Từ khóa: công nghiệp văn hóa; di tích kiến trúc; nhà hát; thiết chế văn hóa.

Abstract: This article examines the transformation of the Hồ Chí Minh City Municipal Theatre from a French colonial architectural heritage site into a multifunctional cultural institution within the context of cultural industry development. Adopting an interdisciplinary approach to heritage and cultural industries, the study clarifies the functional evolution of the theatre across historical periods from a space serving the colonial community to a cultural institution catering to the public and contemporary social life. The findings indicate that the theatre’s functions have consistently been shaped by the political-social context and cultural orientations of each period, while also demonstrating the site’s capacity for flexible adaptation. In the context of cultural industries and digital transformation, the theatre has gradually innovated its operational model, diversified performance programs, expanded creative spaces, and strengthened connections with the cultural market. As a result, the building has not only been preserved architecturally but also reconfigured as a resource for economic and cultural development. The study further affirms the role of architectural heritage in shaping dynamic cultural institutions capable of meeting development demands in the era of cultural industries and international integration.

Keywords: cultural industries; architectural heritage; theatre; cultural institution.

nha hat TPHCM.jpg
Ảnh: Nhà hát TP.HCM

1. Đặt vấn đề

Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) được xây dựng năm 1898 theo thiết kế của kiến trúc sư Eugène Feret và thi công bởi Ernest Guichard, mang phong cách kiến trúc Baroque đặc trưng của châu Âu cuối thế kỷ XIX. Công trình được khánh thành ngày 1/1/1900 và tổ chức buổi biểu diễn đầu tiên ngày 17/1/1900 (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch TP.HCM, 2008). Ra đời trong bối cảnh thuộc địa, ban đầu nhà hát chủ yếu đảm nhiệm chức năng tổ chức các chương trình biểu diễn phục vụ cộng đồng người Pháp tại Sài Gòn. Năm 1929, sự kiện Rabindranath Tagore diễn thuyết tại đây cho thấy nhà hát không chỉ là không gian nghệ thuật mà còn là diễn đàn văn hóa, trí thức mang tính quốc tế. Trải qua các biến động lịch sử, đặc biệt từ sau năm 1945, 1954 và 1975 công năng của nhà hát có nhiều thay đổi gắn với sự chuyển đổi thể chế chính trị và định hướng phát triển văn hóa.

Sau ngày 30/4/1975, nhà hát được trả lại chức năng ban đầu và dần trở thành một thiết chế văn hóa đa năng, nơi diễn ra nhiều hoạt động nghệ thuật, sự kiện chính trị và xã hội quan trọng. Trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa (CNVH), nhà hát không ngừng đổi mới nhằm phát huy tối đa giá trị di sản, thích ứng với cơ chế thị trường và nhu cầu của công chúng. Việc nhìn nhận nhà hát trong diễn trình lịch sử và trong bối cảnh CNVH là nội dung cốt lõi của bài viết này.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết được triển khai trên cơ sở tiếp cận liên ngành khoa học như văn hóa học, quản lý văn hóa, nghệ thuật học, xã hội học, lịch sử và bảo tàng học. Cách tiếp cận này cho phép nhìn nhận Nhà hát TP.HCM không chỉ như một công trình kiến trúc, mà còn như một thiết chế văn hóa vận động trong mối quan hệ đa chiều giữa di sản, xã hội và thị trường văn hóa đương đại.

Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm hệ thống hóa các nguồn tư liệu lịch sử, hồ sơ di tích và lý thuyết về di sản, thiết chế văn hóa và CNVH. Trên cơ sở đó, xây dựng nền tảng lý luận để lý giải sự biến đổi chức năng của nhà hát trong diễn trình lịch sử.

Phương pháp khảo sát thực tế, thông qua phỏng vấn sâu một số nhà quản lý, nghệ sĩ biểu diễn và khán giả, được vận dụng để bổ sung các dữ liệu định tính. Nguồn tư liệu này góp phần phản ánh nhận thức, nhu cầu và đánh giá của các chủ thể liên quan đối với hoạt động của nhà hát trong bối cảnh hiện nay.

Phương pháp so sánh được áp dụng nhằm đối chiếu công năng của nhà hát qua các giai đoạn lịch sử khác nhau (thuộc địa, sau 1945, sau 1954 và sau 1975). Qua đó làm rõ sự khác biệt về chức năng sử dụng gắn với bối cảnh chính trị, xã hội và định hướng phát triển văn hóa của từng thời kỳ.

Phương pháp khai thác tư liệu hồi cố và tư liệu xuất bản được sử dụng để bổ sung cơ sở thực chứng cho các nhận định. Các nguồn tư liệu bao gồm hồ sơ xếp hạng di tích, tài liệu lưu trữ, công trình nghiên cứu đã công bố và các nguồn thứ cấp có liên quan.

3. Kết quả và thảo luận

3.1. Kết quả

Đặc điểm kiến trúc và giá trị di sản của Nhà hát TP.HCM

Đặc điểm kiến trúc

Nhà hát TP.HCM là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu thời kỳ thuộc địa Pháp tại Việt Nam, được xây dựng tại vị trí trung tâm đô thị Sài Gòn xưa, trên trục đường Đồng Khởi hiện nay. Công trình mang phong cách Baroque châu Âu với bố cục đăng đối, mặt đứng trang trí cầu kỳ bằng hệ thống phù điêu, cột Corinth, các chi tiết điêu khắc tinh xảo và biểu tượng âm nhạc như đàn lyre, thiên thần.

Về kết cấu, nhà hát được xây dựng bằng tường gạch kết hợp khung chịu lực bằng thép, mái lợp ngói đá ardoise, sử dụng hệ vì kèo và vòm thép. Tổng thể công trình cao khoảng 22,6m, gồm 5 tầng (tầng trệt, tầng một, tầng hai, tầng ba và tầng áp mái). Không gian chức năng được tổ chức thành hai bộ phận chính: khu khán giả (tiền sảnh, quầy vé, sảnh nghỉ, khán phòng, lô danh dự…) và khu sân khấu (sân khấu chính, hầm sân khấu, thiên kiều và các phòng phụ trợ). Các khối kiến trúc được bố trí theo trục dọc, với khối tiền sảnh nhô ra phía trước, các khối phụ trợ bố trí phía sau tạo nên sự hài hòa về hình khối. Hệ mái có cấu trúc đa dạng với các khối mái gãy, trong đó mái khán phòng và sân khấu cao hơn các khối còn lại. Trên mái bố trí hệ thống cửa sổ mái (mắt bò) vừa chiếu sáng, thông gió, vừa tăng tính thẩm mỹ. Các chi tiết như máng thoát nước, tường chắn mái, lan can, ban công đều được trang trí công phu, thể hiện rõ đặc trưng kiến trúc châu Âu cuối thế kỷ XIX.           

Nổi bật ở mặt chính diện của nhà hát là hệ cửa vòm lớn và cầu thang dẫn vào, ba mặt còn lại cũng được thiết kế đồng bộ với hệ thống cửa vòm, cửa chữ nhật và ban công, tạo nên tổng thể kiến trúc hoàn chỉnh, hài hòa. Nội thất của nhà hát được chia thành ba khối chức năng chính: khối đón tiếp, khối khán phòng và khối sân khấu, phản ánh rõ tính chất của một thiết chế biểu diễn chuyên nghiệp theo mô hình nhà hát châu Âu.

Khối đón tiếp diện tích khoảng 246m², gồm tiền sảnh, cầu thang và phòng khánh tiết, được lát đá granite và trang trí cầu kỳ. Tiền sảnh nổi bật với hệ cột cariatides tạo hình thiếu nữ đỡ ban công, kết hợp các phù điêu, hoa văn và biểu tượng âm nhạc (đàn lyre, vòng nguyệt quế) vừa đóng vai trò phân phối giao thông, vừa tạo ấn tượng thẩm mỹ trang trọng. Hệ cầu thang rẽ nhánh hai bên dẫn lên các tầng trên, kết nối với phòng khánh tiết - không gian nghi lễ cao, thông tầng, trang trí bằng phù điêu và họa tiết mang tính biểu tượng văn hóa phương Tây.

Khối khán phòng là trung tâm của công trình có diện tích tầng điển hình khoảng 650m², được thiết kế theo dạng hình móng ngựa, cao khoảng 15m, gồm sàn chính và hai tầng ban công. Không gian được tổ chức khoa học nhằm tối ưu tầm nhìn và âm học, với hệ cột Doric, Tuscan và lan can trang trí hoa văn. Sảnh nghỉ bao quanh khán phòng đóng vai trò trung chuyển, kết nối với hành lang, ban công và các lô danh dự. Toàn bộ khối này thể hiện rõ nguyên tắc tổ chức không gian nhà hát cổ điển, đồng thời đã được điều chỉnh một phần để phù hợp với nhu cầu sử dụng hiện đại.

Khối sân khấu diện tích khoảng 748m² gồm sân khấu chính, hầm sân khấu, thiên kiều và các không gian kỹ thuật phụ trợ. Sân khấu có chiều cao lớn (trên 19m), kết cấu thông tầng đến mái, đáp ứng yêu cầu dàn dựng các loại hình nghệ thuật quy mô. Hệ thống kỹ thuật gồm dàn khung thép, sào treo, puly, tời kéo và hành lang thao tác, cho phép vận hành linh hoạt phông màn, ánh sáng và âm thanh. Phía sau là khối phụ trợ 5 tầng với các phòng chức năng như hóa trang, đạo cụ, hành chính và kỹ thuật, bảo đảm hoạt động biểu diễn chuyên nghiệp.

Tổng thể, Nhà hát TP.HCM là sự kết hợp hài hòa giữa giá trị thẩm mỹ, kỹ thuật xây dựng và công năng sử dụng, phản ánh rõ trình độ kiến trúc - nghệ thuật thời thuộc địa, đồng thời tạo nền tảng cho khả năng thích ứng qua các giai đoạn lịch sử. Yếu tố gốc của công trình được bảo tồn khá tốt, đặc biệt ở mặt tiền và không gian khán phòng. Tuy nhiên, nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng mới, nhà hát đã trải qua nhiều đợt trùng tu, cải tạo: năm 1998 phục chế tổng thể (trong đó, có nhiều tượng và phù điêu được khôi phục); năm 1999 nâng cấp hệ thống âm thanh, ánh sáng và cải thiện không gian hậu trường, tiện ích phục vụ khán giả; giai đoạn 2006-2007 tiếp tục trùng tu, phục dựng mái, cửa sổ mái và các chi tiết trang trí mặt tiền. Những điều chỉnh này cho thấy quá trình tái tạo di sản theo quan điểm của Gregory John Ashworth, trong đó di sản luôn được tái diễn giải và thích ứng với bối cảnh xã hội mới (Nguyễn Thị Thu Phương, 2023), đồng thời tiếp tục phát huy giá trị trong đời sống xã hội.

Giá trị của di tích

Ngay từ khi ra đời, Nhà hát TP.HCM đã được xem là một công trình văn hóa tiêu biểu và quy mô lớn nhất của Sài Gòn thời thuộc địa. Năm 2008, công trình được Nhà nước xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Căn cứ theo Luật Di sản văn hóa, di tích này có một số giá trị tiêu biểu sau:

Giá trị kiến trúc - nghệ thuật: thể hiện ở phong cách cổ điển châu Âu, với bố cục đăng đối, hệ mái gãy, các thức cột Hy Lạp - La Mã và hệ thống trang trí mang đặc trưng nhà hát Pháp thế kỷ XIX. Yếu tố gốc của di tích được thể hiện rõ qua kết cấu thép hiện đại (vòm thép, vì kèo, xà gồ), vật liệu nhập khẩu từ Pháp như ngói ardoise, cùng các mô típ trang trí được chế tác theo tiêu chuẩn châu Âu. Đặc biệt, không chỉ là nhà hát đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng bằng kỹ thuật hiện đại, vật liệu bền vững mà còn một trong những công trình đánh dấu thời kỳ chuyển theo hướng hiện đại của thế giới trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.

Giá trị lịch sử: trải qua hơn một thế kỷ tồn tại, Nhà hát TP.HCM còn là chứng tích sống động gắn liền với nhiều biến cố lịch sử quan trọng của đô thị Sài Gòn - TP.HCM, như năm 1945 khi phát xít Nhật vào xâm lược Việt Nam, nhà hát bị trúng bom của máy bay Đồng minh; là nơi tạm trú cho người Pháp từ miền Bắc di cư vào Sài Gòn theo Hiệp định Genève năm 1954…