Từ khóa: nghệ thuật trình diễn dân gian; chuyển đổi số báo chí; không gian diễn xướng số; Nghị quyết số 80-NQ/TW; Quyết định số 80/QĐ-TTg.
Abstract: This paper focuses on examining the role of digital journalism in disseminating and preserving the values of folk performing arts in Vietnam within the context of media digital transformation. The core theoretical framework establishes a dialectical relationship among three elements: the digital environment, multi-platform journalism, and the intangible characteristics of folk cultural heritage. Furthermore, the study identifies five systemic challenges currently faced by the press. Based on the situational analysis, the paper proposes strategic solutions through a three-dimensional integration model. Simultaneously, the study recommends promoting development strategies for “Make in Vietnam” technology platforms to internalize content distribution, thereby safeguarding information sovereignty and national media security. This is an inevitable step toward realizing Decision No. 80/QĐ-TTg of the Prime Minister, fostering the sustainable development of traditional arts in the digital era.
Keywords: folk performing arts; press digital transformation; digital performance space; Resolution No. 80-NQ/TW; Decision No. 80/QĐ-TTg.

Một buổi Hát cửa đình- Ảnh tư liệu minh họa: Nguyễn Thành
1. Đặt vấn đề
Nghệ thuật trình diễn dân gian là lõi của di sản văn hóa phi vật thể, gắn liền với không gian làng xã và truyền khẩu trực tiếp. Tuy nhiên, loại hình này đang đứng trước nguy cơ mai một do không gian truyền thống bị thu hẹp, nghệ nhân thưathớt và thị hiếu giới trẻ dịch chuyển sang môi trường số.
Để ngăn chặn sự đứt gãy văn hóa, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chủ trương chiến lược nhằm ứng dụng công nghệ thông tin để số hóa, xây dựng hệ thống dữ liệu di sản trên mạng. Trong đó, báo chí số với ưu thế đa nền tảng và tương tác đa chiều chính là giải pháp then chốt, tạo “cú hích” công nghệ giúp nghệ thuật dân gian vượt rào cản thời gian, địa lý để hồi sinh mạnh mẽ.
Việc tái cấu trúc không gian diễn xướng vật lý thành “sân khấu số đại chúng” thông qua các định dạng như Video Longform, Podcast, Livestreaming hay công nghệ thực tế ảo VR/ AR đã và đang mở ra những cơ hội mới. Qua đó, kích hoạt cơ chế “công chúng chủ động”, chuyển dịch từ “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn động” để di sản sống và thở trong dòng chảy đương đại. Mặc dù xu thế chuyển đổi số báo chí đang diễn ra sôi động, việc vận dụng kỹ thuật - công nghệ để lan tỏa văn hóa vẫn đối mặt với hàng loạt thách thức mang tính hệ thống: sự chênh lệch năng lực công nghệ giữa các tòa soạn, tư duy e ngại đổi mới của đội ngũ làm báo, sự thiếu hụt nguồn lực tài chính, lỗ hổng bảo vệ bản quyền số trong nghệ thuật dân gian và cái bẫy lệ thuộc thuật toán Big Tech nước ngoài. Điều này đặt ra yêu cầu phải có các nghiên cứu nghiêm túc nhằm nhận diện cơ hội, thách thức và đề xuất mô hình giải pháp phù hợp.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành (Báo chí học, Truyền thông đại chúng và Văn hóa học). Nghiên cứu thiết lập trong mối quan hệ biện chứng giữa ba thành tố: môi trường số, hạ tầng kỹ thuật, công nghệ báo chí hiện đại (CMS hội tụ, Big Data, AI, thuật toán phân phối) và phương thức truyền thông đa nền tảng, đa phương tiện, cùng đặc tính phi vật thể của nghệ thuật trình diễn dân gian trong văn hóa phi vật thể (tính bản địa, phương thức truyền khẩu, không gian diễn xướng vật lý). Cách tiếp cận này giúp làm rõ vai trò báo chí số hiện đại tái cấu trúc không gian diễn xướng truyền thống thành “sân khấu số đại chúng” để giải phóng di sản văn hóa khỏi giới hạn vật lý.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu và tổng hợp lý thuyết từ việc kế thừa các khái niệm nền tảng về thành tố kênh truyền trong môi trường hội tụ và tính đa phương tiện trên báo mạng điện tử, cùng các văn bản thể chế như: Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày 9/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 nhằm xác lập yêu cầu lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng dữ liệu di sản văn hóa.
Để minh chứng cho khả năng chuyển đổi định dạng và thực tiễn vận dụng công nghệ báo chí, nghiên cứu lựa chọn và phân tích sâu các lát cắt điển hình tại một số cơ quan báo chí minh chứng cho xu hướng dịch chuyển số tại Việt Nam. Từ phân tích nội dung sản phẩm báo chí theo tiêu chí kỹ thuật: hình thức biểu đạt đa phương tiện, tính tương tác công nghệ dựa trên các công cụ trực quan hóa và các ứng dụng nâng cao thực tế tăng cường (AR), thực tế ảo (VR), dòng thời gian tương tác. Từ đó, tác giả chỉ ra thách thức mang tính hệ thống của báo chí nước nhà trước năng lực công nghệ, đổi mới cách thức làm báo, thiếu hụt nguồn lực chuyên sâu, lệ thuộc thuật toán Big Tech và lỗ hổng bảo vệ bản quyền số trong nghệ thuật trình diễn dân gian của văn hóa Việt Nam.
3. Kết quả và thảo luận
Khung lý luận về mối quan hệ giữa báo chí số và di sản văn hóa phi vật thể
Báo chí số là không gian dựa trên nền tảng kỹ thuật số, mạng Internet, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, nơi các hoạt động giao tiếp, sản xuất, phân phối và tiếp nhận thông tin được diễn ra liên tục, không bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý hay thời gian.
Không gian đó, Báo chí số hay báo chí hiện đại, báo điện tử không còn đóng khung trong các loại hình truyền thống (báo in, phát thanh, truyền hình) mà là sự hội tụ công nghệ, tích hợp đa phương tiện và đa nền tảng. Báo chí số chuyển dịch từ mô hình truyền thông một chiều sang mô hình tương tác đa chiều, cá nhân hóa trải nghiệm độc giả dựa trên các thuật toán phân phối nội dung.
Nguyễn Thị Trường Giang (2021, tr.106) chỉ ra rằng: Đa phương tiện trên báo mạng điện tử là việc sử dụng các loại phương tiện (ngôn ngữ, văn tự và phi văn tự) để thực hiện và tạo nên một sản phẩm báo chí. Một sản phẩm báo chí được coi là đa phương tiện khi nó tích hợp được nhiều trong số các phương tiện truyền tải thông tin sau: văn bản, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, đồ họa, âm thanh, video và các chương trình tương tác.
Nghệ thuật biểu diễn dân gian là một thành tố cốt lõi của di sản văn hóa phi vật thể. Khác với các hình thức nghệ thuật đương đại, nghệ thuật dân gian mang ba đặc tính căn bản: tính bản địa, tính lưu truyền/ truyền khẩu và tính cộng đồng. Nghệ thuật trình diễn dân gian là một bộ phận cốt lõi của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm các loại hình âm nhạc, ca xướng, vũ điệu, sân khấu cổ truyền (như chèo, tuồng, cải lương, ca trù, đờn ca tài tử, múa rối nước...) do cộng đồng nhân dân sáng tạo, lưu truyền qua nhiều thế hệ. Loại hình nghệ thuật này mang tính bản địa cao, gắn liền với không gian diễn xướng văn hóa làng xã và phụ thuộc lớn vào phương thức truyền khẩu, thực hành trực tiếp.
Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030, đặt ra yêu cầu cốt lõi: ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến để xây dựng hệ thống dữ liệu di sản văn hóa có cấu trúc, liên thông và có khả năng quảng bá rộng rãi trên không gian mạng. Để hiện thực hóa mục tiêu này, hệ thống báo chí hiện đại không thể tiếp cận di sản bằng kỹ thuật đơn phương tiện truyền thống. Sự dịch chuyển từ mô hình “đưa tin sự vụ” sang hệ thống “kỹ thuật - công nghệ tòa soạn số” đã trở thành điều kiện tiên quyết.
Trong môi trường truyền thống, nghệ thuật dân gian sống bằng không gian vật lý. Khi bước lên môi trường số của báo chí, không gian này được tái cấu trúc thành không gian ảo thông qua các định dạng như: Video Longform, Podcast âm nhạc dân gian, các chương trình phát sóng trực tiếp, hoặc cao cấp hơn là báo chí ứng dụng thực tế ảo/ thực tế tăng cường. Báo chí số lúc này đóng vai trò như một “sân khấu số đại chúng”, mở rộng biên độ tiếp cận của nghệ thuật dân gian vượt ra khỏi ranh giới địa lý và thời gian.
Xét dưới góc độ lý luận báo chí, chuyển đổi số không thuần túy là việc thay đổi thiết bị công cụ, mà là sự tái định hình toàn bộ chuỗi giá trị: từ quy trình tổ chức sản xuất tại các tòa soạn hội tụ đến phương thức phân phối nội dung đa nền tảng nhằm tối ưu hóa các kênh tiếp cận độc giả. Việc nghiên cứu sâu trục hệ thống “Kênh và Kỹ thuật - Công nghệ” của báo chí hiện đại trong việc lan tỏa nghệ thuật trình diễn dân gian không chỉ làm rõ cách thức “số hóa” cấu trúc di sản, mà còn gợi mở mô hình vận hành tối ưu cho các cơ quan báo chí truyền thông văn hóa hiện nay.
Trong hệ thống báo chí - truyền thông, “kênh” được hiểu là phương tiện truyền dẫn thông tin từ người làm báo tới công chúng. Theo nghĩa rộng, kênh bao gồm cả các loại hình báo chí truyền thống như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử, đồng thời mở rộng sang các nền tảng số như mạng xã hội, ứng dụng di động, nền tảng video (YouTube, TikTok), nền tảng âm thanh (Spotify, Apple Podcast), hệ thống OTT (Netflix, VTVgo). Việc phân biệt rõ giữa loại hình báo chí, thể loại báo chí và nền tảng kênh phân phối là yêu cầu bắt buộc khi tiếp cận nghiên cứu báo chí từ góc nhìn kỹ thuật - công nghệ.
Theo GS Tạ Ngọc Tấn (2001, tr.35-38), thành tố kênh truyền hay phương tiện truyền thông đại chúng được xem xét dưới góc độ là một hệ thống kết hợp giữa hạ tầng kỹ thuật, công nghệ cùng các hình thức tổ chức vật chất cụ thể, đóng vai trò chuyển tải và phân phối thông điệp thông tin từ chủ thể phát đến toàn thể công chúng nhận tin.
Một đặc điểm nổi bật của báo chí hiện đại là mối quan hệ bổ trợ lẫn nhau giữa các loại hình báo chí với kỹ thuật - công nghệ sản xuất và phân phối nội dung. Chính sự kết hợp này đã tạo khả năng chuyển đổi định dạng đa nền tảng, sản xuất một lần, xuất bản nhiều nơi. Như khi viết xong một tác phẩm báo chí có thể được hệ thống CMS tự động chuyển sang format hiển thị phù hợi vớp mobile, đồng thời multimedia dựng lại nội dung thành video dọc đăng TikTok, video ngang cho YouTube, podcast phát trên Spotify, story tóm tắt cho Zalo OA và bản infographics cho Instagram. Như vậy, một nội dung gốc được nhân bản và phân phối qua nhiều kênh, phục vụ các đối tượng công chúng.