Mối liên hệ giữa vốn văn hóa và CNVH
Vốn văn hóa và CNVH là mối quan hệ hữu cơ giữa nguồn lực đầu vào và giá trị kinh tế, GS, TS Từ Thị Loan cho rằng: vốn văn hóa Việt Nam phong phú, giàu tiềm năng chính là nền tảng phát triển các ngành du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ và điện ảnh (Từ Thị Loan, 2023). Trong chu trình này, các giá trị di sản được xử lý thông qua tư duy sáng tạo để trở thành hàng hóa, dịch vụ văn hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
PGS, TS Phan Văn Tú (2022) trong bài viết Mối quan hệ giữa vốn văn hóa và công nghiệp văn hóa nhận định: Thông qua trao đổi, xuất khẩu sản phẩm CNVH (điện ảnh, ca nhạc, du lịch văn hóa), nền văn hóa dân tộc được giới thiệu ra thế giới; đồng thời tiếp thu các trào lưu, xu thế mới để làm giàu thêm vốn văn hóa bản địa. Khai thác tài nguyên văn hóa bản địa kết hợp công nghệ và kỹ năng kinh doanh của các nước phát triển giúp tạo nguồn thu đáng kể để duy tu, xây mới các công trình và tài trợ cho các hoạt động văn hóa; CNVH góp phần khôi phục các giá trị vật thể và phi vật thể truyền thống mang bản sắc địa phương; đồng thời gia tăng sự đa dạng, tiếp thu các giá trị tốt đẹp bên ngoài để tôn vinh văn hóa bản địa trên phương diện vừa kế thừa, vừa đổi mới.
Nhận diện vốn văn hóa trong nghệ thuật trình diễn dân gian Việt Nam
Trên cơ sở tiếp biến lý thuyết vốn văn hóa của Pierre Bourdieu vào thực tiễn Việt Nam cho thấy: vốn văn hóa trong NTTDDG không đơn thuần là tập hợp các loại hình, tiết mục trình diễn mà là một hệ thống nguồn lực được chuyển hóa qua lại và linh hoạt. Cấu trúc này được nhận diện qua ba hình thái cơ bản:
Vốn văn hóa ở trạng thái hiện thân (vốn hiện thân)
Vốn hiện thân là thành tố quan trọng nhất, có vai trò là hạt nhân cốt lõi của NTTDDG gắn liền với con người, được biểu hiện sâu sắc và tổng hợp từ nền tảng tri thức, đạo đức, trình độ và năng lực tư duy; tài năng, kỹ năng chuyên môn nghề nghiệp và ngay cả cơ thể cũng như sự hoạt động của con người đã được cá nhân hóa qua một quá trình rèn luyện bền bỉ.
Vốn hiện thân được trao truyền bởi những người có tâm đức, tài năng lão luyện và người đón nhận cũng phải có “chân tài, chân tập”, đủ năng lực để lĩnh hội trong điều kiện môi trường văn hóa gốc. Từ đó định hình tài năng, tư duy, thẩm mỹ... làm nên những tác phẩm có giá trị cao. Lao động nghệ thuật của nghệ nhân không chỉ là nhớ lời ca, giai điệu, luật động... mà là năng lực sáng tạo, ứng biến nhạy bén trong các trạng huống nghệ thuật. Và hơn cả, là sự xuất thần trong sáng tác và trình diễn, ghi dấu ấn đặc biệt bằng tài năng thiên phú và tâm thế say nghề.
Tiêu biểu cho nguồn vốn hiện thân trong NTTDDG là các nghệ nhân bậc thầy, những “báu vật” nhân văn sống, nắm giữ những bí quyết nghề mà không công nghệ nào có thể thay thế. Ví dụ như cách nhả chữ điêu luyện của các đào nương ca trù; kỹ thuật “nảy hạt” đặc biệt tinh tế của nghệ nhân quan họ, mỗi câu ca là một sự ứng biến linh hoạt nghệ thuật ngôn từ, tri thức dân gian; tài năng của nghệ nhân múa rối tạo hiệu quả nghệ thuật kỳ thú trên mặt nước.
Quá trình tích lũy vốn hiện thân thường diễn ra thông qua cơ chế trao truyền cộng đồng hoặc truyền khẩu, truyền nghề “cầm tay chỉ việc” trực tiếp. Với vai trò tích lũy nguồn vốn, nghệ nhân trở thành nhân tố quyết định sự sống còn của di sản. Gìn giữ vốn hiện thân chính là bảo vệ và phát huy năng lực sáng tạo của chủ thể. Thiếu nghệ nhân, nguồn vốn văn hóa sẽ khó vận hành, di sản khi đó chỉ còn là hình thức, có nguy cơ mất dần theo thời gian.
Vốn văn hóa ở trạng thái khách thể (vốn khách thể)
Vốn khách thể tồn tại dưới dạng các thực thể hữu hình ngoài chủ thể di sản. Đây là quá trình vật chất hóa các ý tưởng, quan niệm thẩm mỹ và giá trị tinh thần thành các đối tượng khách quan. Trong NTTDDG, nguồn vốn này bao gồm toàn bộ hệ thống các công cụ biểu đạt và không gian vật chất hỗ trợ quá trình thực hành di sản. Nó được biểu hiện qua nhạc cụ, đạo cụ và phục trang đặc trưng, như chiếc đàn nhị và sênh cổ trong hát xẩm; những bộ cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên; các quân rối gỗ được chạm khắc, sơn thếp cầu kỳ của các phường rối. Đó không chỉ là công cụ trình diễn nghệ thuật, mà còn là biểu tượng văn hóa, lịch sử và thẩm mỹ của cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Hạ tầng và không gian trình diễn cũng là một phần vốn khách thể. Đó là đình làng, đền, miếu, rạp hát, thủy đình, lễ hội, đồi núi, sông hồ... Những không gian này mang tính biểu tượng cao, là bối cảnh phù hợp để di sản được thực hành đúng nghĩa. Hát ca trù ở đình làng, diễn rối nước tại thủy đình không chỉ là hoạt động giải trí, mà còn kết nối con người, quá khứ và hiện tại thông qua các vật thể biểu tượng.
Vốn khách thể chỉ thực sự được tối ưu hóa khi có sự vận hành của con người. Bourdieu cho rằng, các thực thể hữu hình chỉ là vật chất tĩnh, nếu chủ thể không có đủ năng lực vận hành và giải mã chúng. Một cây đàn quý, một bộ cồng chiêng sẽ không phát huy được giá trị, nếu không có nghệ nhân đủ tài năng và tri thức để trình diễn. Do đó, đầu tư vào cơ sở vật chất, hạ tầng (vốn khách thể) phải đi đôi với đào tạo con người (vốn hiện thân) tránh lãng phí các nguồn lực.
Vốn văn hóa ở trạng thái thiết chế (vốn thiết chế)
Vốn thiết chế được biểu hiện qua sự thừa nhận chính thức về mặt pháp lý và xã hội thông qua các danh hiệu, công nhận, chứng nhận của Nhà nước và các tổ chức quốc tế đối với NTTDDG. Ca trù, quan họ hay hội Gióng được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại không chỉ là một danh hiệu tinh thần, mà là sự xác lập giá trị của loại hình nghệ thuật đó trên bản đồ văn hóa thế giới. Danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú là minh chứng cho sự thừa nhận của xã hội và nhà nước đối với trình độ và vị thế của nghệ nhân. Như vậy, ưu thế của di sản đã được chuyển hóa thành uy tín xã hội và thế mạnh của biểu tượng.
Vốn thiết chế được tạo ra bởi quyền lực mềm của biểu tượng. Nó chuẩn hóa giá trị văn hóa, biến giá trị tinh thần, biểu tượng ở trạng thái hiện thân thành những giá trị có thể định lượng và được công nhận một cách khách quan. Từ đây, vốn văn hóa được chuyển hóa thành giá trị kinh tế. Khi đã được phong tặng hoặc ghi danh, nghệ nhân cùng di sản sẽ dễ dàng tiếp cận và thu hút được vốn đầu tư, quỹ hỗ trợ, sự quan tâm của công chúng.
Vốn thiết chế còn có vai trò định vị và phát huy thương hiệu địa phương. Sự công nhận từ các tổ chức quốc tế giúp nâng tầm nghệ thuật dân gian từ phạm vi sinh hoạt làng xã thành tài sản có giá trị thương hiệu toàn cầu, giúp NTTDDG trở thành nguồn lực kinh tế bền vững cho cộng đồng và xã hội.
Mối quan hệ và sự chuyển đổi giữa các hình thái vốn
Các hình thái vốn luôn gắn bó và chuyển hóa lẫn nhau. Vốn hiện thân của nghệ nhân là nền tảng để vận hành vốn khách thể. Vốn thiết chế và sự vinh danh tạo động lực cho các nghệ nhân tiếp tục bồi đắp vốn hiện thân góp phần gìn giữ các không gian trình diễn của vốn khách thể. Việc nhận diện rõ các hình thái vốn trong NTTDDG giúp chúng ta có những quyết sách phù hợp: vừa giữ gìn các nhạc cụ cổ hay trùng tu các đình, đền trong hình thái vốn khách thể, vừa chú trọng truyền nghề cho thế hệ nghệ nhân kế cận của hình thái vốn hiện thân và xây dựng hệ thống chính sách, sự vinh danh kịp thời trong vốn thiết chế. Khi cả ba nguồn vốn này được vận hành, đầu tư đồng bộ thì giá trị NNTDDG mới có thể chuyển hóa hiệu quả thành các sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh cao trong nền kinh tế sáng tạo.
Cơ chế chuyển hóa và sản xuất vốn văn hóa trong quy trình CNVH
Việc vận hành các hình thái vốn NTTDDG trong các ngành CNVH vừa là giải pháp kinh tế vừa là phương thức củng cố và phát huy sức sống cho di sản. Quy trình này cần có các cơ chế đặc thù như sau:
Sáng tạo và chuyển hóa vốn văn hóa thành sản phẩm văn hóa
Đây là cơ chế khai thác, chuyển hóa các yếu tố đặc sắc, nổi trội từ vốn hiện thân và vốn khách thể để sáng tạo những sản phẩm văn hóa phù hợp với nhu cầu xã hội đương đại với yêu cầu tiên quyết là không làm ảnh hưởng đến giá trị bản sắc cốt lõi (Từ Thị Loan, 2023). Ví dụ các show thực cảnh như Tinh hoa Bắc Bộ, Ký ức Hội An... đã huy động vốn hiện thân từ tài năng của nghệ nhân kết hợp với công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm CNVH có sức cạnh tranh trên thị trường nghệ thuật biểu diễn và du lịch.
Gia tăng giá trị thông qua biểu tượng
Thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay không chỉ mua và thưởng thức các sản phẩm mà còn muốn tìm hiểu những câu chuyện văn hóa, giá trị thương hiệu và ý nghĩa của chúng. Vốn thiết chế đóng vai trò là động lực để định vị giá trị sản phẩm. Một buổi biểu diễn nghệ thuật dân gian gắn với di sản văn hóa thế giới hoặc di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại sẽ có khả năng thu hút công chúng, tạo ra doanh thu cao hơn nhiều so với thông thường. Sự công nhận của các tổ chức uy tín, của quốc gia và thế giới đối với di sản cho phép chuyển hóa giá trị tinh thần thành giá trị kinh tế qua các dịch vụ đi kèm như du lịch văn hóa, giáo dục di sản và quà tặng lưu niệm.
Tái sản xuất văn hóa bền vững và lưu thông vốn
Một chu trình hoàn chỉnh của CNVH phải đảm bảo tái đầu tư cho chính nguồn gốc sinh ra nó. Theo GS, TS Từ Thị Loan (2023) vốn văn hóa ở Việt Nam phong phú, giàu tiềm năng, nhưng cần một cơ chế tái sản xuất hài hòa, bền vững để tránh làm tổn hại di sản và các giá trị văn hóa dân tộc.
Doanh thu từ sản phẩm văn hóa cần được tái đầu tư để bồi đắp vốn hiện thân như hỗ trợ truyền dạy cho thế hệ trẻ, cải thiện đời sống nghệ nhân...; bảo tồn vốn khách thể như tu bổ không gian trình diễn, phục dựng vở diễn cổ, sưu tầm bài bản cổ... Bên cạnh đó, cần ứng dụng công nghệ số để khách thể hóa vốn văn hóa dưới dạng dữ liệu số, tăng khả năng lưu thông trên thị trường quốc tế và bảo tồn di sản. Khi vốn hiện thân được đầu tư, chất lượng sản phẩm văn hóa nâng lên, từ đó vốn thiết chế phát triển. Sự chuyển hóa và lưu thông linh hoạt các dạng vốn giúp NTTDDG tự chủ trong nền kinh tế văn hóa thay vì phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Khi đó, NTTDDG sẽ thoát khỏi tình trạng bị động và phụ thuộc vào ngân sách để tự “nuôi sống mình”.
Những vấn đề đặt ra đối với vốn văn hóa NTTDDG
Thứ nhất, là sự gián đoạn trong quá trình tái sản xuất vốn hiện thân. Việc tích lũy vốn này gặp khó khăn khi các nghệ nhân cao tuổi dần khuất núi, trong khi lớp kế cận bị suy giảm do lợi ích kinh tế chưa đảm bảo. Vì vậy, vốn hiện thân không được tái sản xuất liên tục, di sản thiếu nguồn nhân lực trẻ tiếp nối.
Thứ hai, là mâu thuẫn giữa vốn khách thể và hiệu quả kinh tế. NTTDDG có nguồn vốn khách thể lớn nhưng chưa được phát huy xứng tầm. Nhiều không gian trình diễn cổ truyền chưa được chuyển hóa thành các không gian sáng tạo tương xứng. Việc khai thác vốn khách thể trong du lịch thường dừng lại ở mức độ tham quan bề nổi, chưa tạo ra được các chuỗi giá trị kinh tế cao. Sự thiếu hụt các cơ chế hỗ trợ khiến vốn vật chất này trở thành “gánh nặng” bảo tồn.
Thứ ba, là khoảng cách giữa vốn thiết chế và năng lực thị trường. NTTDDG đã xác lập được vốn thiết chế thông qua các danh hiệu của UNESCO và Nhà nước trao tặng, nhưng việc chuyển hóa nguồn vốn biểu tượng này sang giá trị kinh tế còn hạn chế. Nhiều di sản sau khi được ghi danh vẫn chưa có chiến lược quản trị thương hiệu phù hợp để biến uy tín quốc tế thành nguồn thu cho nghệ nhân và cộng đồng.
Một số giải pháp
Một là, đầu tư trọng điểm vào vốn hiện thân, lấy con người là trung tâm, quyết định sự phát triển của NTTDDG. Nhà nước cần chuyển từ hỗ trợ sang đầu tư phát triển nguồn vốn bền vững: xây dựng hệ thống lương, thưởng, bảo hiểm đặc thù cho nghệ nhân nắm giữ di sản, giúp họ yên tâm tái sản xuất vốn hiện thân thông qua việc truyền dạy và trình diễn. Tiếp tục đưa các chương trình trải nghiệm NTTDDG vào hệ thống giáo dục để bồi đắp vốn văn hóa cho thế hệ khách hàng tiềm năng trong tương lai.
Hai là, hiện đại hóa vốn khách thể bằng công nghệ số. Đẩy mạnh số hóa di sản, xây dựng thư viện số về làn điệu, kỹ thuật trình diễn... giúp bảo tồn di sản bền vững và tạo nguồn nguyên liệu cho các ngành thiết kế sáng tạo, âm nhạc hiện đại và game. Thể nghiệm chuyển đổi các nhà hát truyền thống, di tích thành những trung tâm trải nghiệm văn hóa đa phương tiện, kết hợp với công nghệ ánh sáng, thực tế ảo để thu hút công chúng trẻ tuổi.
Ba là, vận hành vốn thiết chế theo tư duy quản trị thương hiệu. Danh hiệu không phải là đích đến mà là điểm khởi đầu của quá trình khai thác kinh tế văn hóa. Cần áp dụng các mô hình quản trị kinh doanh để định vị thương hiệu NTTDDG đối với du lịch trong và ngoài nước. Sử dụng sức mạnh mềm của biểu tượng để tạo ra sản phẩm cao cấp, quà tặng có giá trị văn hóa cao. Tăng cường vai trò của các doanh nghiệp văn hóa, nghệ sĩ sáng tạo, quảng cáo... làm cầu nối đưa vốn văn hóa vào thị trường.
Bốn là, hoàn thiện chính sách và pháp luật. Chính sách của Nhà nước cũng đóng vai trò như nguồn vốn để đảm bảo vận hành có hiệu quả các loại vốn khác. Cần ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào nghệ thuật dân gian, tạo điều kiện để vốn tư nhân đầu tư mạnh hơn cho di sản. Nhà nước cần sớm ban hành Luật Nghệ thuật biểu diễn nhằm bảo vệ quyền lợi của nghệ nhân và cộng đồng sở hữu di sản, bảo đảm được hưởng lợi ích công bằng từ khai thác vốn văn hóa của họ để tạo ra giá trị kinh tế.
4. Kết luận
Nghệ thuật trình diễn dân gian Việt Nam là kho tàng vốn văn hóa giàu bản sắc. Nếu chỉ tiếp cận di sản theo tư duy bảo tồn hành chính sẽ biến những giá trị đầy tiềm năng này “đứng im” trong đời sống đương đại. Lý thuyết của Pierre Bourdieu cho thấy di sản chỉ thực sự sống khi được vận hành như một nguồn vốn năng động. Việc nhận diện rõ các trạng thái vốn cùng các cơ chế chuyển hóa giữa chúng chính là điều kiện tiên quyết để phát huy di sản. Trong đó, sự kết hợp giữa vốn hiện thân, sự hỗ trợ của công nghệ số của vốn khách thể và uy tín biểu tượng từ vốn thiết chế chính là phương thức cơ bản để tạo ra giá trị mới. Khi nguồn vốn văn hóa được vận hành hiệu quả, NTTDDG thực sự trở thành nguồn lực phát triển kinh tế, xã hội bền vững.
____________________
Tài liệu tham khảo
1. Thủ tướng Chính phủ. (2025). Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Bourdieu, Pierre. (1977). Reproduction in Education, Society and Culture (Tái sản xuất trong giáo dục, xã hội và văn hóa). Sage Publications.
3. Bourdieu, Pierre. (1986). The forms of capital (Các hình thức của vốn). In Richardson, J. G. (Ed.), Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education. Greenwood Press.
4. Bùi Minh Hào. (2021). Vốn văn hóa và tiếp cận vốn văn hóa trong nghiên cứu phát triển. Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư. Số 1(69).
5. Đào Đình Thưởng. (2011). Khái niệm và đặc trưng cơ bản của vốn văn hóa. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam. Số 5.
6. Phan Văn Tú. (2022). Mối quan hệ giữa vốn văn hóa và công nghiệp văn hóa. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Số 491.
7. Tô Ngọc Thanh. (2007). Ghi chép về văn hóa và âm nhạc. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
8. Trần Đình Hượu. (1994). Về vấn đề tìm đặc sắc văn hóa dân tộc. Trong Đến hiện đại từ truyền thống. Nhà xuất bản Văn hóa.
9. Từ Thị Loan. (2023). Vốn văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa ở Việt Nam. Tạp chí Văn hóa học. Số 1(65).
Ngày Tòa soạn nhận bài: 14/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 20/5/2026; Ngày duyệt bài: 23/5/2026.
Ths NGUYỄN VĂN THÙY
Nguồn: Tạp chí VHNT số 645, tháng 6-2026