
1. Đặt vấn đề
Phim truyện điện ảnh Việt Nam (sau đây gọi là phim truyện) từ khi đất nước thống nhất đến nay đã 50 năm, một chặng đường nửa thế kỷ với những thành tựu, những giá trị căn cốt, trong đó có những khuynh hướng nghệ thuật. Điều đó được thể hiện không chỉ trong hệ thống các thủ pháp làm phim (được tập trung sử dụng nhiều và tạo dấu ấn sáng tạo đáng kể nhất) không dừng lại ở phương diện kỹ thuật mà đã trở thành nghệ thuật như những yếu tố mới của mỗi giai đoạn phát triển.
Với tư cách là những trào lưu, làn sóng, xu hướng… và chưa thể được xem như một chủ nghĩa, trường phái nghệ thuật, những khuynh hướng nghệ thuật ấy đã ít nhiều tạo dấu ấn trong lịch sử điện ảnh dân tộc, dù chưa thể có sức ảnh hưởng, lan tỏa với điện ảnh các nước khác trong khu vực nói riêng và trên thế giới nói chung. Là một phong cách tác giả, khuynh hướng nghệ thuật là sự thiên về một phía, một hướng nào đó trong hoạt động sáng tạo và trong quá trình phát triển của điện ảnh phim truyện Việt Nam. Trong các phim truyện của nhiều nhà làm phim (tác giả kịch bản, đạo diễn, quay phim, diễn viên, họa sĩ, nhạc sĩ…), có thể xác định, phân tích những vấn đề trọng tâm trong sáng tác các khuynh hướng đó.
Dù được định hướng hay mang tính tự phát, các khuynh hướng ấy đều là kết quả sự sáng tạo của các tác giả ở các mức độ tìm tòi, với ý nghĩa và thành công khác nhau trong làm phim. Có những khuynh hướng chỉ tồn tại trong một giai đoạn (phim “mỳ ăn liền”), nhưng có những khuynh hướng kéo dài nhiều thập kỷ, thậm chí còn tiếp tục trong tương lai (phim lịch sử/ chiến tranh)…
Trong 4 giai đoạn (1975-1986, 1986-2002, 2002-2020, 2020 đến nay), phim truyện đều có những khuynh hướng nghệ thuật với các đặc điểm khác nhau.
2. Một số khuynh hướng nghệ thuật
Khuynh hướng sáng tác theo phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa
Trong giai đoạn từ 1975-2002, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa là một khuynh hướng được tiếp nối từ giai đoạn trước, nhưng được nhận thức sâu sắc hơn, gắn kết với tư duy sáng tạo mới và tiếp tục mang đến cho người sáng tác những thành quả sáng tạo đáng khích lệ. Sự tổng hợp nhiều khả năng của văn nghệ dân tộc đã làm cho loại hình phim truyện, chỉ trong một thời gian ngắn xây dựng được nhiều hình tượng con người Việt Nam hiện đại với nếp sống và cách nghĩ, niềm vui và nỗi buồn… Trong đó, ba đặc điểm là tính chiến đấu, phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc rõ rệt đã làm cho phim truyện có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc, như đường lối văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra.
Khuynh hướng kết hợp chất trữ tình và chất thơ
Điện ảnh thơ (dưới nhiều hình thức khác nhau, cùng với nhạc và múa dân gian) và yếu tố trữ tình, được nhiều nhà làm phim thể hiện tương đối nhuần nhuyễn, trở thành một phần không thể thiếu của phim truyện điện ảnh (Bao giờ cho đến tháng Mười, Cánh đồng hoang, Trăng nơi đáy giếng, Chuyện cổ tích cho tuổi 17… và sau này là Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh, Tro tàn rực rỡ…) cùng sự xuất hiện những biểu tượng đa nghĩa, giàu giá trị biểu cảm, khiến nhiều phim truyện tăng phần sâu sắc, tinh tế và thú vị, cùng nhiều giá trị tư tưởng, nội dung và nghệ thuật khác.
Chất trữ tình và chất thơ đã có trong nhiều phim của giai đoạn trước, nhưng sau khi thống nhất đất nước, phong cách thơ trong phim truyện có điều kiện phát triển phong phú, sâu sắc hơn. Chất thơ không chỉ biểu hiện trong thủ pháp, trong đường dây cốt truyện và trong đời sống nội tâm mà còn thể hiện trong tính cách nhân vật. Điểm chung của nhiều tác giả, tác phẩm của khuynh hướng này là sự thống nhất trong nhận thức cách phản ánh hiện thực, cách xây dựng hình tượng nhân vật với nhiều góc nhìn mới và có sự phá cách nhất định. Sự xuất hiện phong cách thơ trong phim truyện đã chứng tỏ một trình độ phát triển nhất định của điện ảnh dân tộc.
Là kết quả của khuynh hướng này, từ giữa những năm 1980, nhiều phim truyện đã manh nha những cái mới, những sự đột phá trong cách nhìn, cách phản ánh xã hội và ngôn ngữ thể hiện, trong đó một số phim thể loại hài để lại dấu ấn đổi mới trong những năm giao thời này (Thị trấn yên tĩnh, Dịch cười, Thằng Bờm…).
Khuynh hướng làm phim lịch sử/ chiến tranh
Là khuynh hướng được tiếp nối từ giai đoạn trước, với chất liệu phim lịch sử hay chiến tranh, đội ngũ sáng tác phải luôn tiếp cận gần nhất với khán giả, kịp thời cho ra đời những bộ phim đạt được các giá trị nhiều mặt. Đáng kể nhất là khuynh hướng làm phim lịch sử/ chiến tranh với nhiệm vụ tuyên truyền, kỷ niệm, nhưng vẫn đảm bảo được tính phổ cập cao và được số đông khán giả chấp nhận khi kết hợp các yếu tố giải trí, thương mại, nhưng vẫn mang tính nghệ thuật. Khuynh hướng này là một trong những hướng đi của dạng thức phim được nhà nước đặt hàng, được tiếp tục trong những năm sau này.
Trong khuynh hướng làm phim lịch sử/ chiến tranh, các phim tạo được dấu ấn (Đừng đốt, Những người viết huyền thoại, Mùi cỏ cháy, Địa đạo…) với nét độc đáo dân tộc bộc lộ rõ nét khi tác giả quan tâm đến nội dung lẫn hình thức tác phẩm, biết làm sâu sắc, khắc họa tâm hồn cùng tính cách nhân vật trong những tình huống điển hình. Giá trị của bản sắc dân tộc gắn với tinh thần nhân văn cùng hiệu quả sáng tạo mà nhiều phim đạt được do nhiều nhà làm phim cách tân, sáng tạo, làm mới nội dung trần thuật cũng như hình thức thể hiện mang bản sắc dân tộc, đã làm phong phú sắc màu cùng chất liệu độc đáo dân tộc trong yêu cầu mới của công chúng với phim truyện theo khuynh hướng này.
Khuynh hướng đổi mới cách phản ánh hiện thực
Trong giai đoạn từ 1986-2002, nhiều sáng tác điện ảnh đầu tiên trong thời kỳ đổi mới tạo nhiều tranh luận bởi cách phát hiện và phản ánh các vấn đề xã hội, hiện thực không một chiều, có phần gai góc (Tướng về hưu, Cô gái trên sông, Gánh xiếc rong...), với phong cách phim tác giả kết hợp được chất trí tuệ và chất cảm xúc trong thể hiện. Xu hướng phản ánh hiện thực có phần gai góc và quyết liệt cũng chứng tỏ sự thông thoáng trong định hướng sáng tác và quản lý sáng tác điện ảnh. Nhiều phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh như những biên niên sử điện ảnh, với tính tư tưởng, triết lý, khéo léo và mạnh mẽ thể hiện tiếng nói cá nhân (như thể hiện các cấp độ phản bội trong phim: phản bội thế hệ - Thị xã trong tầm tay, phản bội lý tưởng - Cô gái trên sông và phản bội lịch sử - Mùa Ổi), thể hiện suy tư sâu sắc về số phận con người và đất nước…
Khuynh hướng của các phim có đề tài hiện thực xã hội
Nếu như trước 1986, nhiều phim truyện đơn thuần thực hiện nguyên lý sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa thì vào giai đoạn sau, theo đà phát triển của xã hội, đã xuất hiện ngày càng nhiều tác phẩm đi theo con đường mở rộng của phương pháp hiện thực, bao gồm hiện thực phê phán và hiện thực thơ mộng. Phần lớn phim truyện vốn được thể hiện dung dị, chân thật; càng về sau các tác giả càng có xu hướng làm cho đa dạng, phong phú hơn, bằng cách tiếp cận mới và những thủ pháp thể hiện mới, tạo ra những giá trị biểu cảm mới…
Theo khuynh hướng chọn đề tài hiện thực xã hội, nhiều phim đã chạm được đến những ngõ ngách ẩn sâu trong con người đương đại, khám phá và kiến giải sâu hơn những ẩn khuất nội tâm của các nhân vật... khi chọn phản ánh hiện thực như một hướng khai thác mới có nhiều thành công nhưng cũng không ít thách thức và trở ngại. Khuynh hướng này cũng góp phần tạo nên giọng điệu riêng của tác giả, như đạo diễn Đặng Nhật Minh trong buổi giao lưu tại TP.HCM (ngày 30/10/2023) đã chia sẻ: “Trong muôn vàn phong phú của hiện thực, người làm phim lựa chọn hiện thực nào đó để đưa lên phim. Mỗi đạo diễn đều có giọng điệu riêng, chính giọng điệu đó giúp chúng ta phân biệt đạo diễn này với đạo diễn khác”.
Trong khuynh hướng của các phim có đề tài hiện thực xã hội, hiện thực xã hội trong phim không chỉ là màu u ám, mà muôn màu muôn vẻ, đủ sắc thái tùy thuộc vào câu chuyện mà các nhà làm phim chọn kể. Đó là các phim như Ròm, Trái tim quái vật, Tiệc trăng máu, Anh thày ngôi sao, Thưa mẹ con đi, Hai Muối… Trong đó, phim Ròm cho thấy sự mới mẻ của những nhà làm phim trẻ trong tư duy sáng tạo, việc nỗ lực thử nghiệm hướng đi mới cùng với sự đột phá trong lựa chọn đề tài, phản ánh hiện thực, áp dụng thủ pháp làm phim, trong dàn dựng của đạo diễn, trong dựng phim…
Khuynh hướng phim “mỳ ăn liền”
Đầu những năm 1990, bắt đầu thời kỳ của phim “mỳ ăn liền”. Với “người người, nhà nhà, ngành ngành làm phim” và không ít hạn chế trong sáng tác, trong đó có các ngón nghề câu khách, như 10 nạn dịch (dịch tắm; dịch phim dã sử; dịch gươm, dao, đao, súng và đua xe máy; dịch người mẫu hoa hậu đóng phim; dịch sinh nhật và vũ trường; dịch lấy Việt kiều; dịch gái quê lỡ bước; dịch phim ma, phim kinh dị; dịch lồng tiếng miền Nam cho nhân vật mọi vùng miền; dịch quảng cáo rẻ tiền), phim “mỳ ăn liền” đã làm nghiệp dư hóa điện ảnh phim truyện.
Đa số phim truyện video trong các năm 1989-1990 khai thác đề tài với thể loại gần giống với phim truyện nhựa từ trước vẫn khai thác, nhất là thể loại tâm lý xã hội. Các thể loại hành động - võ hiệp, giật gân, căng thẳng, phim “sến”, tình cảm - ủy mị… được biết tới như những thể loại tiêu biểu của phim “mỳ ăn liền”.
Khuynh hướng làm phim hướng tới thị trường
Trong giai đoạn từ 1986-2002, nhất là trong những năm “điện ảnh thị trường” chiếm ưu thế, có sự giao thoa giữa dòng phim thương mại và dòng phim nghệ thuật, trong đó Vị đắng tình yêu (1991) trẻ trung, tươi mát về đề tài sinh viên xuất hiện được xem là cầu nối giữa phim thương mại và phim nghệ thuật. Với cách khuấy động màn ảnh bằng nhịp điệu sôi động, sự căng thẳng của các xung đột đặt bên cạnh những phút mộng mơ kề bên cái chết; Gái nhảy (2003) đã tạo sức cuốn hút, mở ra xu hướng làm phim hướng đến khán giả với những thủ pháp mới mẻ trong sử dụng ngôn ngữ điện ảnh. Có mối quan hệ hữu cơ giữa các nhà làm phim tư nhân và xu hướng làm phim thị trường, những đặc điểm chính của phim thị trường là đa số có kịch bản dễ hiểu; câu chuyện phim dễ dàng tiếp cận khán giả; cách kể chuyện hấp dẫn; các nhà làm phim quan tâm tối đa tới các thủ pháp, yếu tố giải trí; có yếu tố “độc”, “lạ” hoặc thủ pháp nghệ thuật tạo hiệu ứng mạnh, dễ gần gũi với thị hiếu của số đông khán giả, nhất là khán giả trẻ... Tuy nhiên, nếu phim thị trường quyết định diện mạo chung của nền điện ảnh, thì phim nghệ thuật khẳng định đẳng cấp của nền điện ảnh đó. Nhìn lại lịch sử điện ảnh, người xem có thể quên rất nhiều phim thị trường, nhưng thường đánh giá cao hơn những phim giàu tính nghệ thuật. Trong giai đoạn sau này, nhiều phim (Em chưa 18, Để mai tính, Tèo em…) cho thấy sự tiếp tục khuynh hướng, yếu tố làm phim của “điện ảnh thị trường” và “nếu như Gái nhảy là cố gắng thay đổi đề tài thì đến Em chưa 18 là sự thay đổi về cách thể hiện, khi khán giả đã bước sang một “trình” khác, không còn xem phim Việt vì tò mò và cũng không còn quan tâm tới đề tài” (Thủy Nguyên, (2017), cho thấy những yếu tố mới trong làm phim khuynh hướng “điện ảnh thị trường”.
Khuynh hướng làm phim nghệ thuật
Các bộ phim truyện theo khuynh hướng này thường mang tính chuyên môn và hàn lâm cao, với phong cách nghệ thuật phức tạp và thách thức cá nhân, khiến đa số khán giả cảm thấy áp lực, khó hiểu và không thể hoàn toàn hiểu được giá trị nghệ thuật của chúng. Các nhà làm phim nghệ thuật luôn phải chịu sức ép không nhỏ, bởi nếu phim thị trường thu hút khán giả đại chúng thì phim nghệ thuật dường như chỉ dành cho giới làm nghề. Không chỉ được đánh giá cao từ giới chuyên môn, nhiều bộ phim nghệ thuật đã đoạt nhiều giải thưởng quốc tế như Bi, đừng sợ; Đảo của dân ngụ cư; Song lang; Đập cánh giữa không trung; Chơi vơi… Về đối tượng tiếp nhận, những bộ phim nghệ thuật như Tro tàn rực rỡ, Bên trong vỏ kén vàng với cách kể chuyện khá phù hợp với nhiều tầng lớp khán giả, nên đa phần người xem đều có thể hiểu và cảm nhận được câu chuyện, thông điệp của phim; những yếu tố giải trí nghệ thuật của Trúng số, Địa đạo thu hút một lượng khan giả nhất định.
Khuynh hướng làm phim nghệ thuật còn được thấy rõ trong nhiều phim của các nhà làm phim độc lập. Với ít nhiều giá trị biểu cảm, nhiều hình ảnh giàu sức gợi và liên tưởng, cách kể chuyện mới mẻ và với phong cách tác giả... nhiều phim độc lập (Bi, đừng sợ; Cha và con và…; Hotboy nổi loạn; Cánh đồng bất tận; Đập cánh giữa không trung; Cha cõng con; Chơi vơi; Tâm hồn mẹ; Đảo của dân ngụ cư) đóng góp một diện mạo mới, góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng nghệ thuật phim truyện.
Nhiều đạo diễn có sự quan tâm đúng mức tới làm phim nghệ thuật, từ chính nhu cầu sáng tác cùng những ước vọng về phát triển nghệ thuật. Dù còn phụ thuộc vào sở trường, phong cách tác giả, nhưng điều đó cho thấy đa phần các đạo diễn đều nhận thức được sự cần thiết phải cân bằng giữa thương mại và nghệ thuật trong làm phim.
Khuynh hướng làm phim giải trí
Theo khuynh hướng này, nhiều phim đã đạt được giá trị giải trí khi thành công trong việc giữ chân khán giả và khơi gợi được cảm xúc; khiến họ phấn khích, đem đến sự trải nghiệm thú vị ở các giác quan và kích thích hệ thần kinh của họ. Điều quan trọng không phải là khả năng giữ chân khán giả và khơi gợi cảm xúc của họ mà là áp đảo họ bởi hình ảnh và âm thanh của bộ phim. Để làm được điều đó, nhiều phim đã cung cấp thời gian, không gian thể hiện và phát triển tâm lý nhân vật, cũng như cần sử dụng các thủ pháp kể chuyện để khuyến khích khán giả nhận biết nhân vật. Các phim như Long Ruồi; Để mai tính; Hello cô Ba; Nhà có 5 nàng tiên… cho thấy các đặc điểm của khuynh hướng nói trên.
Tuy nhiên, được vận dụng như một thủ pháp, các yếu tố câu khách, tình dục và bạo lực, hài nhảm… được thể hiện khác nhau về mức độ, mục đích, hiệu quả và cả tác dụng phụ trong nhiều phim. Nếu Bi, đừng sợ có những hình ảnh thể hiện dục tính, qua những cảnh quay khán giả không ngờ nhất, thì Trung úy tạo cảm giác về một ranh giới tương đối nhạt nhòa giữa phim sex và dàn dựng nghệ thuật về nó hay vấn đề tính cần thiết, sự phù hợp và tính hiệu quả của cách dàn dựng ấy trong tổng thể ý đồ và hiệu quả nghệ thuật của bộ phim. Sự kết hợp các khuynh hướng, nhất là hai khuynh hướng nghệ thuật và giải trí.
Trong thập niên 2002-2010, một số phim có màu sắc nghệ thuật (art-house) mang đậm dấu ấn riêng của tác giả được nhà nước hỗ trợ như Trăng nơi đáy giếng, Chơi vơi… cho thấy sự kết hợp các khuynh hướng nghệ thuật khác nhau. Một trường hợp nổi bật hơn cả khi kết hợp được cả yếu tố thương mại và nghệ thuật cùng sự góp sức của các đơn vị tư nhân và Nhà nước (Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh) dù là tín hiệu mới nhưng còn khá ít, chưa trở thành dòng chủ đạo. Cùng với việc nhiều nhà làm phim tư nhân quan tâm tới làm phim nghệ thuật một cách đúng mức hơn như một xu hướng, một sự phát triển đồng bộ cho điện ảnh Việt Nam (tức sự dung hòa, kết hợp cả phim nghệ thuật và thương mại) cũng là một xu hướng khác như một nhận định: “Vì điện ảnh vừa là nghệ thuật tổng hợp, vừa là ngành công nghiệp tổng hợp, nên mơ ước của tôi là một sự phát triển đồng bộ cho điện ảnh Việt Nam” (Hoàng Tuấn, 2017). Trong giai đoạn từ 2002-2020, sự kết hợp các khuynh hướng nghệ thuật thể hiện ở các thể loại đa dạng, phong phú, với nhiều phương pháp thể hiện. Trong gần hai thập kỷ nói trên, điện ảnh phim truyện có sự phát triển rõ rệt về thể loại, bên cạnh các phim nhà nước với thể loại truyền thống thì dòng phim giải trí thương mại hay dòng phim nghệ thuật (Chơi vơi; Trăng nơi đáy giếng; Đào, phở và piano; Tro tàn rực rỡ…) cũng có nhiều thể loại khác nhau. Nhiều phim đã cho thấy sự kết hợp các khuynh hướng nghệ thuật khác nhau. Chẳng hạn, đổi mới trong khai thác thể loại hành động, Hai Phượng thể hiện khuynh hướng nghệ thuật khiến phim truyện cũng có những bộ phim hành động, bom tấn ít nhiều đuổi kịp với phim Hollywood là một cái đích khả thi có thể hướng tới trong những năm tới. Kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật, Mắt biếc cho thấy việc tự làm mới khi kể câu chuyện ngôn tình của lớp trẻ người Việt, chứng tỏ được giá trị của mình với dòng phim nghệ thuật chứ không chỉ thiên về giải trí. Tro tàn rực rỡ kết hợp hướng đi, tìm tòi mới trong chuyển thể và phim nghệ thuật. Mắt biếc, Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh… kết hợp giữa việc sáng tạo đạt hiệu ứng tốt về doanh thu với chất lượng nghệ thuật. Trúng số; Bố già; Nhà bà Nữ; Mai; Lật mặt… kết hợp một cách làm phim có nhiều tìm tòi trong nghệ thuật, thủ pháp làm phim (thể hiện các nhân vật ít nhiều phù hợp với cách nghĩ, cách cảm, cách ứng xử của người Việt) với việc hướng đến khán giả qua sự am hiểu thị hiếu, sự chịu khó làm sản phẩm kết nối tốt với khán giả; Đào, phở và piano kết hợp việc thể hiện cách làm mới về đề tài lịch sử, truyền thống với nhiều thủ pháp dàn dựng trong các phim như Hà Nội mùa đông 46. Các phim Mỹ vị nhân gian, Bên trong vỏ kén vàng, Cu li không bao giờ khóc… kết hợp các thủ pháp của điện ảnh chậm với việc tạo động lực, truyền cảm hứng cho những nhà làm phim trẻ; phim Mai, Hai Muối gợi mở về một tín hiệu tốt trong kết hợp, thay đổi cách tiếp cận đề tài gia đình và nhiều yếu tố kết hợp giữa phim giải trí - nghệ thuật tạo thành công cho phim truyện đương đại…
Giai đoạn 2002-2020 cũng chứng kiến một thế hệ đạo diễn với nhiều thể nghiệm trong thể loại phim, cách tân trong áp dụng các thủ pháp nghệ thuật, đổi mới cách kể chuyện, sự cố gắng gắn kết các yếu tố nghệ thuật, giải trí trong một bộ phim, thể hiện đậm nét các đặc điểm của tư duy, cách làm phim của dòng phim tư nhân, với sự góp mặt, kết hợp phong cách phim tác giả, phim nghệ thuật. Sự kết hợp các khuynh hướng nghệ thuật này có thể thấy trong các phim Bố già; Nhà bà Nữ; Mai; Lật mặt (nhiều tập), Đào, phở và piano; Tro tàn rực rỡ; Hai Muối; Địa đạo…
Giai đoạn từ sau 2020, các phim điện ảnh với thể loại lịch sử, cổ trang, được kết hợp với đề tài lịch sử (Đào, phở và piano; Hồng Hà nữ sĩ; Đất rừng phương Nam; Người vợ cuối cùng), tình cảm, tâm lý gia đình trong nhiều phim, chính kịch (Hoa nhài, Tro tàn rực rỡ…) được cho là tạo sự đồng cảm nơi người xem. Các thể loại được khai thác ngoài tâm lý xã hội, tâm lý lãng mạn, là các thể loại kinh dị, trinh thám, cổ trang… Tiếp tục thể loại tâm lý xã hội, xoay quanh những số phận con người gần gũi khán giả đại chúng, Mai khai thác lối sống của những người lao động ở các tầng lớp xã hội; được cài cắm cùng các yếu tố kết nối xã hội có thể kể đến như gia đình, tình yêu tương đối tiêu biểu; có sự phát triển đáng kể trong cách kể chuyện. Sức hút của Lật mặt 7 đến từ câu chuyện xoay quanh đề tài gia đình, khi nhà làm phim dẫn dắt người xem qua những tình huống dễ bắt gặp trong cuộc sống, từ đó khơi gợi sự chia sẻ và đồng cảm.
Trong những năm gần đây, sự kết hợp hai khuynh hướng nghệ thuật và giải trí được xem như một xu hướng đạt được hiệu quả nhất định trong nhiều phim truyện (Mai; Tro tàn rực rỡ; Đào, phở và piano...) Nhiều phim truyện kết hợp hai khuynh hướng nghệ thuật và giải trí đã tạo cảm hứng, động lực nhất định đối với các nhà làm phim trẻ, đóng góp đáng kể vào sự sáng tạo nghệ thuật và sự phong phú, đa dạng của các thủ pháp điện ảnh... của điện ảnh phim truyện nói chung.
Khuynh hướng kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật và thương mại, giải trí là bước tiến đáng kể của phim truyện điện ảnh trên con đường tiếp cận kỹ thuật và nghệ thuật thể hiện tiên tiến hiện đại của điện ảnh quốc tế. Theo khuynh hướng đó, khi xây dựng kịch bản phim và kể chuyện, nhiều nhà làm phim đã chú ý đến bối cảnh và nhịp điệu để phát triển câu chuyện và áp dụng cấu trúc chuẩn giúp biên kịch, đạo diễn có thể kể lại và phát triển câu chuyện một cách hợp lý. Hơn nữa, sự áp dụng những kỹ thuật, trải nghiệm tốt trong kể chuyện (Nhà bà Nữ, Mai, Lật mặt…) giúp không bỏ qua yếu tố bối cảnh và nhịp điệu, những yếu tố rất quan trọng khiến cho bộ phim gần gũi với khán giả và được họ đồng cảm.
3. Một số vấn đề đặt ra
Trong lịch sử điện ảnh thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, vì là hoạt động sáng tạo nên các khuynh hướng nghệ thuật ra đời và tồn tại thường độc lập với ý chí của cơ quan định hướng và người xem. Vì vậy, cần có sự nhìn nhận, đánh giá đúng mức cũng như sự khuyến khích và tạo điều kiện phát triển đối với các khuynh hướng nghệ thuật vì sự nâng cấp chất lượng nghệ thuật điện ảnh và vì sự tiến bộ xã hội cũng như hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ.
Trong 50 năm từ sau 1975, nhiều khuynh hướng nghệ thuật đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển điển ảnh dân tộc. Với đặc điểm lớn nhất là tính chuyển dịch - đổi mới - hội nhập và diễn biến khá phức tạp, thường không theo một quy luật nhất định, có thành công và không thành công, nên các vấn đề trên phương diện sáng tác… cần được tổng kết, nhìn nhận, đánh giá đúng mức từ các góc nhìn, cách tiếp cận. Tuy vậy, 50 năm không phải là một khoảng thời gian độc lập về mặt ý nghĩa lịch sử, vì những gì tồn tại trong giai đoạn ấy đều có nguyên nhân sâu xa từ thời gian trước và có thể sẽ tác động, ảnh hưởng cho những giai đoạn tiếp theo. Vì vậy, có thể phân tích, khảo sát, kiến giải, đánh giá các khuynh hướng nghệ thuật của phim truyện điện ảnh trong tương quan của cả trước và sau 50 năm đó trong sự phát triển của điện ảnh Việt Nam nói riêng, cũng như đặt trong tương quan của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, các khuynh hướng nghệ thuật, văn học nghệ thuật nói chung. Những năm gần đây, sự kết hợp các khuynh hướng nghệ thuật như một yếu tố đổi mới trong làm phim. Nhiều phim cho thấy những tín hiệu của điện ảnh thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa. Việc vận dụng công thức thành công của phim Mỹ một cách sáng tạo và điều tương tự cũng đã mang lại hiệu quả nhất định cho nhiều phim.
Các nền điện ảnh thường phân loại ra hai dòng thương mại (commerical) và nghệ thuật (arthouse), nên không nhất thiết phải dung hòa cả hai dòng phim này. Bởi phim thương mại thường do các hãng lớn đầu tư sản xuất và mục tiêu lớn nhất là doanh thu còn phim nghệ thuật dù vẫn có mục tiêu doanh thu, nhưng quan trọng hơn là sự thể nghiệm nghệ thuật, khẳng định dấu ấn cá nhân. Như vậy, một bộ phim thương mại hay và hấp dẫn sẽ được đánh giá cao hơn một bộ phim nghệ thuật không hay và kém hấp dẫn. Khuynh hướng làm phim thị trường, giải trí sẽ tiếp tục phát triển, nhất là căn cứ vị trí, vai trò của nó trong điện ảnh phim truyện những năm gần đây. Thông qua một số phim gần đây (Đào, phở và piano; Địa đạo…) cho thấy, phim lịch sử/ chiến tranh với bề dày lịch sử và từng trở thành “đặc sản” của phim truyện, hay phim nghệ thuật (Bên trong vỏ kén vàng; Cu li không bao giờ khóc; Tro tàn rực rỡ; Hai Muối…) sẽ tiếp tục có sức sống đáng kể, bên cạnh và tương tự với phim thị trường, giải trí (Mai; Lật mặt…) với sức sống mãnh liệt; cũng như sự kết hợp hai khuynh hướng nghệ thuật phim nghệ thuật hay giải trí, hay kết hợp nhiều khuynh hướng trong hệ thống các tác giả và tác phẩm. Với chọn lựa đề tài gia đình và phản ánh hiện thực trong nhiều phim vừa qua, có thể dự đoán chiếm ưu thế trong điện ảnh tới đây sẽ không phải là khuynh hướng “điện ảnh thông tục” chỉ bó hẹp trong những vấn đề đời sống thường nhật với những đề tài, cách khai thác, thể hiện không mới; mà là “điện ảnh triết lý” do chiều sâu tư duy, các kiến giải vấn đề một cách sâu sắc, thuyết phục bằng ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, tạo nên hiệu quả mạnh mẽ về 4 điều kiện cần và đủ (tư tưởng, nghệ thuật, thương mại và giải trí) cũng như gửi gắm được những thông điệp nhiều chiều, đa tầng về những vấn đề sống còn đang đặt ra cho xã hội, cuộc sống con người Việt Nam hôm nay… Là một hình thái trong hoạt động sáng tạo, các khuynh hướng hiện thực phải trực diện với nhiều vấn đề như cái cũ và cái mới, truyền thống và cách tân, dân tộc và thế giới, bản vị và hội nhập, nghệ thuật và thị trường, nhà nước và tư nhân, công ích và kinh doanh… Đó cũng là những vấn đề rất lớn đặt ra cho văn hóa, nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng phải nhận thức và ứng xử thích hợp trong thời kỳ mới. Nhưng dù là khuynh hướng với quan điểm và phong cách nghệ thuật đa dạng thì cũng đều phải góp phần làm giàu có thêm bản sắc dân tộc của điện ảnh cũng như gắn kết tính dân tộc với tính quốc tế; kết hợp các yếu tố của phim nghệ thuật và giải trí; pha trộn, hài hòa các phong cách… như những gợi mở hữu ích. Chẳng hạn, các phim của nhiều nhà làm phim tiền bối, gạo cội với sự phản ánh chân thực những vấn đề, tư tưởng chủ đạo của con người, đất nước Việt Nam hay các vấn đề mang tính nhân loại là một khuynh hướng cần được tiếp tục phát huy.
Qua xem xét những khuynh hướng sáng tác phim truyện điện ảnh, đã đến lúc cần tìm được lời giải cho vấn đề “Vì sao Việt Nam không/ chưa xuất khẩu văn hóa nói chung, điện ảnh nói riêng được?”. Với phim truyện điện ảnh, một trong những nguyên nhân của vấn đề ở sự thiếu tài năng lớn hay sự cạn kiệt ý tưởng sáng tạo; về sự thay đổi và tự làm mới của các chủ thể sáng tạo; về sự thiếu thay đổi phù hợp mang tính bước ngoặt trong hệ thống sáng tạo (trước hết ở tư duy, quy trình, phương pháp làm phim truyện điện ảnh)… Ngoài các khuynh hướng tự phát, khi các khuynh hướng mang tính định hướng có thể bàn đến các giải pháp nâng cao chất lượng các khuynh hướng phim: phim nghệ thuật có giá trị nhân văn, được đánh giá cao và đoạt giải tại liên hoan phim trong nước và quốc tế, có chất lượng nghệ thuật và hấp dẫn khán giả; phim thị trường đạt kỷ lục doanh thu và giàu sức lay động người xem; phim giải trí có tính tư tưởng, với nội dung lành mạnh, đạt chất lượng nghề nghiệp. Theo đó, dù với khuynh hướng nào, định hướng và yêu cầu mang tính sống còn vẫn là cần phải có phim hay, phim hấp dẫn, có sức sống lâu bền trong khán giả...
____________________________
Tài liệu tham khảo
1. Đỗ Tuấn. (2023, 31 tháng 10). “Hoa nhài” - lời tri ân Hà Nội của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Báo Thanh niên. https://thanhnien.vn/hoa-nhai-loi-tri-an-ha-noi-cua-dao-dien- dang-nhat-minh-185231030231359455.htm
2. Nhiều tác giả. (2005). Lịch sử điện ảnh Việt Nam, quyển 2. Cục Điện ảnh.
3. Thủy Nguyên. (2017, 3 tháng 12). Đạo diễn Vũ Ngọc Đãng: “Em chưa 18” là cái tát mạnh vào tôi”. Báo Lao động. https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/dao-dien-vu-ngoc-
4. Gia Hoàng. (2017, 2 tháng 6). TS Ngô Phương Lan - Cục trưởng Cục Điện ảnh: Mơ ước của tôi là một sự phát triển đồng bộ cho điện ảnh Việt Nam. Tạp chí Thế giới Điện ảnh. Tạp chí Thế giới điện ảnh online. https://thegioidienanh.vn/ts-ngo-phuong-lan-cuc-truong-cuc- dien-anh-mo-uoc-cua-toi-la-mot-su-phat-trien-dong-bo-cho- dien-anh-viet-nam-13900.html
PGS, TS VŨ NGỌC THANH, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu
- Điện ảnh TP.HCM
Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026