Nhân vật Hề Hoạn trong vở chèo Bài ca giữ nước của tác giả Tào Mạt do NSND Ngọc Viễn thủ vai - Ảnh: Tư liệu
Nhân vật Hề Hoạn trong vở chèo Bài ca giữ nước của tác giả Tào Mạt do NSND Ngọc Viễn thủ vai - Ảnh: Tư liệu

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, văn hóa ngày càng được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam khẳng định quan điểm phát triển văn hóa và con người là nhiệm vụ chiến lược; các giá trị văn hóa phải được thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới. Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam như nền tảng để phát huy sức mạnh văn hóa và con người trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/2026 về Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Kế hoạch này đã cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ của Nghị quyết thành các giải pháp tổ chức thực hiện từ trung ương đến địa phương, tạo cơ sở để các hệ giá trị được hiện thực hóa trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong tiến trình đó, bảo tồn và phát huy nghệ thuật truyền thống theo nghĩa rộng - bao gồm nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật dân gian, các nghề thủ công truyền thống và những hình thức sáng tạo văn hóa kết tinh trong di sản của cộng đồng - cần được nhìn nhận không chỉ dưới góc độ gìn giữ vốn văn hóa dân tộc mà còn là quá trình tổ chức các không gian thực hành hệ giá trị. Chính trong hoạt động sáng tạo, trao truyền và tiếp nhận di sản, các giá trị về lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, nhân văn, trách nhiệm và bản sắc văn hóa được nuôi dưỡng, lan tỏa và chuyển hóa thành những chuẩn mực ứng xử trong đời sống đương đại.

Từ cách tiếp cận này, chúng tôi sẽ phần nào làm rõ vai trò của di sản và nghệ thuật truyền thống với tư cách là không gian thực hành các hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

NSND Phó Thị Kim Đức (ngồi giữa) cùng các con, cháu trong Giáo phường biểu diễn ca trù - Ảnh: GPCT Kim Đức
NSND Phó Thị Kim Đức (ngồi giữa) cùng các con, cháu trong Giáo phường biểu diễn ca trù - Ảnh: GPCT Kim Đức

Nhận diện các hệ giá trị qua lăng kính nghệ thuật truyền thống

Hệ giá trị quốc gia và hệ giá trị văn hóa trong hình thái nghệ thuật

Nghệ thuật truyền thống và diễn xướng dân gian là những không gian biểu đạt sinh động các hệ giá trị quốc gia và văn hóa. Các giá trị hòa bình, độc lập, dân chủ, công bằng và hạnh phúc được chuyển tải tự nhiên qua các hình tượng nghệ thuật và câu chuyện lịch sử.

Tiêu biểu như bộ ba vở chèo Bài ca giữ nước của cố tác giả Tào Mạt (1930 -1993). Qua hình tượng các nhân vật lịch sử thời Lý và mối quan hệ gần gũi giữa vương quyền với nhân dân (thể hiện qua nhân vật Hề Hoạn), tác phẩm không chỉ khắc họa tinh thần bảo vệ chủ quyền, tư tưởng trọng dân, mà còn nuôi dưỡng lối ứng xử nghĩa tình, khoan dung, từ đó bồi đắp lòng nhân ái và niềm tự hào dân tộc.

Song hành với nghệ thuật diễn xướng, không gian kiến trúc và điêu khắc đình làng chính là nơi ngưng tụ chân thực tinh thần cộng đồng và tính dân chủ làng xã của người Việt. Đình làng không chỉ là một công trình vật chất mà là một thiết chế văn hóa gắn kết đậm nét. Qua các đồ án chạm khắc gỗ dân gian sinh động tái hiện cảnh sinh hoạt đời thường, hội hè hay ước vọng no ấm, mỹ thuật truyền thống đã âm thầm nuôi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức tự cường và bản sắc bản địa.

Do đó, việc bảo tồn và phát huy di sản nghệ thuật truyền thống – từ nghệ thuật biểu diễn đến không gian kiến trúc – không đơn thuần là gìn giữ vốn cổ, mà cốt lõi là kiến tạo môi trường “sống” để các hệ giá trị tiếp tục được tiếp nhận, thực hành và lan tỏa trong đời sống đương đại.

Nghệ nhân Nguyễn Viết Lợi (làng nghề Sơn Đồng, Hà Nội) hướng dẫn các con thao tác vẽ hoa văn trên tượng - Ảnh: NVCC
Nghệ nhân Nguyễn Viết Lợi (làng nghề Sơn Đồng, Hà Nội) hướng dẫn các con thao tác vẽ hoa văn trên tượng - Ảnh: NVCC

Hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người trong cơ chế trao truyền nghệ thuật

Bảo tồn nghệ thuật và nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam gắn chặt với cơ chế trao truyền trong gia đình và cộng đồng. Theo định hướng của Quyết định số 1189/QĐ-TTg, gia đình là môi trường đầu tiên hình thành nhân cách, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và truyền nối các giá trị văn hóa giữa các thế hệ. Thực tiễn tại làng gốm Bát Tràng, tranh Đông Hồ, đồ thờ Sơn Đồng, may Trạch Xá, hay các giáo phường ca trù cho thấy cơ chế trao truyền này vẫn được duy trì và phát huy.

Ở các làng nghề truyền thống, việc truyền dạy kỹ thuật chế tác không chỉ nhằm duy trì nghề nghiệp mà còn góp phần bồi đắp tinh thần trách nhiệm, sự gắn bó giữa các thế hệ và ý thức kế thừa di sản tổ nghề. Những giá trị như yêu thương, tôn trọng, hiếu thảo, thủy chung và trách nhiệm được nuôi dưỡng trong chính quá trình học nghề và gìn giữ nghề.

Tương tự, mô hình truyền nghề của Giáo phường Ca trù Kim Đức (Hà Nội) phản ánh rõ vai trò của nghệ nhân trong việc bảo tồn các chuẩn mực nghề nghiệp và gìn giữ giá trị nghệ thuật truyền thống. Sự kiên trì truyền dạy, ý thức gìn giữ lề lối cổ và trách nhiệm với thế hệ kế cận là biểu hiện cụ thể của các phẩm chất đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm và kỷ cương. Trong bối cảnh nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống đứng trước nguy cơ mai một, chính các nghệ nhân là chủ thể trực tiếp duy trì sức sống của di sản và lan tỏa các hệ giá trị trong đời sống cộng đồng.

Nghệ nhân Y Wơn Niê, buôn Wiao A, xã Krông Năng, 
tỉnh Đắk Lắk với nhạc cụ chiêng tre - Ảnh: Thiên Ân
Nghệ nhân Y Wơn Niê, buôn Wiao A, xã Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk với nhạc cụ chiêng tre - Ảnh: Thiên Ân

Mở rộng không gian thực hành và bảo vệ di sản trong kỷ nguyên số

Chuyển đổi số và chiều kích mới của thực hành giá trị

Quyết định số 1189/QĐ-TTg đã xác định ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số là nhiệm vụ then chốt để triển khai các hệ giá trị vào đời sống. Trong lĩnh vực di sản, chuyển đổi số không thuần túy là giải pháp kỹ thuật lưu trữ hay trình diễn (như VR, AI), mà bản chất là mở rộng biên độ không gian thực hành hệ giá trị. Khi người trẻ ứng dụng công nghệ để số hóa kiến trúc cổ, phục dựng trang phục truyền thống hay lan tỏa diễn xướng dân gian trên mạng xã hội, đó chính là hành vi thực hành cụ thể các giá trị “yêu nước”, “trách nhiệm” và “tự cường” thời đại mới. Không gian số biến di sản từ những “hiện vật đóng băng” thành nguồn lực sáng tạo động, giúp bản sắc văn hóa Việt định vị sức mạnh mềm trên bản đồ toàn cầu.

An ninh văn hóa và biểu hiện của giá trị “kỷ cương, trung thực”

Tuy nhiên, môi trường số cũng đặt ra những thách thức trực diện về tình trạng thương mại hóa lệch lạc, xuyên tạc lịch sử và đặc biệt là vấn nạn vi phạm bản quyền đối với các sáng tạo mỹ thuật, nghệ thuật truyền thống. Do đó, định hướng xây dựng Chương trình “An ninh văn hóa không gian mạng giai đoạn 20262035” cần được nhìn nhận như một hành lang cốt lõi để bảo vệ tính toàn vẹn và xác thực của di sản. Dưới lăng kính thực hành hệ giá trị, việc đấu tranh chống lại các biểu hiện “làm giả, làm sai” di sản trên mạng, đồng thời thiết lập cơ chế tôn trọng bản quyền số chính là sự khẳng định các giá trị “trung thực”, “kỷ cương” và “công bằng”. Bảo vệ di sản trên không gian mạng, vì thế, không chỉ là câu chuyện của các giải pháp kỹ thuật, mà là cuộc đấu tranh để giữ gìn sự trong sáng của chuẩn mực con người và hệ giá trị văn hóa quốc gia.

Cán bộ, lãnh đạo Sở VHTT TP Huế thường xuyên mặc áo dài truyền thống, hoạt động này đã tích cực bảo tồn và quảng bá di sản áo dài ở Huế -  
Ảnh: Sở VHTT TP Huế
Cán bộ, lãnh đạo Sở VHTT TP Huế thường xuyên mặc áo dài truyền thống, hoạt động này đã tích cực bảo tồn và quảng bá di sản áo dài ở Huế - Ảnh: Sở VHTT TP Huế

Kiến tạo hành lang thể chế và khơi thông nguồn lực bảo tồn

Việc triển khai đồng bộ các hệ giá trị theo Quyết định số 1189/QĐ-TTg đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước không chỉ đẩy mạnh tuyên truyền mà còn xây dựng cơ chế, chính sách và nguồn lực phù hợp để đưa các hệ giá trị vào đời sống thông qua hoạt động bảo tồn và phát huy di sản.

Cụ thể hóa các hệ giá trị trong thực tiễn

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là cụ thể hóa các hệ giá trị thành các tiêu chí, chuẩn mực phù hợp với từng lĩnh vực và địa phương. Việc lồng ghép các tiêu chí này vào chương trình xây dựng nông thôn mới, phong trào xây dựng đời sống văn hóa hoặc công tác thi đua, khen thưởng sẽ tạo điều kiện để các giá trị văn hóa được thực hành thường xuyên trong cộng đồng.

Đối với lĩnh vực di sản, nghệ thuật, có thể đưa các tiêu chí về duy trì không gian sinh hoạt văn hóa truyền thống, hoạt động của các câu lạc bộ nghệ thuật dân gian hoặc hiệu quả bảo tồn làng nghề vào hệ thống đánh giá ở cơ sở. Đây là cơ sở để gắn công tác bảo tồn với phát triển cộng đồng, thay vì chỉ dừng ở hoạt động gìn giữ đơn thuần.

Phát huy vai trò nêu gương trong thực hành di sản, nghệ thuật

Đưa các hệ giá trị văn hóa vào đời sống đòi hỏi phải xây dựng môi trường văn hóa công vụ, trong đó đội ngũ cán bộ quản lý và những người trực tiếp làm công tác văn hóa giữ vai trò tiên phong, nêu gương trong thực hành và bảo vệ di sản, nghệ thuật truyền thống.

Thực tiễn cho thấy, để công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đạt hiệu quả, người làm văn hóa không chỉ cần tình yêu và sự gắn bó với di sản dân tộc mà còn phải có hiểu biết sâu sắc, thậm chí trực tiếp nghiên cứu, thực hành các loại hình di sản nghệ thuật truyền thống. Khi cán bộ quản lý am hiểu dân ca, không gian diễn xướng hay nghề thủ công truyền thống, việc xây dựng chính sách sẽ bám sát thực tiễn, đồng hành hiệu quả hơn với nghệ nhân và tháo gỡ đúng những vướng mắc trong bảo tồn, trao truyền di sản.

Bên cạnh yêu cầu về năng lực chuyên môn, việc nêu gương thực hành di sản cần được thể chế hóa trong môi trường công vụ. TP Huế là một minh chứng tiêu biểu. Trong khoảng sáu năm qua, việc triển khai Đề án Huế Kinh đô áo dài Việt Nam đã góp phần đưa áo dài trở thành thương hiệu văn hóa của địa phương, tạo sức hút đối với du khách và thúc đẩy các ngành nghề, dịch vụ liên quan phát triển. Kết quả đó có sự đóng góp quan trọng của lãnh đạo và cán bộ ngành văn hóa TP Huế khi tiên phong nghiên cứu, quảng bá và trực tiếp mặc áo dài trong các hoạt động công vụ, qua đó tạo sức lan tỏa trong cộng đồng.

Việc cán bộ, công chức am hiểu, tiên phong nghiên cứu và trực tiếp thực hành di sản không chỉ nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước, xây dựng cơ chế, chính sách sát với thực tiễn mà còn góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia, địa phương. Quan trọng hơn, sự nêu gương của đội ngũ cán bộ giúp di sản hiện diện tự nhiên trong đời sống đương đại, tạo sức lan tỏa bền vững đối với các hệ giá trị văn hóa.

Nữ sinh viên duyên dáng trong trang phục áo tứ thân của phụ nữ Bắc Bộ xưa
Nữ sinh viên duyên dáng trong trang phục áo tứ thân của phụ nữ Bắc Bộ xưa

Trọng đãi “báu vật”

Bảo tồn di sản không chỉ là câu chuyện của thể chế hay công cụ quản lý, mà suy cho cùng là bài toán về con người. Việc khơi thông nguồn lực bảo tồn không nên chỉ dừng ở các phong trào kêu gọi xã hội hóa, hay khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp một cách khô cứng. Dưới góc nhìn thực hành hệ giá trị, việc ưu tiên phân bổ nguồn lực cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chính là biểu hiện sinh động của giá trị “công bằng” và “nhân văn” - những thành tố cốt lõi trong hệ giá trị quốc gia.

Đặc biệt, đối với đội ngũ nghệ nhân - những chủ thể trực tiếp lưu giữ và truyền dạy di sản, chính sách đãi ngộ không thể chỉ dừng ở những khoản hỗ trợ mang tính phong trào. Việc hỗ trợ điều kiện làm nghề, chăm sóc sức khỏe và kiến tạo không gian truyền dạy cho họ phải được nhà nước và cộng đồng nhìn nhận là hành động thực hành giá trị “nghĩa tình” và “trách nhiệm”. Chỉ khi những “báu vật nhân văn sống” được tôn trọng và bảo vệ đúng tầm, sức sống của các loại hình nghệ thuật truyền thống mới được duy trì bền vững trong cộng đồng. Đó cũng là cách thiết thực nhất để khẳng định triết lý: con người luôn là trung tâm, vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là mục tiêu cao nhất của chiến lược phát triển văn hóa.

*  *  *

Di sản và nghệ thuật truyền thống không chỉ là đối tượng cần bảo tồn mà còn là không gian thực hành các hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Thông qua hoạt động sáng tạo, trao truyền và thực hành di sản, các giá trị về lòng yêu nước, tinh thần cộng đồng, trách nhiệm, nhân văn và bản sắc văn hóa được gìn giữ, bồi đắp và lan tỏa trong đời sống xã hội.

Việc triển khai Quyết định số 1189/QĐ-TTg vì vậy cần được gắn với công tác bảo tồn và phát huy di sản theo hướng đồng bộ giữa hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực, huy động nguồn lực xã hội và ứng dụng công nghệ số. Trong đó, chuyển đổi số là phương tiện hỗ trợ mở rộng không gian tiếp cận và thực hành di sản, còn cộng đồng và các nghệ nhân vẫn là chủ thể trung tâm của quá trình bảo tồn và trao truyền các hệ giá trị.

Để các hệ giá trị thực sự đi vào cuộc sống, cần tiếp tục xây dựng môi trường văn hóa thuận lợi, phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng và các thiết chế văn hóa trong thực hành di sản; đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Đây cũng là nền tảng để phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa, góp phần phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số.

_______________

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, 2026.

2. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 1189/QĐ-TTg ngày 2/7/ 2026 ban hành Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam, 2026.

3. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2/8/2007 ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước, 2007.

4. Nguyễn Thị Thanh Nga, “Bài ca giữ nước” của NSND Tào Mạt và những đóng góp cho nghệ thuật chèo Việt Nam, Thời báo Văn học Nghệ thuật, 2025.

5. Đỗ Thị Thắm, Câu cầu kết nối 5 thế hệ ca trù, Tạp chí Heritage, 2023.

6. Xem thêm: Nguyễn Đức Bình, Nhận diện và phát huy giá trị Áo dài truyền thống trong bối cảnh hội nhập, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật (số 508, 511, 514), 2022.

 

NGUYỄN ĐỨC BÌNH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 650, tháng 7-2026