Từ khóa: thơ Mông lung; thơ ca Trung Quốc đương đại; hiện đại hóa; văn học Trung Quốc.
Abstract: Viewing Misty poetry as a significant milestone in the modernization of contemporary Chinese poetry, this article aims to examine the formation, development, aesthetic thought, and artistic characteristics of this poetic movement, as well as its position and influence within the literary landscape of the New Era. The article argues that, in the wake of China’s Reform and Opening-up policy, Misty poetry emerged as a pioneering literary phenomenon that created a new space for the expression of individual subjectivity, embodied a reflective consciousness toward history, and articulated a spirit of creative freedom, thereby contributing significantly to the modernization of Chinese literature.
Keywords: Misty poetry; contemporary Chinese poetry; modernization; Chinese literature.
1. Đặt vấn đề
Cuối năm 1978, Trung Quốc tiến hành công cuộc cải cách mở cửa với quy mô lớn sau Hội nghị Trung ương 3 khóa XI. Cuộc cải cách này đã giải phóng và phát triển sức sản xuất, đồng thời thúc đẩy sự tiến bộ toàn diện của xã hội. Năm 1979, Đại hội toàn quốc các nhà văn họp lần thứ tư giải thích lại mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị. Sự chuyển biến trong quan niệm văn học đã mở rộng không gian tư duy thẩm mĩ cũng như nhãn quan nghệ thuật cho giới sáng tác. Cùng với sự mở cửa của đất nước, thơ Trung Quốc bước vào giai đoạn phát triển với nhiều khuynh hướng, trào lưu, nhóm phái mới. Trong xu hướng đó, trào lưu thơ Mông lung có thể xem là một hiện tượng mang tính tiên phong. Dựa trên cách tiếp cận văn học sử, bài viết này hướng tới việc nhìn lại trào lưu thơ Mông lung như một dấu mốc của tiến trình hiện đại hóa thơ ca Trung Hoa sau Cách mạng Văn hóa. Từ đó, bài viết góp phần làm rõ quá trình phát triển, vị trí và giá trị nghệ thuật của trào lưu này trong lịch sử văn học Trung Quốc.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp liên ngành nhằm làm rõ các đặc điểm tư tưởng, nghệ thuật cũng như quá trình hình thành và phát triển của trào lưu thơ Mông lung dưới góc độ lịch sử, văn hóa và văn học. Phương pháp so sánh cũng được áp dụng nhằm chỉ ra những đổi mới về tư tưởng và nghệ thuật của thơ Mông lung so với các khuynh hướng sáng tác ở thời kỳ trước, từ đó làm nổi bật vị trí và đóng góp của nó trong tiến trình phát triển của văn học Trung Quốc đương đại.
3. Kết quả và thảo luận
Sự hình thành và quá trình phát triển của trào lưu thơ Mông lung
Hiện tượng thơ Mông lung xuất hiện vào cuối những năm 1970 - thời điểm toàn xã hội Trung Quốc đang trong thời kỳ quá độ. Cuộc cải cách mở cửa đã đưa đến xu hướng giải cấu trúc và tái thiết hệ tư tưởng. Văn hóa nghệ thuật bước vào giai đoạn phục hồi, đồng thời các khái niệm văn học được xem xét lại. Sự ra đời của trào lưu thơ Mông lung phù hợp với sự phát triển tự thân của thơ ca, đáp ứng yêu cầu thay đổi của xã hội lẫn xu hướng thẩm mỹ của độc giả, do đó, đã thu hút được sự quan tâm đông đảo của quần chúng. Từ chỗ là tiêu điểm của sự tranh luận về quan niệm văn học nghệ thuật trong thời đại mới khi môi trường xã hội ngày càng được nới lỏng và tiếng nói đổi mới ngày càng mạnh mẽ, thơ Mông lung đã đi vào lịch sử văn học chính thống và xác lập được vị thế kinh điển (Trần Duy, 2012).
Sự xuất hiện của thơ Mông lung đã phá vỡ nguyên tắc sáng tạo của chủ nghĩa hiện thực đang thống trị văn đàn Trung Quốc lúc bấy giờ, mang lại sự chuyển biến sâu rộng cho văn học tân thời đại. Các nhà thơ tiêu biểu của phong trào này như Bắc Đảo, Thư Đình, Mang Khắc, Đa Đa, Cố Thành, Giang Hà, Dương Luyện, Lâm Mãng, Thực Chỉ, Lương Tiểu Bân… đã thành công trong việc xác lập tiếng nói cá nhân vào giai đoạn chuyển mình của văn học Trung Quốc. Nếu Cuộc vận động Văn hóa Mới là một phong trào khai sáng tư tưởng theo hướng hiện đại hóa với mục tiêu chuyển hóa và hoàn thiện xã hội, thì phong trào thơ Mông lung cuối thập niên 1970 đầu 1980 là sự thể hiện của những cá nhân khao khát sự tự do và khẳng định bản ngã trong xã hội hiện đại - đúng như Bắc Đảo - lá cờ đầu của trào lưu thơ Mông lung đã phát biểu: “Thời đại này chắc chắn sẽ xác lập ý nghĩa cho sự tồn tại của mỗi người và làm sâu sắc hơn sự hiểu biết của mỗi người về tinh thần tự do” (Hồng Tử Thành, 2004).
Ngay từ khi xuất hiện, thơ Mông lung đã nhanh chóng nhận được sự chú ý của giới phê bình lẫn đông đảo bạn đọc. Năm 1979, Tạp chí Tinh tinh đăng tải bài viết Chủ đề mới - Đọc một số bài thơ của đồng chí Cố Thành của Công Lưu, trong đó, tác giả thể hiện sự tin tưởng rằng những bài thơ như vậy “chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm” của công chúng (Công Lưu, 1979). Đây cũng là bài phê bình đi đầu trong việc chuyển trọng tâm chú ý từ các nhà thơ “trở về” sang xu hướng Thơ mới (Tân thi trào). Cùng năm đó, Tạp chí Thơ (Thi san) đã xuất bản các thi phẩm tạo được tiếng vang rộng rãi như Trả lời của Bắc Đảo; Gửi cây sồi, Điều đó cũng là tất cả, Tổ quốc, Tổ quốc thân yêu ơi của Thư Đình; Bông hoa nhỏ vô danh của Cố Thành; Bia kỷ niệm của Giang Hà; Trung Quốc, chìa khóa của tôi rơi mất rồi; Bức tường tuyết trắng của Lương Tiểu Bân... Ảnh hưởng của trào lưu thơ Mông lung mạnh mẽ tới mức, vào tháng 4/1980, hội thảo lần thứ nhất về thơ Mông lung đã diễn ra với quy mô lớn tại Nam Ninh. Đây là hội thảo đầu tiên về thơ mới được tổ chức sau khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với hơn một trăm trí thức tham dự. Trong bối cảnh các cuộc thảo luận học thuật về thơ Mông lung ngày càng sôi nổi, nhiều bài phê bình đã xuất hiện nhằm lý giải và khẳng định ý nghĩa của hiện tượng thi ca này. Có ba bài viết đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho thơ Mông lung trở nên nổi tiếng mà những công trình nghiên cứu về phong trào này không thể không kể đến, đó là: “Đối diện với sự trỗi dậy mới” của Tạ Miện (Quang Minh nhật báo, 7/5/1980), “Một nguyên tắc mỹ học mới đang trỗi dậy” của Tôn Thiệu Chấn (Thi san, kỳ 3 năm (1981) và “Sự trỗi dậy của một nhóm thơ - bình luận về khuynh hướng hiện đại của thơ ca nước ta” của Từ Kính Á (Trào lưu tư tưởng văn nghệ đương đại, số 1, năm 1989). Ba bài viết này (về sau được gọi là “Ba trỗi dậy”) đã cổ vũ cho sự sáng tạo của các nhà thơ Mông lung, đồng thời góp phần xây dựng quan điểm nghệ thuật của thơ ca thời đại mới. Tạ Miện, người trước sau luôn ủng hộ mạnh mẽ thơ Mông lung, đã nhấn mạnh ý nghĩa biểu tượng của thơ Mông lung lên ngang tầm với phong trào thơ mới thời kỳ Ngũ Tứ và cho rằng “cần phải dẫn dắt thơ Mông lung vào con đường thúc đẩy thơ mới đi lên” (Tạ Miện, 1980, tr.9). Bên cạnh đó, các tuyển tập như Tuyển thơ Mông lung (1985) do Diêm Nguyệt Quân biên soạn hay Tuyển thơ năm tác giả (1986) của Bắc Đảo, Thư Đình, Cố Thành, Giang Hà và Dương Luyện cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình kinh điển hóa của trào lưu thi ca này.
Kể từ 1982 trở đi, thơ Mông lung bắt đầu thu hẹp dần sức lan tỏa của nó, nhường chỗ cho sự trỗi dậy của một thế hệ các nhà thơ mới với tên gọi thi nhân “thế hệ ba” - những người muốn thay thế lối viết mà theo họ là còn đậm tính biểu tượng và màu sắc anh hùng ca của thơ Mông lung bằng một phong cách gần gũi, giàu trải nghiệm đời sống hơn.
Nhìn chung, trong bầu không khí cởi mở hơn vào cuối thập niên 1970, một cuộc phục hưng văn học nghệ thuật đã diễn ra mạnh mẽ, trong đó, trào lưu thơ Mông lung giữ vai trò hết sức quan trọng. Thơ Mông lung vừa được xem là phong vũ biểu của thời đại vừa là động lực thúc đẩy tiến trình hiện đại hóa văn học nghệ thuật trong thời kỳ cải cách mở cửa tại Trung Quốc. Nói như Tạ Miện, giữa bối cảnh “đêm đen vừa đi qua còn ánh sáng đang dần dần tiến đến” (Tạ Miện, 1988), thơ Mông lung đã mở ra một không gian biểu đạt mới in đậm dấu ấn cá nhân, đồng thời nói hộ cho những cảm xúc lẫn tâm lý phức tạp của người dân Trung Quốc trong thời kỳ chuyển giao này.