
Nghệ nhân nặng lòng với gốm
Chúng tôi tìm đến nhà bà Ma Li (71 tuổi), nghệ nhân làm gốm lâu năm của buôn. Ngôi nhà nằm trên con đường đất, phía trước có chiếc bảng nhỏ “Làng gốm” khắc trên tấm gỗ bạc màu theo năm tháng, nếu không để ý kỹ sẽ khó nhận ra.
Khi chúng tôi đến, bà Ma Li đang ra sau nhà lấy thuốc rượu cho bà Ma Chê (68 tuổi), cùng làm gốm trong buôn. Mới vài hôm trước, hai bà lên núi lấy đất, không may bị ngã, “gùi đất thì nặng mà người mình thì nhỏ nên nó đè lên”, bà Ma Li kể về “tai nạn nghề nghiệp” bằng giọng điệu vui vẻ hài hước. Câu chuyện làm gốm được mở ra, bắt đầu từ việc lấy đất trên núi.
Chỉ có đất sét trên núi Pnum T’rom Ủ mới làm ra gốm đẹp, bền, đúng chất lượng. Đất ở nơi khác lúc nung, gốm dễ bị nứt, vỡ. Bà Ma Li kể thuở nghề gốm còn hưng thịnh cách đây nhiều chục năm, thời mà mọi vật dụng sinh hoạt từ bếp, xoong nồi, ấm bình đều làm bằng gốm, mỗi lần đi lấy đất như đi hội, cả làng cùng rủ nhau đi. Trước hết phải làm lễ cúng đất, đàn bà chọn đất, đào đất cho đàn ông mang về. Theo tín ngưỡng, đi lấy đất cơ thể phải sạch sẽ, tâm hồn thanh thản mới làm ra gốm đẹp. Đất sét đem về nhào cho mịn, ủ vài ngày rồi đem phơi. Xưa chưa có cối giã, đàn ông thêm nhiệm vụ đập đất cho tơi để đàn bà sàng sẩy chọn đất tinh, rưới nước cho dẻo rồi đem nặn tạo hình.
Điểm độc đáo của gốm Churu là nặn gốm không dùng bàn xoay, cũng không có nhiều dụng cụ, từ đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ mà thành. Gốm Churu không cầu kỳ trong kiểu dáng, không có nước men bóng bẩy, không nhiều hoa văn trang trí, đơn sơ như bản chất mộc mạc của người đồng bào. Thế nhưng, để làm nên một vật dụng từ gốm, tốn khá nhiều thời gian và công sức.
Bà Ma Li vừa nặn chiếc gọpró (nồi nhỏ) để trên bục gỗ vừa giải thích. Đôi bàn tay gân guốc miết vào thành gọ một cách thuần thục, vừa miết bà vừa đi vòng tròn xung quanh để nắn cho đều. Sau một lúc, chiếc gọpró thành hình, trơn nhẵn. Mỗi chiếc gọ phải làm từng phần, để qua 1 ngày cho khô mới nối thân đáy lại với nhau, để thêm 1 ngày nữa rồi đánh bóng, sau khi phơi nắng 1 tuần thì đem nung. Kỹ thuật nung quyết định khá nhiều đến chất lượng gốm. Gốm nung ngoài trời bằng củi, xen củi lớn với củi nhỏ để điều chỉnh lửa, lửa lớn quá hoặc cháy nhanh quá sẽ làm hư gốm. Chỉ nung gốm vào buổi tối, bởi ánh nắng hắt vào sẽ làm nổ gốm. Những chiếc gọ nhỏ nung khoảng 3 tiếng, gọ lớn nung suốt đêm mới đủ độ chín. Người làm gốm thức cả đêm châm củi, giữ lửa cho đến khi sản phẩm hoàn thành. Thường vài nhà sẽ nung gốm chung, xếp xen kẽ gọ lớn và gọ nhỏ, vừa tiết kiệm củi vừa hỗ trợ nhau canh lửa cho đạt yêu cầu.
Chỉ vào chiếc gọroồng (to cỡ 1 vòng ôm), bà Ma Li nói giá bán hiện tại khoảng 500 ngàn đồng. Những chiếc gọpró thì có giá từ 70 - 150 ngàn đồng tùy có quai xách hay không. Bà lại hồi tưởng chuyện xưa, gốm Churu trước đây dùng để đổi hàng hóa. Có các đoàn buôn đến từ Lào, Campuchia dùng voi chở chiêng, chóe, vật dụng tới Krănggọ đổi gốm về dùng. Nhiều nhất là đổi giữa các buôn làng. Bên mua thì nhiều mà bên bán chỉ mỗi plei Krănggọ. Người ở các buôn gánh lúa, vải thổ cẩm, heo gà vượt núi đi đổi gốm, cá cược xem bên nào đổi được nhiều hơn. Chiếc gọ nhỏ đổi gùi lúa nhỏ, gọ to đổi cả gánh lúa, 1 con heo con đổi 3 cái gọroồng, đem về 1 nấu nước, 1 hầm xương, 1 nấu cháo… Những ngày ấy, plei Krănggọ nhộn nhịp từ sáng đến khuya. Ban ngày là tiếng đập đất, tiếng sàng sẩy, tiếng bán buôn trao đổi. Đêm đến là tiếng củi tí tách, lửa nung gốm bập bùng rực sáng cả buôn làng…
Kể về cơ duyên với gốm, bà Ma Li bồi hồi nhớ lại tuổi thơ. Mẹ mất lúc bà mới lên 2. Theo tục của người Churu, vợ đi bắt chồng, vợ mất thì chồng về lại nhà mẹ đẻ, không được dắt con theo, cũng không ở lại nhà cũ để chăm con. Bác của bà Ma Li nhận nuôi hai chị em. Vì sợ Yàng không cho nuôi cháu, người bác phải đổi hơn ba mươi con trâu để xin một người con nuôi, trước khi đem hai chị em bà Ma Li về nhà. Ở cùng bác và bà ngoại (mà người Churu gọi là nội), bà Ma Li từ nhỏ đã thích nghịch đất, làm ra nhiều sản phẩm theo trí tưởng tượng trẻ thơ, bị bà mắng cũng không sợ. Năm 12 tuổi, bà Ma Li theo bà đi buôn gốm, đến tuổi 15 - 16 đã làm được những chiếc gọ đẹp mắt và gắn bó với gốm cho đến ngày nay.
Theo dòng chảy thời gian cùng nhịp phát triển, đồ nhựa, đồ inox thay thế gốm thô, bếp ga bếp điện thay cho lò đất, nghề gốm cũng như nhiều nghề truyền thống khác của các tộc người trên đất Tây Nguyên không còn hưng thịnh. Người trong buôn không mặn mà với nghề của tổ tiên. Núi lưa thưa vài người lấy đất, thanh âm của gốm lẩn khuất vào việc đồng áng rẫy nương, đêm leo lét vài bếp lửa nung gốm. Có lúc plei Krănggọ với hơn 400 hộ dân, chỉ còn mỗi nhà bà Ma Li đỏ lửa. Thời điểm đó, bà Ma Li vẫn bền lòng, vẫn miệt mài với gốm, đôi tay vẫn miết vào đất, đôi chân vẫn xoay tròn quanh chiếc gọ. Bà nói bà làm vì quen vì nhớ, để đôi tay linh hoạt, để giữ nghề của dân tộc.

Tín hiệu mới mang niềm vui trở lại
Một tín hiệu vui là vài năm trở lại đây, với xu hướng dùng sản phẩm thân thiện với môi trường, cùng sự phát triển du lịch, gốm mộc Churu được nhiều người biết đến. Bà Ma Li khoe, con gái bà vừa đóng 6 thùng gốm đi Ninh Bình, trước đó đi TP. Hồ Chí Minh. Khoảng sân bên nhà đang phơi mẻ gốm chuẩn bị nung, trong đó có 50 chiếc gọkrơ (tô ăn mì) để giao ra Hà Nội. Bà còn cho chúng tôi xem chiếc đĩa mẫu trên kệ trưng bày, của lô 300 chiếc vừa gửi đi Mũi Né (tỉnh Lâm Đồng).
Là nghệ nhân lâu năm của nghề gốm Churu, ngôi nhà bà đón nhiều du khách trong và ngoài nước tham quan: có đoàn từ Nhật, Úc, Ấn Độ, Pháp; có đoàn từ miền Bắc, miền Trung, tìm hiểu trải nghiệm. Những dịp như vậy, bà Ma Li lại tất bật hướng dẫn khách tự tay làm các vật dụng, đồng thời bán được kha khá cho khách mang về.
Hiện, cả đại gia đình nhà bà đều làm gốm, từ chị ruột là bà Ma Bi, 74 tuổi, đến 12 trong số 13 người con. Các nhà ở gần, hỗ trợ nhau làm. Có nhà xem gốm là nghề chính như bà Ma Li, Ma Bi, có nhà tranh thủ lúc rảnh như Ma Gret, 33 tuổi, con gái áp út. Bà tự hào các đứa cháu của bà đều biết làm gốm. Bà chỉ cho chúng tôi xem những sản phẩm be bé của cô cháu gái Nai Hảo, 18 tuổi, khoe “cháu có cách bán riêng, làm ra đến đâu bán hết đến đó”.
Tâm nguyện của bà Ma Li là khôi phục lại nghề gốm, dù không được như xưa cũng giữ được nghề truyền thống của dân tộc Churu. Trong buôn “ai cũng biết nhưng ít ai chịu làm”. Trước mắt, bà vận động đồng thời hỗ trợ dụng cụ và những thứ cần thiết cho người lớn tuổi quay lại làm gốm, như bà Ma Chê, để tình yêu gốm lan tỏa từ người già đến các bạn trẻ.
Bà cũng mong muốn, chính quyền sẽ tạo điều kiện cho người dân Krănggọ được tiếp tục lấy đất sét trên núi Pnum T’rom Ủ về làm gốm, để những bếp lửa nung gốm lại đỏ rực giữa buôn làng, để gốm Churu có dịp kể câu chuyện về hành trình trăm năm của mình.
Bà Thái Thị Minh Hằng, Trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội xã Quảng Lập, cho biết: “Nhờ những nghệ nhân như bà Ma Li mà nghề gốm Churu được bào tồn. Địa phương cùng phối hợp tổ chức các lớp học về gốm do bà Ma Li hướng dẫn, cho học sinh trải nghiệm làm gốm để các em có thêm sự hiểu biết và niềm đam mê. Đồng thời trưng bày giới thiệu gốm Churu trong các dịp lễ hội để nhiều người biết đến”.

HOÀNG NGỌC THANH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 649, tháng 7-2026