Từ khóa: văn học; Nhật Bản; Hương đạo; tương đồng; Phật giáo.
Abstract: Japanese literature holds a distinctive place in the world literary landscape, with works that strongly embody the cultural identity of the “land of the rising sun.” Among them, The tale of Genji, recognized as the first novel in the modern sense, portrays a comprehensive picture of court life during the Heian period (794-1185). This article highlights several notable aspects of the work’s content, from the delicately depicted art of incense appreciation (Kōdō) to the similarities between The tale of Genji of Japan and Dream of the Red Chamber - one of the four great classical novels of China.
Keywords: literature; Japan; Incense; similarities; Buddhism.
1. Đặt vấn đề
Truyện kể Genji (源氏物語) được sáng tác vào khoảng từ năm 1004 tới năm 1012, là cuốn tiểu thuyết đầu tiên bằng văn xuôi của thế giới. Tác giả Murasaki Shikibu, cũng như rất nhiều tác giả nữ của thời đại đó, nhờ xuất thân trong gia đình quý tộc Fujiwara lừng lẫy, nên được học chữ Hán. Truyện được bắt đầu viết từ mùa Thu năm 1001, là bộ tiểu thuyết trường thiên gồm 54 chương, xét về cấu trúc của cốt truyện, có thể được chia làm ba phần. Phần một và phần hai tập trung vào cuộc đời của Hikaru Genji, từ thời thanh xuân rực rỡ đến những năm tháng xế chiều đầy ưu sầu và hối tiếc. Phần ba là con trai của Genji, chàng Kaoru, diễn ra với bối cảnh suốt mười chương ở vùng Uji (vùng đất gần kinh đô Heian). Vì vậy, mười chương đó được gọi là “mười chương Uji”. Truyện kể Genji không chỉ tái hiện chân thực đời sống cung đình mà còn thể hiện sự tinh tế qua thể loại waka (和歌 - hòa ca) và thể văn nikki (日記- nhật ký), để xây dựng nên một thế giới hư cấu tráng lệ, qua đó cuộc sống của giới quý tộc thời Heian được miêu tả chân thực từ các lễ nghi, phong tục, tới đời sống tinh thần phong phú...
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết, sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp phân tích, tổng hợp về nghệ thuật Hương đạo cũng như những nét tương đồng trong nội dung của hai tác phẩm Truyện kể Genji và Hồng Lâu Mộng. Ngoài ra, phương pháp so sánh đối tượng cũng được áp dụng nhằm làm rõ sự tương đồng về nhiều mặt giữa hai tác phẩm trên.
3. Kết quả và thảo luận
Khái quát về sự ra đời của nghệ thuật Hương đạo
Hương đạo (香道 - Kōdō) là loại hình văn hóa truyền thống của Nhật Bản lâu đời giống như Trà đạo (茶道 - Chadō), Thư đạo (書道 - Shodō) hay Hoa đạo (華道 - Kadō), song Hương đạo ít được biết đến hơn. Bản chất của Hương đạo cũng là tìm đến cái gốc của “đạo”, thưởng thức Hương đạo không đơn thuần là cảm nhận mùi hương mà còn thể hiện chiều sâu văn hóa của người thưởng thức, giúp cho tâm hồn thư thái, yêu đời. Điểm đặc sắc trong Hương đạo là người thưởng thức không dùng từ “ngửi” mà thay vào đó là “nghe” hương, tức những vị thần linh trên cao sẽ mách bảo cho bạn biết về mùi hương đó, “nghe” hương ở đây chính là lắng nghe lời nói của thần linh, chứ không phải là “vận động phản xạ/ sinh học của khứu giác”. Nhiều chuyên gia Hương đạo cho rằng, nghệ thuật này được định hình từ thế kỷ XV, song cũng có nhiều tư liệu cho thấy Hương đạo đã xuất hiện từ khoảng thế kỷ VI, khi Phật giáo từ Trung Quốc và Triều Tiên du nhập vào Nhật Bản. Dần dần, Hương đạo phát triển theo nghi lễ dâng hương mỗi dịp lễ tết ở Nhật Bản. Theo Nhật Bản thư kỷ (日本書記 - biên soạn năm 720), Hương đạo sử dụng loại gỗ thơm từ những nhánh cây thơm từ phương Nam trôi dạt vào đảo Awaji. Các loại gỗ thơm (trầm hương) có xuất xứ từ các quốc gia: Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ, Malaysia và Indonesia. Khi mới du nhập vào Nhật, trầm hương chỉ được sử dụng trong các nghi thức của Thần đạo và Phật giáo. Đến thế kỷ thứ IX, thời Heian, trầm hương đã vượt ra khỏi khuôn khổ của tôn giáo và trở thành hương liệu rất được ưa chuộng nhờ mùi thơm thanh nhã, nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trong giới quý tộc. Các nghi lễ liên quan tới “hương” có: Kukō (供香 - nghi lễ dâng hương của Phật giáo), Kūkō (空香 - tẩy sạch không khí trong phòng hằng ngày), Kunkō (薫香 - đốt trầm hương), Monkō (聞香- nghe hương - thưởng thức hương thơm của những loại gỗ thơm, tức là Hương đạo). Các loại gỗ tỏa ra hương thơm được tán nhỏ thành bột, cho vào các túi thơm đeo vào người làm thơm y phục hoặc để trong phòng tẩy sạch không khí, làm thơm nhà cửa. Giới quý tộc thời này thích đốt trầm trong phòng tạo không gian thơm dịu, để hương thơm quyện vào y phục và giúp ích cho tinh thần. Cho tới thế kỷ XVII-XVIII, nghệ thuật Hương đạo phát triển mạnh mẽ, nhiều trường phái Hương đạo khác nhau cũng lần lượt xuất hiện và Hương đạo trở nên phổ biến trong dân chúng.
Người thưởng hương có thể chỉ thưởng thức một loại hương thơm hoặc thưởng thức nhiều loại hương và đoán xem là mùi hương của loại gỗ nào, có hai cách để phân biệt các loại hương (ngũ vị lục quốc). Cách thứ nhất là dựa vào “Ngũ vị” bao gồm: ngọt, chua, cay, đắng và mặn. Cách thứ hai là dựa vào xuất xứ của các loại gỗ thơm từ một số nước Đông Nam Á. Đó là “Lục quốc” bao gồm: Kyara (Già La): loại gỗ đen, tốt nhất trong trầm hương, mùi tao nhã, chỉ có ở Việt Nam; Rakoku (La Quốc): mùi hăng, vị đắng, mặn và cay, chỉ có ở Thái Lan; Manaban (Chân Nam Man): nhiều hương và nhựa, vị ngọt, có ở miền Đông Ấn Độ hoặc giữa Malaysia và Ấn độ; Manaka (Chân Na Gia): mùi hương nhẹ, có ở Malaysia; Sasora (Tá Tăng La): mùi nhẹ, có ở miền Tây Ấn Độ; Sumondara (Thốn Văn Đa La): nhiều nhựa và có vị chua, có ở Indonesia.
Hình thức thưởng mùi hương này tạo thành trò chơi đoán mùi hương gọi là “Gen-ji kō” (源氏香). Mỗi câu trả lời của trò chơi này tương ứng với tên của một chương trong Truyện kể Genji. Đặc biệt, “hương” được sử dụng rất nhiều trong tác phẩm này, như mùi thơm trên trang phục thường ngày, trên những cánh quạt, trang thư tới trong các nghi lễ Thần đạo và Phật giáo. Ngay cả cách chơi chữ khi đặt tên cho nhân vật của tác giả (匂宮- Nioumiya và 薫- Kaoru, đều có nghĩa là “hương thơm”) cũng khá thú vị. Song đặc sắc nhất là cuộc thi hợp hương được tổ chức tại phủ của Genji nhân dịp chuẩn bị cho lễ tiến cung của con gái Genji, quận chúa Akashi. Ngoài hương thơm do Genji tạo ra, các phu nhân trong truyện ra sức chuẩn bị những loại hương tuyệt diệu nhất. Đồng thời, cũng giữ bí mật cho công thức pha chế hương của mình, chuẩn bị các bình hương đẹp và độc đáo nhất, gửi tới Genji để chàng thưởng thức và đánh giá. Đó là mùi hương thân tình nhưng thoáng qua của chính Genji, hương mận hay hương xuân đặc biệt vui tươi và độc đáo, pha chút chua chát khá táo bạo của phu nhân Murasaki, mùi hương đơn độc - một chút pha trộn của lá sen, phảng phất mùi hăng cay da diết buồn của phu nhân Hana chiru Sato, hay mùi hương “trăm dặm” - mùi tinh tế và cao quý của phu nhân Akashi và mùi hương “đen tối’’mùa đông, có phần dịu hơn nhưng trầm lắng hơn của quận chúa Asagao. Không chỉ tinh tế từ mùi hương, mà những đồ vật đựng hương cũng rất tao nhã, như quận chúa Asagao đã gửi tới hai quả cầu đựng trong hai chiếc lọ, màu chàm và màu trắng, cái trước tô điểm bằng một cành thông, cái sau tô điểm một cành mận, tuy rằng dây buộc và các nút đều mang tính quy ước, nhưng ngay lập tức người ta có thể phát hiện bàn tay của một phụ nữ có khiếu thẩm mỹ. Mùi hương là kết quả của một sự suy nghĩ công phu và mỗi thứ đều khiến người ta phải chú ý, cuộc thi kết thúc mà không phân định được thắng thua. Ở đây, không chỉ khắc họa một phần độc đáo của đời sống quý tộc cung đình thời Heian, tác giả Murasaki Shikibu còn khéo léo miêu tả tính cách cũng như nơi ở của từng nhân vật nữ của cuộc thi hợp hương. Mỗi nhân vật đều là những người phụ nữ vô cùng quan trọng đối với Genji, đóng vai trò khác nhau và đem lại hương thơm đa dạng cho cuộc sống của chàng. Nàng Murasaki - người vợ cả sống ở dinh thự mùa Xuân, là niềm vui tươi sáng, như “hương mận, hương xuân” trong cuộc đời Genji. Nàng Hana chiru Sato, sống ở dinh thự mùa Hạ, là người luôn an ủi, động viên tinh thần Genji, là người mà chàng tin cẩn tuyệt đối, vẻ đẹp tâm hồn của nàng như “lá sen phảng phất” trầm lắng da diết. Nàng Akashi ở dinh thự mùa Đông tuy địa vị thấp nhưng khí chất cao quý. Genji luôn coi trọng và yêu quý nàng, nàng như “hương thơm tinh tế và cao quý”… Đọc Truyện kể Genji, ta nhận ra vẻ đẹp ẩn giấu cũng như thủ pháp nghệ thuật tinh tế của tác giả, thêm yêu đất nước và con người Nhật Bản.
Nét tương đồng giữa Truyện kể Genji và Hồng Lâu Mộng của Trung Quốc
Nhật Bản và Trung Quốc là hai quốc gia thuộc khu vực Đông Á, đều có nền văn hóa lâu đời với nét đặc sắc cuốn hút riêng. Nếu nói tới Nhật Bản, người ta không thể không nói tới Truyện kể Genji, nói tới Trung Quốc, không thể không nói tới Hồng Lâu Mộng, một trong tứ đại kỳ thư của Trung Quốc. Tuy ra đời ở hai quốc gia khác nhau và khá xa nhau về thời gian (thế kỷ XI và thế kỷ XVIII), song hai tác phẩm có những điểm tương đồng.
Thứ nhất, là sự tương đồng về tác giả: hai tác giả đều là những người xuất thân từ tầng lớp quý tộc, được học hành bài bản và đều là người trải qua cuộc sống được chọn làm bối cảnh trong tác phẩm. Nữ sĩ Murasaki Shikibu, tác giả Truyện kể Genji là một nữ quan trong triều đình Nhật Bản, sinh ra trong gia tộc Fujiwara, được học chữ Hán, làm thơ… và là một tác giả nữ xuất sắc thời bấy giờ. Tác giả Tào Tuyết Cần của Hồng Lâu Mộng là con cháu danh gia vọng tộc họ Tào ở Nam Kinh, là gia tộc có mối quan hệ thân thiết với Hoàng đế Mãn Thanh Khang Hy, năm lần Vua Khang Hy tuần du Giang Nam thì bốn lần ngự tại Tào phủ. Hai tác giả tuy đều sinh ra trong nhung lụa và trải qua đời sống thượng lưu của giới quý tộc, nhưng trong cả hai tác phẩm, bối cảnh xa hoa quyền quý đó được chọn dường như để làm nổi bật lên tư tưởng của tác phẩm, chứ không nhằm mục đích ca ngợi hoàn toàn cuộc sống quý tộc.
Thứ hai, hai tác phẩm đều có thể coi là “từ điển sống” về cuộc sống của giới quý tộc, ở đây là thời Heian của Nhật Bản và thời Minh, Thanh của Trung Quốc. Trong đó, tất cả các sinh hoạt, phong tục tập quán, các nghi lễ, các thú vui chơi và cả quan niệm sống của giới quý tộc được miêu tả tỉ mỉ, ấn tượng. Độc giả đã từng đọc cả hai tác phẩm khó có thể quên được các sở thích tao nhã của giới quý tộc thời Heian như thi vẽ tranh để giành ngôi hoàng hậu, thi làm nước hoa (hợp hương) nhân dịp lễ tiến cung của một quận chúa, các bài thơ được gửi tới kèm theo những nhành hoa, cũng như thử thách đề câu đối trong vườn Đại Quan dành cho Giả Bảo Ngọc, các cuộc bình thơ, thưởng hoa, thưởng trà, nghe đàn, xem cờ, chơi tửu lệnh… của các phu nhân và tiểu thư công tử Giả phủ trong Hồng Lâu Mộng.
Thứ ba, đó là sự tương đồng về xây dựng nhân vật chính của hai tác phẩm: nhân vật chính của Truyện kể Genji là hoàng tử Hikaru Genji, còn nhân vật chính của Hồng Lâu Mộng là công tử Giả Bảo Ngọc. Họ đều là những vương tôn công tử đẹp đẽ, tài hoa, xuất thân cao quý, là niềm tự hào của gia tộc mình. Các nhân vật xung quanh họ trong hai tác phẩm đều là những phụ nữ cao quý, xinh đẹp, giỏi cầm kỳ thi họa, đó là nàng Murasaki, nàng Asagao, nàng Aoi no Ue... trong Truyện kể Genji, hay Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Sử Tương Vân… trong Hồng Lâu Mộng. Và điểm chung trong số phận của các nhân vật tài hoa, xinh đẹp ấy là đều gặp phải bi kịch, Genji và Giả Bảo Ngọc cuối cùng đều chọn con đường xuất gia đi tu, các nhân vật nữ thì đúng như câu “hồng nhan bạc mệnh”, người đi tu, người yểu mệnh, người sống trong cô đơn quạnh quẽ… Cũng qua đó, nổi bật lên ý nghĩa tố cáo chế độ phong kiến cũng như phản ánh sự vô thường của đời người của hai tác phẩm.
Thứ tư, yếu tố tâm linh, kỳ ảo, hoang đường trong hai tác phẩm khá nhiều, tạo nên sức hấp dẫn mê hoặc người đọc. Trong Truyện kể Genji, số phận Genji ngay từ đầu đã chịu sự chi phối của một vị cao nhân với lời phán rằng nếu chàng trở thành người kế vị ngôi vua thì thiên hạ sẽ đại loạn, điều này càng củng cố quyết tâm đưa Genji xuống hàng “thần hạ” trong cung đình của cha chàng, Thiên hoàng Kiritsubo, khiến chàng chính thức mất cơ hội kế vị. Sau đó, cũng qua lời của một cao nhân mà chàng biết được tương lai và số phận các con mình, về sau tất cả diễn ra đúng như vậy. Trong Hồng Lâu Mộng, ở hồi 5, Giả Bảo Ngọc lên cõi mộng thái hư ảo cảnh, đọc được bài thơ về số phận của mười hai kim thoa phủ Giả và bài tiên đoán về kết cục mối tình tay ba Lâm Đại Ngọc - Giả Bảo Ngọc - Tiết Bảo Thoa. Những lời tiên đoán này càng làm tăng sức hấp dẫn cho cả hai tác phẩm, khiến người đọc thêm hứng thú và ấn tượng. Ngoài ra, còn rất nhiều tình tiết kỳ ảo như nàng Rokujo hóa thành linh hồn sống ám ảnh các tình địch nhằm tranh giành tình cảm của Genji, hay cảnh Vương Hy Phượng nằm mơ thấy Tần Khả Khanh trong Hồng Lâu Mộng…
Thứ năm, cả hai tác phẩm có nhiều điểm khá tương đồng. Song, điểm đặc sắc nhất là cả hai tác phẩm đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Phật giáo. Trong Truyện kể Genji, số nhân vật theo con đường xuất gia khá đông, dù họ là hoàng đế, công chúa, vương phi… ở tột đỉnh của giàu sang danh vọng. Trong Hồng Lâu Mộng, số nhân vật đi theo con đường tu hành cũng không phải là ít, hầu hết họ đều tìm đến cửa Phật khi không còn lựa chọn nào khác, do đã quá chán và bất an với sự phù phiếm, bất công của cuộc sống đời thường. Sâu xa hơn nữa, hai thuyết “nhân - quả” và “vô thường” của Phật giáo được thể hiện khá rõ trong cả hai tác phẩm:
Thuyết “nhân - quả”: gieo nhân nào gặt quả ấy. Điều này đã được đề cập kín đáo, tuy không nói trực tiếp (do hai tác giả đang sống dưới chế độ phong kiến, nên không thể phê phán lối sống xa hoa, hủ bại của giới quý tộc một cách rõ ràng quá), nhưng độc giả đều có thể nhận ra. Tác giả Murasaki coi việc xảy ra ở kiếp này là do nghiệp của kiếp trước, hay còn gọi là “túc thế” (宿世). Quan niệm về việc phạm tội lỗi ở kiếp trước thì sẽ gánh hậu quả ở kiếp này và việc chỉ có hy vọng vào việc được vãng sinh tịnh độ vào cõi Cực Lạc nhờ vào niệm Phật A-di-đà (1). Rõ ràng bắt nguồn từ giáo lý Tịnh độ tông (2). Genji tuy đẹp đẽ tài hoa, đối xử với những người xung quanh mình rất tốt, nhưng chàng không biết kiềm chế tình cảm, qua lại cả với kế mẫu Fujitsubo, phạm vào tội loạn luân, bất hiếu. Về già, chàng đã phải trả “quả”: người vợ trẻ Onna san momiya lại phản bội chàng với một người họ hàng trẻ tuổi. Chưa hết, những đau khổ Genji gây ra cho người vợ yêu thương nhất là nàng Murasaki đến khi nàng mất đi, chàng mới cảm nhận được hết lỗi lầm của mình, ngày ngày sống trong dằn vặt. Trong Hồng Lâu Mộng, nhân - quả hiện hữu qua việc Giả phủ, một “thành trì” phong kiến nguy nga, tráng lệ, nơi xảy ra bao tội ác táng tận lương tâm của các bậc “trưởng giả” phong kiến như Giả Xá, Giả Liễn, Vương Hy Phượng, Tiết Bàn, Giả Trân… vùi dập biết bao số phận a hoàn, người làm công, cuối cùng đã suy tàn sau bao năm sống trên mồ hôi nước mắt của dân nghèo. Không tội ác nào gây ra có thể tránh được “nghiệp” mà nó tạo thành, nếu các bậc trưởng giả kia không độc ác, dâm tà, tham lam, coi mạng người như cỏ rác… thì Giả phủ đã mãi vững bền. Song nhân - quả cũng thể hiện ngay cả trong một chi tiết rất nhỏ như Vương Hy Phượng - một thiếu phu nhân xảo quyệt, khôn khéo, có thể hại người để làm lợi cho mình, song vẫn có chút thương cảm với già Lưu, một người bà con xa nghèo khổ, đã ra tay giúp đỡ bà. Việc nhỏ được nhắc qua đó, không ngờ về sau đã tạo nên “quả” tốt cho Hy Phượng, con gái nàng là Xảo Thư đã được già Lưu cứu khỏi cơn hoạn nạn khi Giả phủ gặp nguy, và về sau được sống hạnh phúc.
Thuyết “vô thường”: Vô thường nghĩa là không chắc chắn, thay đổi, không trường tồn. Vô thường là một trong 3 tính chất (tam pháp ấn) của tất cả sự vật. Số phận tất cả các nhân vật trong hai tác phẩm đều chịu sự chi phối của thuyết “vô thường”. Cuộc đời các nhân vật chính như Genji, Murasaki, Akashi... trong Truyện kể Genji hay Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Vương Hy Phượng trong Hồng Lâu Mộng cuối cùng đều không thể vượt qua vô thường, có lúc họ ở đỉnh cao giàu sang phú quý, có lúc rơi vào cảnh thất thế, cô quạnh... Và khi đã hiểu được vô thường, họ sẽ rũ bỏ được những phù phiếm thường ngày, trở về với cõi Phật.
Ngoài ra, cả tiểu thuyết Hồng Lâu Mộng, ngay chính tên gọi của nó “Giấc mộng lầu hồng” cũng là một chi tiết mang đậm ảnh hưởng Phật giáo. Cả cuộc đời hóa ra là một giấc mộng, con người u mê, cuối cùng cũng tỉnh ngộ (tỉnh mộng), cập tới bến bờ giác ngộ Phật giáo. Điều này đạt được khi con người bị mất đi những gì mình quý giá nhất, tưởng rằng mãi mãi vững bền nhất, lúc đó họ mới hiểu cuộc đời là bể khổ, con đường tu hành giúp họ tránh được những hỷ, nộ, ái, ố... Genji sau cái chết của người vợ yêu Murasaki, người mà ông yêu thương nhất, song luôn làm nàng đau khổ, đã hiểu ra sự hư vô của đời người và xuất gia tu hành. Giả Bảo Ngọc sau khi bị ép kết hôn với Bảo Thoa và Đại Ngọc, người chàng yêu thương thực sự đã ra đi trong uất ức, đau khổ, đã ngất đi và lạc tới cõi mê, từ đó chàng giác ngộ. Về sau tuy tiếp tục học hành thi cử để trả nghĩa gia đình, có con với Bảo Thoa để làm tròn chữ Hiếu, Bảo Ngọc vẫn quyết tâm đi tu, dứt bỏ hồng trần… Như vậy, cả hai nhân vật chính đã thấu hiểu sự vô thường của cõi đời này.
4. Kết luận
Truyện kể Genji và Hồng Lâu Mộng đều là những viên ngọc quý của văn chương Nhật Bản và Trung Quốc, đồng thời là những tác phẩm kinh điển của thế giới. Tuy ra đời ở không gian và thời gian cách xa nhau, nhưng những điểm tương đồng giữa hai tuyệt tác này cho thấy ảnh hưởng của Phật giáo tới tư tưởng của giới trí thức ở hai quốc gia. Truyện Genji còn là một cuốn từ điển về đời sống cung đình thời Heian, từ lễ nghi, ca vũ, ẩm thực, phong tục, văn học, thơ phú, trang phục... trong đó việc thưởng thức Hương đạo, vừa là một nghi lễ, vừa là một thú vui tao nhã, phản ánh đời sống phong lưu, đậm tính nghệ thuật của giới quý tộc thời kỳ này.
1. Đức Phật A-di-đà là giáo chủ cõi Tây phương Cực Lạc, Ngài là vị Phật được tôn thờ nhiều nhất trong Phật giáo Đại thừa. Tên của Ngài là Vô Lượng Thọ, tức là thọ mệnh vô lượng hay Vô Lượng Quang, cũng chính là ánh sáng vô lượng.
2. Tịnh độ tông (淨土宗): là một pháp môn quyền khai của Phật giáo, trường phái này được lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, phép tu của Tịnh độ tông chủ yếu là niệm danh hiệu Phật A-di-đà và quán tưởng Cực Lạc.
_____________________________
Tài liệu tham khảo
1. Kikuchi Nyryoshi (biên tập). (2006). Yondemitai Genji Monogatari (Muốn thử đọc Genji Monogatari). Nhà xuất bản Seito.
2. Lê Huy Tiêu. (2004). Cảm nhận mới về văn hóa và văn học Trung Quốc. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Lương Hoàng. (2026, ngày 14 tháng 3). Nghệ thuật nghe hương. Báo Giác Ngộ. https://giacngo.vn/nghe thuat-nghe-huong-post66213.html
4. Shuichi Kato. (1999). Lịch sử văn học Nhật Bản (quyển Thượng). Nhà xuất bản Chikuma Shobo.
5. Thích Hải Đào (Đạo Quang dịch). (2008). Những chuyện Nhân Quả. Nhà xuất bản Tôn giáo.
6. Truyện kể Genji (hai tập). (1991). Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 20/3/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/4/2026; Ngày duyệt bài: 28/4/2026.
TS NGUYỄN NGỌC PHƯƠNG TRANG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 642, tháng 5-2026