Từ khóa: môi trường đa văn hóa; giáo dục đại học; lý thuyết Berry; giao tiếp liên văn hóa.
Abstract: This article applies Berry’s theory of acculturation to analyze students’ cultural adaptation processes in multicultural university environments at selected foreign language universities in Hanoi. Drawing on 674 valid qualitative responses from Vietnamese students, international students, and academic staff, the study identifies manifestations of integration, separation, marginalization, adaptation, and cultural hybridity in university life. The findings show that students’ acculturation experiences are most clearly reflected in interpersonal relations, multicultural interaction spaces, communication among different actors, conflicts in cultural norms, and the use of language, symbols, and media within the university environment. The analysis indicates that acculturation is not merely a process in which international students adapt to Vietnamese culture, but rather a two-way process in which Vietnamese students, international students, and educational actors mutually adjust their behaviors, language practices, and communicative norms. The article further shows that language mistakes, pronunciation, forms of address, and everyday politeness norms may become either barriers to participation or opportunities for intercultural learning, depending on the quality of institutional and peer support. A deeply multicultural university environment can only be formed when institutions establish appropriate structural, academic, and interactional conditions that enable students to maintain their cultural identities while participating equally in the university community.
Keywords: multicultural environment; higher education; Berry’s theory; intercultural communication.

1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh quốc tế hóa giáo dục đại học, các trường đại học đào tạo ngoại ngữ ngày càng trở thành không gian tiếp xúc văn hóa đa chiều, nơi sinh viên Việt Nam (SVVN), sinh viên quốc tế (SVQT), cán bộ giảng viên (CBGV), các chủ thể giáo dục cùng tham gia vào quá trình học tập, giao tiếp và thích nghi với những khác biệt về ngôn ngữ, chuẩn mực, lối sống và hệ giá trị. Nếu trước đây chức năng nổi bật của các cơ sở đào tạo ngoại ngữ chủ yếu được nhìn nhận ở phương diện đào tạo năng lực ngôn ngữ và tri thức chuyên môn, thì hiện nay, các trường này còn đóng vai trò như những không gian xã hội, văn hóa, nơi diễn ra quá trình hình thành năng lực liên văn hóa, thương lượng bản sắc và kiến tạo cảm giác thuộc về. Theo Deardorff (2006), năng lực liên văn hóa là một trong những kết quả quan trọng của quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học, gắn với thái độ cởi mở, tri thức văn hóa, kỹ năng tương tác và khả năng giao tiếp phù hợp trong các bối cảnh khác biệt văn hóa.
Trong bối cảnh Việt Nam, các nghiên cứu về năng lực giao tiếp liên văn hóa và trải nghiệm của SVQT cho thấy thích nghi văn hóa không chỉ liên quan đến ngôn ngữ, mà còn gắn với cơ hội tương tác, hỗ trợ học thuật, quan hệ xã hội và khả năng tham gia vào đời sống đại học (Đào Thị Diệu Linh & Đỗ Như Quỳnh, 2019; Phạm Ngọc Thạch & Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2024). Tuy nhiên, sự hiện diện của nhiều nhóm văn hóa trong cùng một trường đại học chưa tự động tạo nên một môi trường đa văn hóa có chiều sâu. Các biểu hiện dễ quan sát như SVQT, lớp học đa ngôn ngữ, chương trình liên kết, tuần lễ văn hóa, trang phục truyền thống hay biểu tượng đa ngữ chỉ phản ánh tầng bề mặt của đời sống đa văn hóa. Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ các chủ thể có thực sự được tham gia, được công nhận, được đối thoại và được hỗ trợ trong quá trình thích nghi hay không. Dữ liệu định tính của nghiên cứu cho thấy sinh viên thường nhận diện môi trường đa văn hóa không phải trước hết qua khẩu hiệu hay chính sách, mà qua các trải nghiệm giao tiếp cụ thể trong đời sống học đường.
Berry (1997, 2005) cho rằng tiếp biến văn hóa diễn ra khi các cá nhân hoặc nhóm văn hóa tiếp xúc lâu dài với một bối cảnh văn hóa khác, từ đó, hình thành những chiến lược khác nhau như hội nhập, đồng hóa, tách biệt và bên lề hóa. Trong môi trường đại học, các chiến lược này không tồn tại như những trạng thái cố định, mà biểu hiện linh hoạt qua từng tình huống học tập, giao tiếp, sinh hoạt và quan hệ xã hội.
Từ những cơ sở trên, bài viết đặt ra câu hỏi: lý thuyết tiếp biến văn hóa của Berry có thể giúp giải thích như thế nào về các trải nghiệm thích nghi, hội nhập, tách biệt, bên lề hóa và lai ghép văn hóa của sinh viên trong môi trường đại học đa văn hóa? Trên cơ sở phân tích 674 ý kiến định tính tại ba trường đại học đào tạo ngoại ngữ ở Hà Nội (Trường Đại học Hà Nội - HANU; Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội - ULIS; Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), nghiên cứu hướng đến làm rõ rằng môi trường đại học đa văn hóa có chiều sâu không chỉ được hình thành từ sự hiện diện của nhiều nền văn hóa, mà từ chất lượng tương tác, mức độ công nhận khác biệt, cơ chế hỗ trợ học thuật, xã hội và khả năng tham gia bình đẳng của các chủ thể trong cộng đồng học đường.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích định tính dựa trên bộ dữ liệu gồm 674 ý kiến hợp lệ, được mã hóa và phân tích NVivo. Dữ liệu bao gồm ý kiến của ba nhóm chủ thể: SVVN, SVQT và CBGV. Trong đó, SVQT chiếm tỷ trọng lớn nhất với 345 ý kiến; SVVN có 312 ý kiến; CBGV có 17 ý kiến. Tác giả không đặt trọng tâm vào so sánh tuyệt đối giữa các nhóm, mà tập trung phân tích cơ chế tiếp biến văn hóa được phản ánh qua các trải nghiệm định tính. Các mã chủ đề được tái diễn giải theo khung lý thuyết Berry, gồm: hội nhập, đồng hóa, tách biệt, bên lề hóa, thích nghi và lai ghép văn hóa.
Kết quả mã hóa cho thấy trong nhóm “Quan hệ ứng xử trong môi trường đa văn hóa”, có 674 ý kiến chính, chiếm 45,7% tổng số ý kiến hợp lệ. Trong đó, nội dung “giao tiếp giữa các chủ thể trong môi trường đa văn hóa” chiếm tỷ trọng cao nhất với 325 ý kiến; tiếp đến là “khó khăn, xung đột và thương lượng chuẩn mực ứng xử” với 318 ý kiến; và “thái độ tôn trọng, khoan dung, hỗ trợ liên văn hóa” với 31 ý kiến. Cơ cấu này cho thấy trải nghiệm tiếp biến văn hóa của sinh viên được nhận diện nổi bật nhất ở bình diện quan hệ ứng xử hằng ngày, đặc biệt là giao tiếp, xử lý khác biệt, thương lượng chuẩn mực và nhu cầu được hỗ trợ trong tương tác liên văn hóa.
3. Kết quả và thảo luận
Hội nhập văn hóa trong quá trình thích nghi và giữ gìn bản sắc
Trong mô hình tiếp biến văn hóa của Berry, hội nhập là chiến lược, trong đó, chủ thể vừa duy trì bản sắc văn hóa gốc, vừa tham gia vào đời sống chung của môi trường văn hóa mới. Khi đặt vào bối cảnh đại học đa văn hóa, hội nhập không chỉ là hòa đồng, tham gia hoạt động chung, mà là quá trình sinh viên học cách sống cùng khác biệt, điều chỉnh hành vi giao tiếp, mở rộng kinh nghiệm văn hóa nhưng vẫn giữ được cảm thức về bản sắc cá nhân và cộng đồng gốc.
Dữ liệu định tính cho thấy SVVN nhận thức khá rõ ranh giới này “Luôn luôn cho phép mình tiếp thu và học hỏi những văn hóa tích cực. Cho phép bản thân mình cởi mở, đón chào những văn hóa độc đáo, mới lạ và tích cực. Bên cạnh đó, cũng học hỏi tinh thần hòa đồng, hòa nhập nhưng không hòa tan” (SVVN, HANU). Hội nhập được hiểu như một quá trình tiếp nhận có chọn lọc, sinh viên không phủ nhận giá trị của văn hóa khác, nhưng cũng không từ bỏ vị trí bản sắc của mình, đây là biểu hiện của năng lực phản tư văn hóa, ở đó, chủ thể nhận ra mình là ai trong quan hệ với cái khác. Một ý kiến khác “Thích ứng để hội nhập với mọi người, điều chỉnh lối sống phù hợp nhưng vẫn giữ được bản sắc cá nhân” (SVVN, HANU). Sinh viên hiểu rằng muốn tham gia vào môi trường đa văn hóa cần thay đổi một số thói quen, cách giao tiếp hoặc lối ứng xử, nhưng sự thay đổi ấy không đồng nghĩa với từ bỏ bản sắc. Hội nhập văn hóa được đặt trên trục cân bằng giữa thích nghi, tự định vị, giữa tham gia vào cộng đồng chung và duy trì căn tính cá nhân.
Ở nhóm SVQT, được biểu hiện qua việc học tiếng Việt, quan sát cách ứng xử và chủ động tham gia vào các tình huống giao tiếp hằng ngày: “Sự chủ động học hỏi và tôn trọng văn hóa giúp tôi giao tiếp tiếng Việt tốt hơn. Việc thường xuyên luyện nói, lắng nghe và quan sát cách ứng xử của người Việt giúp tôi dễ thích nghi và hòa nhập hơn” (ULIS). Trích dẫn này cho thấy hội nhập không chỉ nằm ở mong muốn hòa nhập, mà được thực hiện qua những hành vi cụ thể. SVQT không chỉ học ngôn ngữ như công cụ giao tiếp, mà còn học các mã văn hóa gắn với ngôn ngữ, như cách chào hỏi, xưng hô, phản hồi, thể hiện sự lịch sự và thiết lập quan hệ với bạn học, giảng viên.
Hội nhập văn hóa trong trường đại học là quá trình hai chiều, SVQT học cách hiểu và tham gia vào môi trường Việt Nam; SVVN cũng học cách mở rộng tầm nhìn, tiếp nhận sự khác biệt và điều chỉnh cách giao tiếp của mình. Quá trình tiếp biến văn hóa chỉ có chiều sâu khi cả hai phía cùng tham gia vào quá trình học hỏi, điều chỉnh và công nhận khác biệt.