Nhà văn Nguyễn Trọng Tân (2).jpg

1.

Nguyễn Trọng Tân tâm sự: “Năm 17 tuổi tôi viết đơn xin nhập ngũ. Rút cái mớ giấy tờ trong ống nứa trên gác bếp của bố, thấy mình có ba giấy khai sinh: Năm 1948, năm 1949 và năm 1950. Tôi hỏi Bầm, Bầm tôi bảo hỏi bố mày ấy. Bố tôi giải thích thời chống Pháp làng tôi nằm trong tầm đạn pháo giặc. Mooc chi ê, đại bác bắn qua hàng tuần. Bắn như thằng say, như lũ điên, chả ra quy luật nào. Rồi chúng ào sang càn quét, đốt làng. Chuyện học hành của chúng tôi vì thế chẳng đâu vào đâu. Mọi nhà đều khai sinh cho con tụt vài ba năm để sau này còn tuổi đi học. Phân vân một lúc tôi nhặt tờ khai sinh giữa (1949) điền vào hồ sơ. Bầm tôi mù chữ. Bà không quan tâm đến mớ giấy khai sinh của bố tôi. Mọi chuyện trên đời bà ghi hết trong đầu. Trước ngày tôi lên đường bà bảo: “Tao đẻ mày năm Hợi, cùng với thằng cu H, cái đĩ D…” con bà nọ, bà kia. Vậy là tôi thêm một năm sinh nữa. Đinh Hợi 1947”

Nguyễn Trọng Tân có một tuổi thơ không yên ả. Sự gập ghềnh ấy còn theo ông suốt những năm tháng sau này. Sau gần 11 năm phục vụ quân đội, chiến đấu ở chiến trường B, C, năm 1976, Nguyễn Trọng Tân ra quân, thi đỗ vào khoa Ngữ Văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tốt nghiệp ông được giữ lại trường làm giảng viên đại học. Năm 1984, ông chuyển sang làm báo. Nghiệp báo lênh đênh từ Thư ký tòa soạn Báo Người Hà Nội, Phó Tổng biên tập phụ trách Báo Tuổi trẻ Thủ đô, Phó Tổng biên tập Báo Thanh tra, Tổng biên tập Báo Dân tộc và Phát triển, Phó trưởng ban Thường trực Ban Sáng tác, Quyền Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài, Hội Nhà văn Việt Nam. Cứ thế, phận “thiên di” đã in sâu vào số phận ông.

Ông đã được một số giải thưởng: Giải B (không có giải A) của Liên hiệp VHNT VN cho tập truyện ngắn Đò chiều (1996); Giải thưởng Quốc tế Sông Mê Kông cho tập ký Ký ức không yên, năm 2014; Giải Nhì cho tiểu thuyết Thư về quá khứ của Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2017; Giải nhất cho tiểu thuyết Thiên thu huyết lệ của Viện Ngôn ngữ và Văn hóa Phương Đông, năm 2024; Giải ba của Bộ Quốc phòng cho tiểu thuyết Khúc ca người lính, năm 2024 và Giải nhì (không có giải nhất) cho tiểu thuyết Phù sa máu tham dự cuộc thi tiểu thuyết của Thời báo Văn học nghệ thuật năm 2025.

2.

Hành trình văn chương của Nguyễn Trọng Tân có thể chia làm ba chặng rõ rệt.

Chặng đầu (những năm 1980-1990) là những tập truyện ngắn và tiểu thuyết gây chấn động như: Chuyện buồn thời con gái, Công ty điếu văn, Trang gia phả viết bằng vôi, Quyền lực xám, Môt thời để nhớ, Thương nhau... Ở giai đoạn này, độc giả thấy một Nguyễn Trọng Tân sắc sảo, trần trụi và đầy tính phản tỉnh. Ông viết về những điều mắt thấy tai nghe, về những bất công, những mất mát của con người trong thời hậu chiến và những biến động xã hội.

Nhà văn Ma Văn Kháng nhận xét: “Trang gia phả viết bằng vôi một sáng tác tiêu biểu của nhà văn Nguyễn Trọng Tân, ở những năm tám mươi thế kỷ trước, với những truyện ngắn sắc sảo, tinh tế cả cái bi, cái hài đều được đẩy đến tận cùng. Dồn nén nhưng từ tốn, câu chuyện về cái ác được kể lại mỗi lúc một sôi nổi, quyết liệt cho đến cái kết thúc bi thảm có tính quy luật ác giả ác báo mang mầu sắc kỳ ảo; đọc xong thấy kinh sợ và hoang mang, một hiệu quả tâm lý của những truyện ngắn chấn động nhân tâm và quỷ thần”.

3d738817 04ba 4391 83aa 9b40b5a231ca (2).jpg

Chặng hai (từ 2000 đến 2015), ông viết nhiều bút ký, chân dung văn học. Đây là thời gian ông vẫn phải “gánh gồng” các tờ báo. Tác phẩm ông cho xuất bản gồm: Ký ức không yên, Mười năm, Duyên nợ anh hùng, Hoa đất, Truyện ngắn Nguyễn Trọng Tân… Bề dày làm báo, đi nhiều biết nhiều, cũng lận đận nhiều giúp cho ngòi bút Nguyễn Trọng Tân mang nội lực sung mãn.

Chặng ba (2016 đến nay), chặng đặc biệt nhất trong cuộc đời cầm bút của Nguyễn Trọng Tân. Tính theo lịch âm, ông tròn 70 tuổi. Mở đầu cho chặng này ông cho xuất bản tiểu thuyết Thư về quá khứ dày 500 trang. Cuốn tiểu thuyết ấp ủ suốt 18 năm trời, viết đi viết lại, sửa chữa, xe bỏ rồi lại viết. Thư về quá khứ là bức tranh về số phận một làng quê, số phận những người lính, những đứa con của làng Phù dũng cảm trên chiến trường nhưng lại lạc lõng, bế tắc khi trở về cuộc sống đời thường với những cạm bẫy, những lỡ lầm của lịch sử.

Quả thực, dù viết về quá khứ xa xưa, văn của Nguyễn Trọng Tân không bao giờ khô cứng. Ông kể chuyện như một người đang sống với câu chuyện ấy, hồn nhiên và mãnh liệt. Có lúc ông “hóa thân” vào một nhân vật, có lúc ông lại là “người kể chuyện toàn tri” với những bình luận sắc lạnh. Chất giọng ấy tạo nên một phong cách rất riêng: vừa chân quê, mộc mạc như chính con người làng Phù, vừa tinh tế, sâu sắc của một người đã “tắm” mình trong văn chương và lịch sử.

Sau Thư về quá khứ là một chặng “lên đồng” của Nguyễn Trọng Tân. Ông viết với tốc độ đáng kinh ngạc. Ông thổ lộ rằng sẽ viết 7 cuốn tiểu thuyết sau tuổi 70, nhưng gần như năm nào cũng hoàn thành một tác phẩm: Hình bóng thân quen (2016); Khắc khoải mùa sim trổ hoa (2017); Khoảng lặng giữa trang văn (2018); Đa đoan cõi tạm (2020); Thiên mệnh (2021); Thiên thu huyết lệ (2022), Phù sa máu (2023); Khúc ca người lính (2024), Cuộc đụng đầu lịch sử (2025) và nay (2026) đang viết tiểu thuyết lịch sử Phật Hoàng Trần Nhân Tông; đồng thời chắp bút cuốn tùy văn Mai này ai nhớ đến ai kể về cuộc đời làm báo và viết văn của mình.

Cuộc lên đồng chưa hạ nhiệt khi ông đã chớm tuổi 80.

Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét về Thiên mệnh trong tác phẩm Ám ảnh chữ của ông: “Với Thiên mệnh, Nguyễn Trọng Tân không chỉ thành công trong việc xây dựng nhân vật trung tâm và các nhân vật chính diện mà còn rọi con mắt tinh tường của tiểu thuyết gia vào việc phơi bày các nhân vật phản diện, thậm chí cả “khoảng tối dưới chân đèn”. Chính ưu điểm này làm cho cuốn tiểu thuyết xuất sắc này trở thành một tổng phổ nghệ thuật có giá trị phức hợp đa thanh. Những trang anh viết về sự tranh dành quyền lực trong nội bộ vua Lê, chúa Trịnh hấp dẫn đến ghê rợn… Khép lại trang cuối của Thiên mệnh, tôi tần ngần tự hỏi: Đây là lịch sử hay tài năng?... Những tác phẩm hay xưa nay đều thế cả. Trong văn chương đương đại, nhắc đến những tên tuổi sáng giá nhất trong làng tiểu thuyết lịch sử chắc chắn người ta không thể quên tên tuổi Nguyễn Trọng Tân”.

5419a327 810d 4d77 8e5c 7794e11f51c1 (2).jpg

3.

Tôi đặc biệt ấn tượng với một chi tiết mà nhà văn Nguyễn Trọng Tân chia sẻ. Trong lúc viết Thiên mệnh và Thiên thu huyết lệ, khi tư liệu lịch sử quá ít ỏi, sai lạc, ông đã nhiều lần đem bản thảo đến thắp hương trước tượng Vua Quang Trung, trước đền thờ Trạng nguyên Lê Văn Thịnh, trước tượng Vua Lý Nhân Tông ở Đền Đô. Ông bảo: “Chỉ là lòng thành kính chứ không mê tín. Quả thật, đến bây giờ đôi lúc tôi vẫn tự hỏi sao mình viết được như thế. Cứ như có ai cầm tay mình viết hộ.” Câu chuyện ấy cho thấy một sự kết nối tâm linh kỳ lạ giữa người nghệ sĩ với những bậc tiền nhân. Với ông, viết tiểu thuyết lịch sử không chỉ là một cuộc chơi chữ, mà là một sứ mệnh thiêng liêng đưa “quá khứ” đến với bạn đọc thế hệ sau một cách dễ hiểu nhất, gần với sự thật nhất. Nguyễn Trọng Tân dành tình cảm đặc biệt cho các nhân vật bất hạnh, oan khiên như Lê Văn Thịnh trong Thiên thu huyết lệ; chị Thứ Câm trong Thư về quá khứ hay Nguyễn Thu Ninh trong Phù sa máu… Ông đau cùng nỗi đau của họ, chiêu tuyết cho oan khuất của họ.

Trong mắt đồng nghiệp, Nguyễn Trọng Tân là một người “đa đoan” nhưng chân thành. Hồi ức về những cuộc gặp mặt với các bạn văn ở TP Hồ Chí Minh, với sự kết nối của nhà thơ Phạm Trung Tín, cho thấy một Nguyễn Trọng Tân hào sảng, tếu táo, cái vẻ ngoài khô khan vụt biến mất, nhường chỗ cho một tâm hồn nghệ sĩ phóng khoáng, yêu đời.

Nhà văn Nguyễn Trọng Tân là một sự kết hợp đầy cung bậc: vừa thực tế của một nhà báo kỳ cựu, vừa mộng mơ của một đứa trẻ làng Phù; vừa sắc lạnh hóm hỉnh của một người từng trải, vừa đa cảm đến tận cùng trước những số phận bất hạnh.

4.

Thật khó tin, nhưng sự thật là ở độ tuổi “bát thập” Nguyễn Trọng Tân vẫn như ở giai đoạn sung sức nhất của sự nghiệp. Ông quên những chức vụ, những giải thưởng chỉ hướng mọi đam mê sức lực của mình vào con chữ. Niềm vui lớn nhất được cống hiến, được “trả nợ” văn chương và với những số phận mà ông mang nợ trong lòng.

Trong lần trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Xuân Thủy về cuốn Phù sa máu, Nguyễn Trọng Tân đã khẳng khái nói về “tính nhạy cảm” của đề tài: “Tôi viết về Cải cách ruộng đất không phải để nói về sự đúng sai của cuộc vận động xã hội long trời lở đất này, mà là kể về số phận làng Phù, số phận của người làng trong đó có mẹ tôi.”

Hóa ra, mọi sự cầm bút, dù lớn lao đến đâu, với ông, cuối cùng cũng xuất phát từ một tình thương rất đỗi đời thường. Tình thương ấy là cội nguồn của sự đồng cảm, của lòng trắc ẩn, và của chính những giá trị nhân văn.

LÊ HUY HÒA

Nguồn: Tạp chí VHNT số 653, tháng 8/2026