng thái mà các yếu tố văn hóa được thể hiện qua chủ thể là con người; những yếu tố này tồn tại lâu dài trong tâm trí, cơ thể và hoạt động của con người. Trạng thái hiện thân phản ánh tiềm lực văn hóa và năng lực vận dụng các yếu tố đó của con người để tạo ra những giá trị nhất định.

Trạng thái khách thể: là trạng thái mà các yếu tố văn hóa tồn tại khách quan ngoài con người; là những hình thức vật chất như công cụ, nhà cửa, thiết bị, máy móc và cả những sản phẩm trí tuệ, tinh thần... vốn văn hóa ở trạng thái khách thể là sản phẩm của cá nhân hoặc cộng đồng có thể luân chuyển, trao đổi nhằm tạo ra giá trị.

Trạng thái thể chế: là trạng thái mà yếu tố văn hóa tổ chức thành các khuôn mẫu, định hình cho sự tồn tại và hoạt động của các yếu tố văn hóa dựa trên những khuôn mẫu đó.

Trong ba trạng thái này, Bourdieu nhấn mạnh vai trò của vốn văn hóa ở trạng thái hiện thân. Ông cũng xác định rõ: “Hầu hết các thuộc tính của vốn văn hóa có thể được rút ra từ thực tế, ở trạng thái cơ bản của nó, nó được liên kết với chủ thể văn hóa và phỏng đoán hiện thân” (Bourdieu, 1986, tr.241-258).

Có thể nói, Bourdieu tiếp cận vốn văn hóa chủ yếu dưới góc độ kinh tế và xã hội nhằm hướng đến kinh tế hàng hóa văn hóa. Tuy nhiên, qua nghiên cứu thấy rằng: không phải cái gì của văn hóa cũng là hàng hóa hoặc trở thành hàng hóa, mà chỉ những yếu tố văn hóa nào có thể chuyển nhượng, chuyển hóa tạo ra giá trị, đem lại lợi nhuận mới được coi là vốn văn hóa.

Tình hình nghiên cứu lý thuyết vốn văn hóa tại Việt Nam

Lý thuyết của Bourdieu đã sớm được các nhà nghiên cứu Việt Nam kế thừa và vận dụng. Học giả Trần Đình Hượu (1994, tr.17-32) là người đã sớm đưa ra quan niệm văn hóa như một loại vốn. Trong nghiên cứu Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc, ông đã đề cập đến khái niệm vốn văn hóa mang ý nghĩa là bản sắc văn hóa, giúp phân biệt văn hóa dân tộc này với dân tộc khác.

Tiếp nối, GS, TS Từ Thị Loan (2023) đã mở rộng nội hàm của vốn văn hóa trong mối liên hệ với phát triển bền vững và công nghiệp văn hóa. Theo Đào Đình Thưởng (2011), vốn văn hóa được nhìn nhận là tổng hòa của vốn tri thức, vốn sáng tạo và lối sống của cá nhân, cộng đồng. Đặc biệt, trong nghiên cứu của Bùi Minh Hào (2021), tác giả nhấn mạnh việc tiếp cận vốn văn hóa là một phương pháp quan trọng trong nghiên cứu phát triển, văn hóa trở thành mục tiêu và động lực mạnh mẽ cho sự tăng trưởng kinh tế, xã hội.