Vì thế, nghiên cứu sự tác động của truyền thông đối với việc xây dựng và phát triển nghệ thuật điện ảnh, xây dựng và phát triển đội ngũ khán giả điện ảnh chuẩn mực trong bối cảnh hội nhập hiện nay là một vấn đề cấp thiết, trực tiếp góp phần vào việc phát triển loại hình nghệ thuật điện ảnh cũng như góp phần xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người mới.

điện ảnh 1.jpg
Không gian trưng bày về điện ảnh Việt Nam

Để làm rõ hơn vấn đề sáng tạo nghệ thuật điện ảnh và xu hướng tiếp cận khán giả điện ảnh - từ góc nhìn truyền thông văn hóa, chúng tôi cho rằng, để truyền thông điện ảnh có hiệu quả, rất cần hiểu thêm về bản thân điện ảnh cũng như các bộ phận hình thành nó. Vì thế, ở đây, chúng tôi đề cập đến 3 vấn đề lớn sau đây: quan hệ giữa sáng tạo điện ảnh và khán giả trong cấu trúc hệ thống văn hóa; thử nhìn về thực trạng chung của sáng tạo điện ảnh và tiếp cận khán giả điện ảnh hiện nay; truyền thông chính sách sáng tạo nghệ thuật điện ảnh và tiếp cận khán giả điện ảnh như một giải pháp cơ bản cho việc phát triển điện ảnh hiện nay.

1. Quan hệ giữa sáng tạo điện ảnh và khán giả trong cấu trúc hệ thống văn hóa

Đặt vấn đề tìm hiểu hai bộ phận điện ảnhkhán giả từ góc độ văn hóa, chúng tôi muốn, từ cách tiếp cận cấu trúc hệ thống văn hóa để xét các mối quan hệ thuộc nhiều cấp độ: điện ảnh như là một bộ phận của cấu trúc văn hóa và điện ảnh như là hệ thống của những bộ phận cấu thành nó trong mối tương quan với khán giả.

1.1. Điện ảnh như là một bộ phận của cấu trúc văn hóa

Vai trò, vị trí, chức năng quan trọng của điện ảnh trong đời sống xã hội và đời sống khán giả, từ lâu, đã được xác nhận, không những trên phương diện lý luận chuyên biệt mà còn bởi thực tiễn hoạt động điện ảnh phong phú và sống động. Thử nhìn nhận điện ảnh trong mối quan hệ với khán giả từ góc độ văn hóa, chúng tôi đặt điện ảnh trong mối quan hệ tương thích với những yếu tố khác thuộc cấu trúc văn hóa nghệ thuật. Những yếu tố nội tại này gồm các lĩnh vực hay ngành hoạt động văn hóa nghệ thuật khác nhau như: âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, triển lãm, văn nghệ quần chúng...

Đồng thời, ở cấp độ khác, chúng tôi xem điện ảnh như hệ thống bao gồm các bộ phận: sáng tác, lưu giữ, phổ biến, hưởng thụ giá trị sáng tạo nghệ thuật điện ảnh. Như vậy, điện ảnh có quan hệ nhiều chiều, mang tính đa chức năng: vừa là yếu tố của một hệ thống lớn (văn hóa nghệ thuật), đồng thời vừa là hệ thống của những yếu tố nhỏ (các khâu sản xuất phim; phát hành phổ biến phim; đánh giá, phê bình, hưởng thụ phim...). Và, trong mối tương quan với đối tượng của nó (tức khán giả), điện ảnh thể hiện cả hai cấp độ chức năng này. Dù mức độ biểu hiện, phương thức tiến hành, hiệu quả đạt được như thế nào... còn phụ thuộc vào đặc trưng của đối tượng khán giả, song rõ ràng, ở đây, thấy xuất hiện hai mối quan hệ chính: điện ảnh trong mối quan hệ với các lĩnh vực hoạt động văn hóa nghệ thuật khác; và mối quan hệ giữa chủ thể (điện ảnh) với đối tượng (khán giả). Phân tích đôi nét đặc trưng của chủ thể và đối tượng, cũng như mối liên hệ hai chiều giữa chúng, từ góc nhìn của văn hóa, có lẽ sẽ gợi ra nhiều vấn đề cần chú ý trong nhận diện cũng như thúc đẩy hoạt động điện ảnh và hoạt động khán giả hiện nay.

Nhìn nghệ thuật điện ảnh như bộ phận của cấu trúc văn hóa, về mặt hình thức thể loại, hiện nay, các nhà nghiên cứu lý luận phê bình cũng như các nhà hoạt động thực tiễn có xu hướng phân cấu trúc văn hóa thành ba dòng khác nhau, theo ký hiệu biểu tượng mà nó tồn tại trong đời sống: dòng đọc (sách, báo, tạp chí...); dòng nhìn (hội họa, nghệ thuật tạo hình, kiến trúc...) và dòng nghe- nhìn (điện ảnh, sân khấu, ca nhạc, truyền hình, mạng xã hội...). Trong cấu trúc đó, điện ảnh thuộc dòng phương tiện nghe nhìn, ở đó, nó bộc lộ vị trí, vai trò, chức năng hết sức quan trọng đối với cơ cấu hoạt động văn hóa, đồng thời cũng thể hiện khả năng tổng hợp của nó trong việc kế thừa phương thức, thành tựu của các ngành nghệ thuật khác. Trong khi cả ba dòng nghệ thuật này có xu thế và mức độ phát triển khác nhau, thì, thực tế, các ngành thuộc dòng nghe - nhìn vẫn có điều kiện và khả năng phát triển hơn cả, trong đó nổi bật là nghệ thuật điện ảnh. Như vậy, có thể nói, trong tương quan chung với hàng loạt ngành thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, chúng ta đã có thể nhận biết, khẳng định được vị thế quan trọng và vai trò tiên phong của điện ảnh nhờ vào mức độ thẩm thấu cũng như diện mạo thực sự của nó trong đời sống xã hội nói chung, trong đời sống tinh thần của khán giả nói riêng.

Là yếu tố của hệ thống văn hóa, nghệ thuật điện ảnh không thể nằm ngoài sự chi phối của đường lối văn hóa văn nghệ, của hệ phương pháp thực hành văn hóa, cũng như của nhu cầu văn hóa toàn diện của con người. Đường lối văn hóa văn nghệ là nhất quán; hệ phương pháp sáng tạo có tính chất chung, nhưng nhu cầu văn hóa và thị hiếu nghệ thuật của khán giả thì hết sức phức tạp. Sự phức tạp này thể hiện rất rõ trong sự phong phú, đa dạng của các đối tượng khán giả điện ảnh với nhu cầu, thị hiếu, sở thích, tâm sinh lý, nghề nghiệp, lứa tuổi khác nhau. Chẳng hạn, khán giả điện ảnh, đã đành là yêu thích và có nhu cầu thưởng thức điện ảnh, song đồng thời họ cũng có nhu cầu thưởng thức các loại hình khác, ở mức độ thấp hơn. Và trong bản thân nhu cầu thưởng thức điện ảnh của khán giả, cũng bộc lộ sự khác nhau trong sự lựa chọn thể loại, loại hình phim ảnh. Có khán giả của phim truyện, cũng có khán giả của phim tài liệu, hoạt hình... Và, trong mối quan hệ hai chiều giữa nghệ thuật điện ảnh và khán giả, chủ thể (điện ảnh) cần phổ biến và tiêu thụ phim; đối tượng (khán giả) cần hưởng thụ giá trị phim ảnh để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng nghệ thuật phong phú của mình.

Do đó, một yêu cầu đặt ra là, ngành Điện ảnh phải có được sự phát triển mạnh về số lượng và chất lượng phim ảnh; về sản phẩm cũng như phương tiện phổ biến, phát hành phim; về sự hiểu biết đối tượng khán giả..thì mới có thể chiếm được vị trí tối ưu trong sự lựa chọn và chấp nhận của nhiều lớp khán giả đông đảo . Do đó, để thu hút được khán giả, rõ ràng, điện ảnh vừa phải thể hiện mình như là một bộ phận cần thiết của văn hóa; vừa phải tự nâng mình để cạnh tranh với các loại hình nghệ thuật khác. Đồng thời, điện ảnh cũng phải tự cạnh tranh bằng cách nâng cao đồng bộ các khâu thuộc cấu trúc hệ thống của mình.

1.2. Nghệ thuật điện ảnh như là một hệ thống của sáng tạo điện ảnh và khán giả hưởng thụ giá trị điện ảnh

Trong tương quan nội tại, nghệ thuật điện ảnh được cấu thành bởi các khâu nhỏ hơn như: sáng tạo- sản xuất phim (biên kịch, đạo diễn, diễn viên...); lưu trữ và phát hành phim; hưởng thụ phim (khán giả); phê bình- lý luận về phim ảnh... Chính quan hệ tương hỗ giữa các khâu bên trong điện ảnh là điểm mà chúng ta cần lý giải kỹ. Trong hệ thống này, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới mối liên hệ giữa khâu đầu và khâu cuối của chu trình vận hành sản phẩm điện ảnh, đó là sản xuất phim (sáng tạo nghệ thuật) và tiêu thụ phim (quá trình khán giả thưởng thức giá trị phim ảnh). Quá trình này bộc lộ nhu cầu, thị hiếu đa dạng của khán giả, đồng thời cũng bộc lộ xu hướng phát triển của điện ảnh với mục tiêu phục vụ ngày càng đông đảo khán giả nhiều thành phần.

Điện ảnh là một loại hình nghệ thuật tổng hợp và còn có khả năng giới thiệu những thành tựu của các loại hình nghệ thuật khác đến với đông đảo khán giả qua sự nhanh nhạy của thông tin; chức năng truyền cảm mạnh mẽ, trực tiếp của hình ảnh; mức độ sâu rộng của mạng lưới phổ biến; sự tối giản về lực lượng và phương tiện hoạt động; tần số tiếp xúc cao của nó với khán giả các loại hình... Đặc điểm và đặc trưng tổng hợp này cho phép, một mặt, định hình được diện mạo cũng như phương pháp vận động loại hình, đảm bảo sản phẩm là điện ảnh chứ không phải sản phẩm của một loại hình nào khác; mặt khác, tạo khả năng tiếp xúc sâu rộng tới nhiều nhóm, lớp, cấp độ đối tượng khán giả, góp phần tạo cơ chế hưởng thụ tổng hợp của khán giả thông qua phim ảnh.

Như vậy, trong hệ thống điện ảnh chủ thể sản xuất (sáng tạo nghệ thuật) điện ảnh có vai trò quan trọng trong sáng tạo sản phẩm, song, ở một phía khác, khâu quan trọng, mấu chốt vẫn là đặc trưng đối tượng (khán giả) hưởng thụ điện ảnh. Thực vậy, sản phẩm điện ảnh chỉ sống được, đứng vững được nếu nó hoà được với cuộc sống, đáp ứng được nhu cầu của quần chúng nhân dân, nói được những điều khán giả đang nghĩ suy, trăn trở, giải quyết được những vấn đề họ cần, họ muốn... Không nhận biết nhu cầu, không phân loại được đối tượng khán giả theo những tiêu chí khoa học, chắc chắn khâu sáng tạo nghệ thuật sẽ lúng túng trong phương thức sản xuất, trong lưu giữ và phân phối sản phẩm điện ảnh.

Với tư cách là những người hưởng thụ sản phẩm điện ảnh, khán giả hiện nay trở nên hết sức phức tạp trong thoả mãn nhu cầu, cũng như trong thưởng thức, đánh giá, bình phẩm, chọn lựa... tác phẩm điện ảnh. Điều này phụ thuộc vào đặc trưng đối tượng, vào các yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến đối tượng khán giả. Về đối tượng khán giả nói chung, có thể có nhiều tiêu chí nhận diện: phân loại theo vùng (đô thị, nông thôn, vùng núi, đồng bằng, ven biển, hải đảo...); phân loại theo nhóm xã hội (nhóm bạn bè, nhóm nghề nghiệp, nhóm lứa tuổi, nhóm giới tính...); phân loại theo tộc người… Mỗi cách phân loại đều hàm chứa ưu điểm và nhược điểm riêng.

Giữa các đối tượng khán giả, theo những tiêu chí phân loại ấy, có những khác biệt trong sự tương đồng. Thứ nhất, sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, phương thức sinh hoạt, phong tục tập quán, trình độ văn hóa... Thứ hai, sự khác biệt về mặt bằng học vấn, tri thức văn hóa, tâm lý hưởng thụ, khả năng và mức độ hình thành biểu tượng phim ảnh. Thứ ba, sự khác biệt về mức độ tiếp xúc, quan điểm văn hóa, xu hướng đánh giá, tiếp thu và lựa chọn phim ảnh. Thứ tư, khác biệt về những biểu hiện nhu cầu, thị hiểu sở thích; về phương tiện và cơ sở vật chất; về quỹ thời gian dành cho việc hưởng thụ giá trị phim ảnh. Thứ năm, khác biệt về mức độ ảnh hưởng của điện ảnh trong tương quan loại hình với các nghệ thuật khác trong cơ cấu văn hóa nói chung... và nhiều khác biệt mang tính đặc trưng khác. Từ những khác biệt có tính chất khái quát đó, trên cơ sở những tương đồng của khán giả điện ảnh, chúng ta có thể tìm hiểu đặc trưng của khán giả điện ảnh nói chung hay bất cứ đối tượng khán giả nào thuộc loại hình này. Đặc trưng này không hội tụ ở một vài điểm nào đó mà được thể hiện trong mọi khía cạnh của đối tượng. Trong đó, nhu cầu cũng như sự biểu hiện cơ bản nhất của nhu cầu có lẽ là đòi hỏi được hưởng thụ một cách chân thật, cụ thể, đơn giản và phù hợp… những gì thuộc về cuộc sống mà nghệ thuật điện ảnh thể hiện. Do đó, nếu bản thân các tác phẩm điện ảnh không phản ánh được hơi thở cuộc sống ở những gì bản chất nhất, thì chắc chắn khán giả sẽ quay lưng lại với điện ảnh.

Về mối quan hệ giữa điện ảnh và khán giả dưới góc nhìn cấu trúc văn hóa, về thị trường các loại phim nhựa, phim truyền hình, phim mạng xã hội cũng như sự vận động của chúng, vẫn còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nghiên cứu. Chúng tôi đã nhìn điện ảnh từ cách tiếp cận hệ thống để thấy rõ thêm vị thế của loại hình này trong cấu trúc chung của văn hóa, đồng thời để nhận diện cấu trúc toàn diện của điện ảnh nhằm giải toả mối lo ngại của không ít người cho rằng điện ảnh khủng hoảng chỉ là do nó bị cạnh tranh của các loại hình nghệ thuật khác ăn khách hơn. Vấn đề không phải như vậy. Nếu điện ảnh không giải quyết ổn thoả từng khâu của nó trong một chu trình khép kín, đặc biệt là khâu sáng tạo và hưởng thụ, tức mối quan hệ giữa tác phẩm và công chúng, thì khó có thể tạo nên một thị trường tiêu thụ rộng rãi và sôi nổi.

Đã có lúc, chúng ta vẫn quan niệm quan hệ điện ảnh – khán giả là quan hệ cho và nhận. Bởi trước kia, người dân có gì hưởng thụ cái đó. Hiện nay, cơ chế cho - nhận đó có biến động về chất. Do thế, người ta không chỉ cần chú ý đến sáng tạo điện ảnh (cho những gì, bằng phương thức nào, có phù hợp với thị hiếu và sở thích của khán giả không, có đem lại kết quả như dự kiến không...) mà còn phải đặc biệt chú ý đến khâu hưởng thụ (sự lựa chọn khi tiêu thụ; yếu tố thị hiếu, sở thích, thói quen khán giả...). Như vậy, điện ảnh luôn phải tạo thế chủ động trong mối quan hệ với khán giả, bằng cách sáng tạo những món ăn tinh thần phù hợp với trình độ nhận thức cũng như nếp cảm xúc của khán giả, từ đó nâng cao khả năng hưởng thụ của khán giả, kéo khán giả về phía mình. 

điện ảnh 2.jpg
Công nghiệp điện ảnh thu hút sự quan tâm của công chúng

2. Một cách nhìn khái quát về thực trạng sáng tạo điện ảnh và tiếp cận khán giả điện ảnh hiện nay 

Một trong những mục tiêu trong thực hiện chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2030 là phát triển điện ảnh theo hướng công nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế, đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Để đạt được điều này, ngành Điện ảnh đang cần thêm những động lực để bứt phá. Sự phân tích bản thân thực trạng điện ảnh cả nước và trên thế giới đang hé cho chúng ta những lời giải đáp có tính chất cơ bản về hành trình phát triển điện ảnh ở nước ta. Đó vừa là hành trình sáng tạo nghệ thuật, vừa là quá trình tiếp cận khán giả và hội nhập với thế giới, vừa xây dựng hệ sinh thái sáng tạo nghệ thuật, vừa đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, quảng bá, xúc tiến thương mại và bảo vệ bản quyền để phát triển bền vững. 

2.1. Vài nét về thực trạng sáng tạo điện ảnh Việt Nam gần đây

Xét đến cùng, sáng tạo tác phẩm điện ảnh chỉ có thể tồn tại và phát triển, nếu nó, ngoài việc thể hiện thiên chức phản ánh hiện thực phong phú của cuộc sống, còn chú trọng đến người tiêu thụ như là một đối tượng quan trọng.

Về thực trạng chung của sáng tạo nghệ thuật điện ảnh Việt Nam gần đây, có thể đề cập một số nội dung cơ bản sau:

Nhà nước và các tổ chức, cơ quan, đoàn thể đang nỗ lực tạo dựng một hệ sinh thái điện ảnh năng động để điện ảnh Việt Nam phát triển mạnh mẽ, trong đó chú trọng đến vai trò của các thành phố sáng tạo, các trung tâm sáng tạo điện ảnh.

Các bộ phim và nghệ sĩ đang ngày càng sáng tạo các tác phẩm có chất lượng nghệ thuật, có chiều sâu, phản ánh nhiều khía cạnh văn hóa và xã hội của đất nước.

Việc hội nhập trong kỷ nguyên số đặt ra yêu cầu cao trong việc ứng dụng công nghệ, gia tăng hơn nữa truyền thông về điện ảnh, bảo vệ bản quyền để điện ảnh Việt Nam có thể phát triển... 

Trong sự phát triển, điện ảnh không tránh khỏi sự cạnh tranh của phim truyền hình, và nay phim trên mạng xã hội, chưa kể sự cạnh tranh của các loại hình nghệ thuật khác. Chúng ta không  phủ nhận những thành tựu có được khi ngành Điện ảnh tự vận động vượt lên, tồn tại và phát triển; chúng ta cũng không loại trừ sự tác động tiêu cực của một bộ phận khán giả vào những bước đi cụ thể của điện ảnh, song, trong mối quan hệ thầm lặng giữa điện ảnh và khán giả, xin hãy coi khán giả thực sự là một đối tượng văn hóa, có nhu cầu văn hóa và phải được trang bị kiến thức chuyên ngành, phải được thỏa mãn ở mức độ cao nhất bởi những giá trị văn hóa đích thực. Như thế, điện ảnh phải làm một cuộc hành trình đi tìm khán giả của mình chứ không phải dậm chân tại chỗ. Tất nhiên, sự kiếm tìm này luôn có hai mặt, song không thể không thấy rằng quyền hưởng thụ của khán giả đang được nâng lên, phù hợp với tình hình mới. Việc làm chính của điện ảnh hiện nay là nâng cao chất lượng, nội dung phim lên ngang tầm cuộc sống, đặt và lý giải được những vấn đề mà khán giả quan tâm về thời đại, đất nước, dân tộc và đặc biệt là thân phận con người hết sức phức tạp.

Những năm gần đây, khâu sáng tạo nghệ thuật điện ảnh đã có bước phát triển mới. Số lượng phim tăng thêm. Chất lượng phim ổn định hơn. Công tác tiếp cận khán giả tốt hơn. Và số phim đạt doanh thu cao nhiều hơn, trong đó có những bộ phim doanh thu hàng trăm tỷ đồng...

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng ấy, vẫn còn những tồn tại cần khắc phục. Một trong những hạn chế lớn nhất là sự thiếu hụt kịch bản hay, có chiều sâu. Nhiều bộ phim vẫn khai thác đề tài cũ, mô típ quen thuộc, hoặc chạy theo thị hiếu tầm thường, gây tranh cãi trong dư luận. Bên cạnh đó, khó khăn cốt lõi của điện ảnh Việt Nam trong nhiều năm qua và hiện nay vẫn chính là sự thiếu hụt trầm trọng về nhân lực trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật. Đây là những nội dung cốt yếu cần truyền thông một cách cụ thể, rõ ràng để có giải pháp ứng phó.

2.2. Nhìn vào hành trình tiếp cận khán giả của điện ảnh Việt Nam

Ở bộ phận này, chúng ta có thể đề cập một số nội dung nổi bật sau:

Chúng ta đã tăng cường truyền thông về điện ảnh thông qua việc tổ chức các sự kiện văn hóa hấp dẫn, nơi có khu vực dành riêng cho điện ảnh, tạo cơ hội để khán giả được xem phim miễn phí và khám phá không gian nghệ thuật sáng tạo; tăng cường hoạt động giao lưu giữa các đoàn làm phim và khán giả giúp kết nối và lan tỏa tinh thần làm phim đến cộng đồng...

Các cơ quan quản lý điện ảnh, các nhà làm phim đã chú trọng thúc đẩy quảng bá điện ảnh và hình ảnh đất nước qua các liên hoan phim, triển lãm và sự kiện văn hóa khác tới đông đảo khán giả trong và ngoài nước.

Điện ảnh Việt Nam đang dần đa dạng hóa nội dung và hình thức để thu hút nhiều đối tượng khán giả hơn... 

Tuy nhiên, lâu nay, chúng ta thường chú trọng sáng tạo nghệ thuật điện ảnh hơn việc tiếp cận và chinh phục khán giả. Đã có không ít người đề cập đến thế hệ của các nhà sáng tạo điện ảnh, thế hệ đạo diễn, diễn viên, phê bình... nhưng về một thế hệ khán giả thì chưa. Vẫn còn tư duy coi khán giả là một bộ phận tách rời, là những người được hưởng thụ chứ không phải những người góp phần làm ra giá trị phim ảnh. Trái lại, thế hệ khán giả hiện đại đã đổi khác về chất bởi họ thấy được nhu cầu và cách hưởng thụ của họ sẽ có tác dụng kích thích hay hạn chế quá trình sáng tạo điện ảnh. Có lẽ, cũng nên hình dung khuôn mặt cơ bản, nếu không nói là toàn cảnh, của khán giả hiện nay để có cái nhìn đúng đắn hơn trong sáng tạo nghệ thuật cũng như truyền thông về điện ảnh.

Trước hết, nhu cầu và thời đại thông tin đang phát triển mạnh. Muốn hay không, khán giả cũng chịu ảnh hưởng của những kênh thông tin khác nhau, ngày một phong phú, hiện đại. Điện ảnh phải lột xác trong một tình trạng cạnh tranh với không ít "đối thủ": mạng xã hội, phim truyền hình, báo chí, văn học và các loại hình nghệ thuật khác. 

Thứ hai, khán giả có tâm lý luôn đi đến với những gì tiện lợi hơn cả trước khi quan tâm đến những nội dung mà bộ phim đem lại. Mạng lưới rạp của chúng ta trong thời gian qua đã có những bước tiến phát triển đáng kể nhưng chưa đồng đều, hệ thống rạp hiện đại vẫn tập trung chủ yếu ở các đô thị, nhất là một số thành phố lớn. Ở nhiều nơi, vẫn còn tồn tại hệ thống rạp cũ kĩ, xuống cấp, khó có thể đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của công chúng.  

Thứ ba, vai trò của truyền thông, tuyên truyền, quảng cáo phim, đối với khán giả là hết sức quan trọng. Gần đây, chúng ta cũng đã có chú ý đến vấn đề này. Và thực tế, những phim “ăn khách” của ta vừa qua cũng chính là những phim mà nhà sản xuất chịu chi cho quảng cáo nhiều nhất. Tất nhiên, khán giả coi trọng sự quảng cáo trung thực, không thổi phồng. Chú trọng đúng mức đến truyền thông, tuyên truyền,  quảng cáo cũng là một hình thức mách nước và thu hút khán giả đến rạp thưởng thức giá trị nghệ thuật điện ảnh.

Thứ tư, nhu cầu đa dạng và thị hiếu thẩm mỹ của đông đảo khán giả chưa được các nhà sáng tạo nghệ thuật điện ảnh tính đến một cách đầy đủ. Tình trạng xảy ra nhiều khi là người sáng tạo theo đuổi mục đích của bản thân mình, mà chưa chú ý đến mong muốn, nhu cầu thưởng thức của khán giả. Do đó, cần đẩy mạnh nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu khán giả, dự báo được xu hướng phát triển,  đề tài, nhu cầu sáng tạo, xu hướng biến động về chính sách, về phương hướng, nhu cầu khán giả... giúp ích cho những người làm phim trong việc đáp ứng nhu cầu khán giả và định vị nội dung sáng tạo nghệ thuật…

Một số điểm phác qua như vậy cho thấy khán giả bây giờ hết sức biến động.  Sống trong thời đại bùng nổ thông tin với sự đa dạng của các loại hình nghệ thuật, năng lực con người bị chia sẻ, khó có sự chú tâm vào một hay vài loại hình như trước kia. Tuy vậy, điện ảnh vẫn còn xung quanh mình không ít những khán giả đích thực, tâm huyết. Chỉ có một điều điện ảnh phải tự nâng mình để có lại sức hút mạnh mẽ vốn đã có và vẫn tiềm tàng.

Vậy, bên cạnh thành công của một số bộ phim, vẫn còn không ít bộ phim vắng khách, phim ít người xem đâu phải hoàn toàn do khán giả. Thậm chí, lỗi về phía khán giả phải được coi là nhỏ hơn lỗi của bản thân các nhà sáng tạo điện ảnh. Nói cho cùng, vấn đề cốt yếu là phải tái tạo lại cơ chế cho điện ảnh, thống nhất được các khâu căn bản trong một quá trình vận hành chặt chẽ, từ sản xuất đến chiếu phim, từ quảng cáo, truyền thông đến thu hút khán giả. Nếu không tự nâng mình lên bằng chất lượng phim, kỹ xảo hiện đại, đạo diễn và diễn viên tài năng; cũng như hiện đại hóa phương tiện và cơ sở kỹ thuật tiên tiến, thì điện ảnh sẽ khó thu hút khán giả. 

Xung quanh câu chuyện về mối quan hệ giữa sáng tạo điện ảnh và chinh phục khán giả còn rất nhiều chuyện cần bàn. Và một trong những vấn đề đó, như một giải pháp rất cơ bản, là phải tăng cường truyền thông về chính sách sáng tạo nghệ thuật và tiếp cận khán giả điện ảnh trong kỷ nguyên số.

ĐIỆN ẢNH 4.jpg
Du khách trải nghiệm công nghệ chỉnh màu cho phim

3. Truyền thông chính sách sáng tạo nghệ thuật điện ảnh và tiếp cận khán giả điện ảnh – từ góc nhìn truyền thông văn hóa

3.1. Truyền thông văn hóa: Có nhiều cách hiểu về truyền thông văn hóa, chẳng hạn:

“Truyền thông văn hóa là quá trình ...tái hiện/ trình hiện, thể hiện, khẳng định các hình thức văn hóa và quá trình sáng tạo, thích ứng và chuyển đổi các hình thức văn hóa để đáp ứng các tình huống bất trắc của cuộc sống hằng ngày.” (1)

“Truyền thông văn hóa là hoạt động mà con người thực hiện để giải quyết các nhu cầu truyền thông trong đời sống” (2). 

“Truyền thông văn hóa là quá trình chia sẻ, trao đổi, truyền tải, lan tỏa ý nghĩa, giá trị, bản sắc, đặc trưng của một nền văn hóa thông qua sử dụng ngôn ngữ và biểu tượng, phương tiện và cách thức truyền thông. Truyền thông văn hóa lấy văn hóa làm mục đích. Văn hóa thông qua truyền thông, tận dụng  truyền thông để lan tỏa, trao đổi, lưu truyền, khuếch tán các giá trị văn hóa. Có thể hiểu truyền thông là công cụ, phương tiện, là cách thức như cái “vỏ bên ngoài” còn văn hóa là giá trị cốt lõi, là linh hồn, tinh chất được chưng cất bên trong của mỗi sản phẩm, chương trình truyền thông. Truyền thông văn hóa làm cho truyền thông không chỉ hay hơn, đẹp hơn, hấp dẫn hơn mà còn lan tỏa, quảng bá và góp phần bảo tồn các giá trị, cái hay, cái đẹp, cái độc đáo của mỗi nền văn hóa” (3)...

“Trong toàn bộ hệ thống các hiện tượng xã hội, truyền thông được coi là một hoạt động văn hóa đặc thù. Nó vừa là kết quả của một quá trình văn hóa vừa có sự liên hệ tác động qua lại đối với các hiện tượng văn hóa khác” (4).

Bên cạnh vấn đề truyền thông văn hóa còn song hành một khái niệm văn hóa truyền thông với đa dạng cách hiểu và cách định nghĩa. Một cách khái quát, chúng tôi tán đồng cách định nghĩa sau: “Toàn bộ quá trình xuất hiện và biến đổi của hiện tượng truyền thông trong đời sống nhân loại cùng sự xác lập những mối tương tác của nó đối với các hiện tượng xã hội khác được gọi là văn hóa truyền thông” (5).

Vì thế, có thể coi truyền thông văn hóa là lĩnh vực nghiên cứu sự tương tác giữa truyền thông và văn hóa, xem truyền thông vừa là công cụ, phương tiện tiện lợi, vừa là một phần của văn hóa để tạo ra và truyền tải các giá trị, ý tưởng và thông điệp trong một quốc gia, một cộng đồng... Trong đó, truyền thông là công cụ, phương tiện tiện ích, còn văn hóa là mục tiêu, tài nguyên hệ thống. Nó bao gồm khả năng phân tích các phương tiện truyền thông, kỹ thuật truyền thông và cách chúng định hình, phản ánh ánh sáng và tương tác với đời sống văn hóa xã hội. 

3.2. Truyền thông chính sách văn hóa

Truyền thông chính sách văn hóa là quá trình các cơ quan nhà nước tương tác hai chiều với công chúng, với người dân để đưa thông tin về chính sách văn hóa, nhằm tạo sự đồng thuận, tăng cường hiểu biết và thay đổi nhận thức, hành vi đối với các vấn đề văn hóa. Nó đóng vai trò là cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân, giúp chính sách văn hóa đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả.

Chu trình truyền thông chính sách văn hóa có thể gồm: Nhận diện các vấn đề văn hóa, xây dựng chính sách để giải quyết vấn đề, triển khai thực thi chính sách trên thực tế, truyền thông chính sách (thông báo, giải thích, vận động) để công chúng hiểu và tham gia vào quá trình thực thi chính sách, đánh giá hiệu quả của chính sách... 

Vai trò của truyền thông chính sách văn hóa: tạo sự đồng thuận và ổn định xã hội, giúp mọi người hiểu và ủng hộ các chính sách văn hóa của Nhà nước; thúc đẩy sự phát triển, góp phần thực hiện các nhiệm vụ chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa; nâng cao hiệu quả lãnh đạo và quản lý, giúp các cấp, các ngành điều hành chính sách văn hóa hiệu quả hơn. 

Các hình thức truyền thông: phương tiện truyền thông truyền thống (điện ảnh, báo chí, truyền hình, phát thanh, sách, tài liệu in ấn...); phương tiện truyền thông hiện đại (internet, mạng xã hội...). 

Truyền thông chính sách văn hóa, xét cho cùng, là quá trình tương tác, trao đổi thông tin giữa cơ quan truyền thông nhà nước với công chúng nhằm tạo sự đồng thuận và ổn định xã hội trong quá trình thực thi các chính sách về văn hóa, mục đích là đạt đến mục tiêu dân biết, dân hiểu, dân tin, dân theo, dân làm, dân thụ hưởng các giá trị văn hóa. Ðược mặc định như một khâu trung gian, truyền thông chính sách văn hóa có vai trò đánh giá và giám sát công tác thực thi chính sách, định hướng và thu hút sự đồng thuận của người dân với các chính sách văn hóa được Nhà nước ban hành. Khi các chính sách ban hành hợp lòng dân, công tác tổ chức khoa học, được sự hỗ trợ đắc lực của truyền thông hiện đại, từ các kênh báo chí chính thống đến mạng xã hội và các nền tảng công nghệ, chắc chắn sẽ nhận được sự ủng hộ của đông đảo người dân. Sự thành bại của chính sách văn hóa, trong đó có chính sách điện ảnh, phụ thuộc không ít vào công tác truyền thông, nhất là trong thời kỳ toàn cầu hóa hiện nay.

3.3. Truyền thông về chính sách điện ảnh

Là một bộ phận của truyền thông chính sách văn hóa, truyền thông chính sách điện ảnh bao gồm việc truyền đạt thông tin, thông điệp về các quy định pháp lý, kế hoạch phát triển và định hướng của Nhà nước đối với ngành Điện ảnh và sự nghiệp phát triển điện ảnh, cũng như quảng bá các sản phẩm, sự kiện điện ảnh tới công chúng. Truyền thông về chính sách điện ảnh có thể bao gồm việc thông tin về các luật, chính sách mới, các cơ chế khuyến khích phát triển điện ảnh, và vai trò của ngành trong nền kinh tế sáng tạo... Các nội dung này được truyền thông nhằm phổ biến cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp và công chúng, tạo ra khuôn khổ pháp lý thuận lợi, thu hút đầu tư và phát triển ngành công nghiệp điện ảnh. 

Mục đích của truyền thông về chính sách điện ảnh là để phổ biến pháp luật, giúp các tổ chức, cá nhân hiểu rõ hơn về quy định pháp luật, từ đó tuân thủ và tham gia hoạt động điện ảnh một cách hiệu quả; tạo môi trường thuận lợi, thu hút sự tham gia của mọi tổ chức, cá nhân vào các hoạt động điện ảnh; nâng cao nhận thức, giúp công chúng hiểu rõ hơn về vai trò quan trọng của ngành điện ảnh đối với nền kinh tế và văn hóa; khuyến khích đầu tư, quảng bá hình ảnh quốc gia và định hướng sự phát triển bền vững của ngành điện ảnh... 

Chẳng hạn:

Truyền thông nhằm lý giải các điểm mới của chính sách liên quan đến điện ảnh (Luật Điện ảnh, Chiến lược phát triển điện ảnh...); nhấn mạnh sự thay đổi trong việc tạo khung pháp lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động điện ảnh.

Truyền thông về vai trò và tiềm năng kinh tế của điện ảnh như một ngành kinh tế sáng tạo quan trọng của công nghiệp văn hóa, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội, việc làm và kim ngạch xuất khẩu...

Thông tin về tiềm năng của các nền tảng xem phim trực tuyến theo yêu cầu đối với người dùng và doanh nghiệp...

Thông báo về các cơ chế, biện pháp của Nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư và phát triển cũng như huy động nguồn lực để phát triển điện ảnh trong đó đặc biệt quan trọng là khuyến khích xã hội hóa, đầu tư từ nhiều nguồn lực khác nhau để phát triển điện ảnh... Thông tin về những thay đổi trong quy định pháp lý tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực điện ảnh... 

Truyền thông sản phẩm và sự kiện qua quảng bá các bộ phim chiếu rạp, phim truyền hình, phim trên nền tảng số để thu hút khán giả; thông tin về sự kiện qua các liên hoan phim, giải thưởng điện ảnh, sự kiện văn hóa liên quan đến điện ảnh; truyền thông về các nội dung sáng tạo, có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện ngôn ngữ điện ảnh đặc trưng... 

Truyền thông cho đội ngũ sản xuất, cung cấp thông tin về các cơ hội việc làm trong ngành Điện ảnh, từ biên kịch, đạo diễn, kỹ thuật đến truyền thông, để thu hút nhân lực; truyền thông về xu hướng phát triển của ngành, các kỹ năng cần thiết để làm việc hiệu quả trong môi trường hiện đại...

Truyền thông cụ thể về quá trình sáng tạo nghệ thuật điện ảnh, về các bộ phim cụ thể; về đội ngũ sản xuất phim ảnh như đạo diễn, diễn viên, quay phim...; về quá trình lưu trữ, phổ biến, phát hành, quảng cáo phim; về đội ngũ khán giả đích thực của điện ảnh...

Đây là những vấn đề rất quan trọng cần được truyền thông một cách chính xác, cụ thể, tạo điều kiện dự báo những vấn đề nảy sinh trong sáng tạo và hưởng thụ giá trị điện ảnh, góp phần đề ra những giải pháp chính xác, hữu ích cho việc hoạch định và triển khai chiến lược phát triển điện ảnh Việt Nam. Hiện nay, có thể nhận thấy, truyền thông về điện ảnh nói chung, truyền thông về chính sách điện ảnh nói riêng đã bước đầu có sự ứng dụng công nghệ số và truyền thông đa phương tiện trong truyền thông chính sách. Các cơ quan nhà nước đã bắt đầu sử dụng các công cụ truyền thông số hiện đại, như mạng xã hội, video trực tuyến, và các nền tảng di động, để truyền tải thông tin chính sách tới đối tượng rộng hơn, đa dạng hơn. Các phương tiện truyền thông truyền thống cũng được tích hợp với các kênh số nhằm gia tăng hiệu quả truyền thông. Bên cạnh đó, hoạt động truyền thông chính sách điện ảnh đang chuyển đổi từ truyền thông một chiều sang đối thoại hai chiều và đa chiều, khuyến khích phản hồi và tương tác từ khán giả điện ảnh và công chúng nói chung.

Tóm lại, với những gì đã đề cập ở trên về sáng tạo nghệ thuật điện ảnh và đặc biệt là về khán giả điện ảnh hiện nay, có thể thấy: truyền thông chính sách sáng tạo nghệ thuật điện ảnh và tiếp cận khán giả điện ảnh là hai mặt của một vấn đề then chốt, đòi hỏi phải được đặt đúng vị trí quan trọng của nó và được coi như một giải pháp mấu chốt, căn bản cho việc phát triển nghệ thuật điện ảnh và chinh phục khán giả điện ảnh trong kỷ nguyên số.

___________________________

1, 2, 3. Nguyễn Thị Thu Thủy, Tiếp cận truyền thông văn hóa từ góc độ lý luận, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 587, tháng 11-2024.
4, 5. Nguyễn Đức Hạnh, Một số vấn đề xung quanh khái niệm văn hóa truyền thông, luanvanaz.com, 30-6-2015.