
Năm 2026, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội tiếp tục tổ chức tuyển sinh hệ đại học chính quy. Theo kết quả kỳ thi tuyển sinh năm 2026 được nhà trường công bố ngày 26/6, toàn trường có 483 thí sinh đạt theo biên bản xét tuyển; riêng chuyên ngành Diễn viên Chèo có 22 thí sinh đạt [1]. Một năm trước đó, biên bản xét tuyển năm 2025 ghi nhận chuyên ngành Diễn viên Chèo có 16 thí sinh đạt, trong tổng số 463 thí sinh đạt của toàn trường.
Những con số này cần được đọc một cách thận trọng. “Thí sinh đạt” trong kỳ thi tuyển sinh chưa hoàn toàn đồng nhất với số sinh viên nhập học thực tế, vì còn phụ thuộc điều kiện tốt nghiệp THPT, đăng ký nguyện vọng và xác nhận nhập học. Tuy nhiên, trong bối cảnh dữ liệu công khai về từng chuyên ngành nghệ thuật truyền thống còn chưa thật đầy đủ, đây vẫn là chỉ dấu đáng chú ý. Ít nhất, nó cho thấy Chèo không hoàn toàn rơi vào tình trạng trắng đầu vào như một số lo ngại chung về sân khấu truyền thống; trái lại, chuyên ngành này vẫn có tín hiệu khả quan nhất định.
Trao đổi với người viết về mùa tuyển sinh năm nay, NSƯT, TS Bùi Như Lai, Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, cũng cho rằng tình hình tuyển sinh giữa các bộ môn kịch hát dân tộc không đồng đều: Tuồng vẫn là bộ môn rất khó tuyển, trong khi Chèo có tín hiệu tốt hơn nhiều [2]. Nhận định này rất đáng chú ý, bởi nó giúp tránh cách nói giản đơn rằng “sân khấu truyền thống đều khó tuyển như nhau”. Ngay trong cùng hệ kịch hát dân tộc, mỗi loại hình có một tình thế riêng, phụ thuộc vào vùng văn hóa, môi trường biểu diễn, mức độ hiện diện trong đời sống công chúng và khả năng kết nối với người học trẻ.
Chèo có lợi thế nhất định vì còn gắn với nhiều địa phương phía Bắc, với không gian dân ca, lễ hội, phong trào văn nghệ quần chúng và một lượng công chúng truyền thống tương đối rộng. Nhiều người trẻ ở các vùng chèo vẫn có cơ hội nghe, xem, tham gia các trích đoạn, làn điệu hoặc sinh hoạt nghệ thuật dân gian từ sớm. Trong khi đó, Tuồng có hệ thống ước lệ, kỹ thuật biểu diễn, hóa trang, giọng nói, động tác hình thể và mỹ học sân khấu rất đặc thù. Đây là một loại hình có giá trị lớn, nhưng lại khó tiếp cận hơn với công chúng trẻ nếu thiếu hoạt động diễn giải, giới thiệu và tạo môi trường trải nghiệm phù hợp.
Từ câu chuyện Chèo và Tuồng có thể thấy, tuyển sinh chỉ là phần nổi của “tảng băng”. Nghệ thuật sân khấu truyền thống không thể tuyển sinh theo cách thông thường. Người học không chỉ cần kiến thức văn hóa, mà còn cần năng khiếu bẩm sinh, giọng hát, hình thể, khả năng biểu cảm, sự nhạy cảm với âm nhạc, tiết tấu, ngôn ngữ sân khấu và sức bền tập luyện. Để trở thành diễn viên Chèo, Tuồng hay Cải lương, người học phải trải qua quá trình rèn luyện dài hơi: học hát, nói lối, vũ đạo, hình thể, kỹ thuật biểu diễn, phong cách nhân vật, quy phạm thể loại và vốn văn hóa truyền thống.

Chính vì vậy, khi đầu vào của một số chuyên ngành sân khấu truyền thống thưa vắng, không thể chỉ nhìn như một hiện tượng tuyển sinh đơn lẻ. Đó là kết quả của nhiều tầng nguyên nhân: sân khấu truyền thống ít hiện diện trong đời sống giải trí của giới trẻ; cơ hội nghề nghiệp sau tốt nghiệp chưa rộng; thu nhập của nghệ sĩ chưa bảo đảm; môi trường biểu diễn chưa đủ sôi động; nhiều gia đình còn e ngại khi con em lựa chọn một con đường nghề nghiệp nhiều vất vả.
Một dữ liệu công khai khác của Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội cũng cho thấy tính hai mặt của vấn đề. Ở nhóm ngành rộng “Diễn viên sân khấu kịch hát”, bảng khảo sát tình hình việc làm sau tốt nghiệp công bố chỉ tiêu tuyển sinh 45, số sinh viên trúng tuyển nhập học 40, số sinh viên tốt nghiệp 22 và tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm là 100%. Con số này cho thấy, một khi người học đi hết quá trình đào tạo, cơ hội việc làm không phải là khó khăn. Nhưng vấn đề là làm thế nào để người trẻ đủ tin tưởng bước vào con đường ấy, và làm thế nào để sau khi ra trường họ có môi trường nghề nghiệp đủ hấp dẫn để ở lại lâu dài.
Trong sân khấu truyền thống, lớp kế cận có ý nghĩa sống còn. Không có diễn viên trẻ, sân khấu thiếu sức sống hình thể, thiếu giọng hát mới, thiếu gương mặt mới. Không có đạo diễn, tác giả, nhạc sĩ, họa sĩ, biên đạo, nhà nghiên cứu và phê bình trẻ, sân khấu thiếu lực lượng sáng tạo để tiếp tục làm mới mình. Nghệ thuật truyền thống không chỉ cần người “giữ nghề”, mà còn cần người đủ khả năng phát triển nghề trong điều kiện mới.
Báo chí thời gian qua đã nhiều lần phản ánh về sự thiếu hụt lớp kế cận. Báo Văn hóa ngày 10/12/2025 đã trích tham luận đề dẫn của NSND Thanh Trầm, Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật của Hội NSSK Hà Nội tại tọa đàm “Lực lượng trẻ trong sự phát triển sân khấu hiện nay” của Hội Sân khấu Hà Nội diễn ra sáng 10/12/2025: lực lượng trẻ của sân khấu truyền thống đang sụt giảm rõ rệt; theo thống kê năm 2024 của Cục Nghệ thuật biểu diễn, diễn viên từ 20 đến 25 tuổi chỉ chiếm 5,6%, khiến nhiều vở buộc diễn viên lớn tuổi hóa trang vào vai trẻ [3]. Dù số liệu này không tách riêng Chèo, Tuồng hay Cải lương, nó vẫn là một chỉ báo đáng suy nghĩ về nguy cơ già hóa đội ngũ biểu diễn.
Vấn đề hiện nay không chỉ là có bao nhiêu em thi vào trường nghệ thuật, mà là sau bốn năm đào tạo, các em sẽ bước vào một đời sống nghề nghiệp như thế nào. Nếu nhà hát thiếu vở diễn, ít sáng đèn, ít cơ hội phân vai cho diễn viên trẻ, nếu thu nhập không đủ sống, nếu môi trường sáng tạo chưa tạo điều kiện để người trẻ được thử sức, thì tuyển sinh dù có cải thiện nhất thời vẫn khó bền vững.

Vòng luẩn quẩn của sân khấu truyền thống nằm ở chỗ: thiếu người trẻ nên khó đổi mới, nhưng vì chậm đổi mới nên lại càng khó hấp dẫn người trẻ. Khi người trẻ không thấy Chèo, Tuồng, Cải lương trong đời sống thường ngày; không thấy những nghệ sĩ trẻ có đời sống nghề nghiệp đáng mơ ước; không thấy cơ hội sáng tạo và phát triển cá nhân; thì rất khó thuyết phục họ chọn sân khấu truyền thống như một con đường dài hạn.
Nhiều khi, chúng ta nói quá nhiều về đam mê của nghệ sĩ. Đúng là nghệ thuật truyền thống cần đam mê. Không có đam mê, khó ai có thể chịu được những năm tháng luyện tập khắc nghiệt, những buổi diễn thưa khán giả, những chuyến lưu diễn xa, những vai diễn cần cả giọng hát, thân thể và tâm hồn. Nhưng nếu chỉ kêu gọi đam mê mà không cải thiện điều kiện sống và làm nghề, thì lời kêu gọi ấy sẽ dần trở nên thiếu thuyết phục.
Người trẻ hôm nay thực tế hơn. Họ có nhiều lựa chọn nghề nghiệp, nhiều không gian sáng tạo và nhiều cách kiếm sống khác nhau. Nếu theo học sân khấu truyền thống đồng nghĩa với đầu ra bấp bênh, thu nhập thấp, ít cơ hội biểu diễn và ít khả năng phát triển cá nhân, thì sự ngần ngại của họ là điều dễ hiểu. Không thể yêu cầu một thế hệ trẻ sống mãi bằng lòng yêu nghề trong khi con đường nghề nghiệp chưa đủ rõ ràng.
Bởi vậy, muốn có người học, phải có đường nghề. Muốn có đường nghề, phải có nhà hát sống. Muốn nhà hát sống, phải có khán giả, truyền thông, cơ chế đặt hàng, chính sách đãi ngộ và môi trường biểu diễn thường xuyên. Tuyển sinh nghệ thuật truyền thống vì thế không thể tách rời chính sách phát triển sân khấu. Nếu các nhà hát ít sáng đèn, nếu tác phẩm ít được quảng bá, nếu nghệ sĩ khó sống bằng nghề, thì nhà trường dù nỗ lực đến đâu cũng khó tạo ra sức hút bền vững.

Một trong những nguyên nhân nữa khiến tuyển sinh sân khấu truyền thống khó khăn là khoảng cách giữa các loại hình này với công chúng trẻ. Nhiều học sinh phổ thông gần như không có cơ hội tiếp xúc với Chèo, Tuồng, Cải lương một cách hấp dẫn. Các em có thể biết đó là di sản quý, là nghệ thuật truyền thống, là bản sắc dân tộc, nhưng biết bằng khái niệm không đồng nghĩa với yêu thích bằng trải nghiệm.
Vì vậy, muốn có người học sân khấu truyền thống, trước hết phải có người xem sân khấu truyền thống. Muốn có người xem trẻ, cần đưa Chèo, Tuồng, Cải lương vào không gian giáo dục, truyền thông số, du lịch văn hóa, hoạt động ngoại khóa và các chương trình trải nghiệm. Sân khấu học đường không nên chỉ là một buổi biểu diễn minh họa, mà cần trở thành quá trình tiếp xúc lâu dài: giới thiệu trích đoạn, giao lưu với nghệ sĩ, hướng dẫn học sinh thử hát, thử diễn, hiểu nhân vật, hiểu làn điệu và nhận ra vẻ đẹp của nghệ thuật dân tộc.
Với Chèo, có thể tận dụng lợi thế của chất trữ tình, hài hước, gần gũi đời sống dân gian để đưa vào các hoạt động trải nghiệm ở trường học, bảo tàng, không gian văn hóa, lễ hội và du lịch. Với Tuồng, cần có cách giới thiệu khác: giải mã mặt nạ, động tác hình thể, quy phạm nhân vật, nhịp trống, hóa trang, phục trang, tính tượng trưng và vẻ đẹp bi hùng của sân khấu bác học dân tộc. Khi người trẻ hiểu được “mã nghệ thuật” của Tuồng, khoảng cách tiếp nhận sẽ được rút ngắn. Nếu không có hoạt động diễn giải, Tuồng dễ bị nhìn như một nghệ thuật khó, xa và cũ.
Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo cần gắn chặt hơn với nhà hát. Sinh viên sân khấu không thể chỉ học trong lớp. Họ cần được tiếp xúc với sàn diễn, với nghệ sĩ bậc thầy, với khán giả thật. Càng sớm được thực hành trong môi trường biểu diễn, người học càng hiểu rõ nghề và có cơ hội trưởng thành. Ở chiều ngược lại, các nhà hát cũng cần xem sinh viên không chỉ là lực lượng thực tập, mà là nguồn nhân lực tương lai cần được phát hiện, bồi dưỡng và trao cơ hội.
Khủng hoảng lớp kế cận của sân khấu truyền thống không thể giải quyết bằng một giải pháp đơn lẻ. Không thể chỉ tăng chỉ tiêu tuyển sinh, cũng không thể chỉ kêu gọi các nhà hát tự xoay xở. Cần một chiến lược đồng bộ từ phát hiện năng khiếu, đào tạo, thực hành nghề, tuyển dụng, đãi ngộ đến xây dựng công chúng. Rất mừng là vừa qua, ngày 30/6, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 261/2026/NĐ-CP quy định về phụ cấp ưu đãi nghề, chế độ bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn đối với viên chức, người lao động hoạt động đặc thù về nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập nghệ thuật biểu diễn, đơn vị nghệ thuật biểu diễn thuộc lực lượng vũ trang. Điều này sẽ góp phần hỗ trợ các nghệ sĩ, diễn viên, gia tăng tình yêu nghề của các bạn trẻ theo đuổi con đường nghệ thuật.
* * *
Mùa tuyển sinh của các trường nghệ thuật, trong đó có Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội, là dịp để nhìn lại một vấn đề lớn hơn: nhân lực tương lai cho sân khấu truyền thống. Từ số liệu công khai của hai mùa tuyển sinh gần đây, có thể thấy Chèo vẫn có tín hiệu tích cực hơn so với một số lo ngại chung; nhưng từ nhận định của đội ngũ đào tạo, cũng có thể thấy Tuồng đang đối diện khó khăn rõ rệt hơn trong việc tìm người học. Sự khác biệt ấy cho thấy mỗi loại hình cần một chính sách và cách tiếp cận riêng.
Những khó khăn trong tuyển sinh không bắt đầu ở phòng thi năng khiếu, mà bắt đầu từ sự suy giảm sức hấp dẫn của nghề trong đời sống xã hội. Vì vậy, giải pháp cũng không thể chỉ nằm ở tuyển sinh. Cần làm cho sân khấu truyền thống có đời sống biểu diễn thực sự, có khán giả, truyền thông, chính sách đãi ngộ và môi trường sáng tạo cho người trẻ.
Nếu không có “măng” mới, “tre già” dù quý đến đâu cũng không thể gánh mãi cả khu rừng, nhất là với ngành biểu diễn luôn đề cao sức thanh xuân “thầy già, con hát trẻ”. Nhưng nếu biết chăm mầm từ sớm, biết tạo đất cho “măng” mọc, biết để người trẻ nhìn thấy tương lai trong nghệ thuật truyền thống, thì Chèo, Tuồng, Cải lương và các loại hình sân khấu dân tộc khác vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ trong đời sống hôm nay.

_______________
1. https://skda.edu.vn/2026/06/26/ket-qua-ky-thi-tuyen-sinh-dai-hoc-chinh-quy-nam-2026/
2. Trao đổi với Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội ngày 6/6/2026.
3. Thanh Mai, Thiếu lớp kế cận, sân khấu truyền thống đứng trước nguy cơ "hụt hơi", Báo Văn hóa, ngày 10/12/2025.
DIỆP BẢO NGỌC
Nguồn: Tạp chí VHNT số 650, tháng 7-2026