Sự chuyển dịch trong nghi lễ cưới hỏi, tang ma

Trong ký ức của những người già và cả trong ký ức tuổi thơ đám cưới ngày xưa là việc làng. Đó là những ngày vui giản dị, ấm áp tình thân với phông màn cắt bằng giấy màu thủ công, với những mâm cỗ cây nhà lá vườn mà lợn gà do gia chủ tự nuôi cả năm trời, rau cỏ tự trồng ngoài vườn, rượu tự nấu. Giá trị của đám cưới nằm ở sự chúc phúc chân thành và sự gắn kết bền chặt của cộng đồng.

Nhưng trở lại Mỹ Hào hôm nay, đặc biệt là tại khu vực đô thị hóa mạnh như Bần Yên Nhân, Phan Đình Phùng và các xã ven khu công nghiệp Phố Nối, đám cưới đã lột xác hoàn toàn. Nó không còn đơn thuần là nghi thức tác thành cho đôi lứa, mà đã biến đổi để trở thành những sự kiện đình đám, những show diễn văn hóa, nơi sự phô diễn của cải và khẳng định vị thế xã hội. Hiện tượng dễ nhận thấy nhất là sự gia tăng về quy mô và mức độ đầu tư cho đám cưới. Dường như có một cuộc đua ngầm giữa một số gia đình để xem đám cưới nhà ai to hơn, sang hơn, đông khách hơn, đám cưới sau phải to hơn đám cưới trước mới là “biết chơi”, mới là “đẳng cấp”.

Tác giả tham dự một vài đám cưới tại Bần Yên Nhân của các gia đình mới phất lên nhờ kinh doanh vận tải và buôn bán đất đai. Rạp cưới không còn dựng khiêm tốn trong sân nhà mà tràn ra lòng đường;  có gia chủ thuê trọn gói nhà văn hóa hoặc trung tâm tiệc cưới sang trọng với sức chứa hàng nghìn người.

Cổng hoa là lời chào đầu tiên của gia chủ được kết bằng hoa tươi nhập khẩu như hoa hồng Ecuador, hoa lan đắt tiền, thay vì cổng lá dừa hay hoa giả như trước. Sân khấu được trang bị màn hình LED khổng lồ chiếu ảnh cô dâu chú rể, hệ thống âm thanh ánh sáng, đèn laser không thua kém gì các sân khấu ca nhạc chuyên nghiệp. Thậm chí, gia chủ còn thuê cả ca sĩ, nhóm nhảy từ Hà Nội về biểu diễn trong ngày vui.

Cỗ bàn linh hồn của đám cưới Việt, thước đo sự hào phóng của gia chủ cũng trải qua một cuộc cách mạng về thực đơn. Những món ăn truyền thống, đậm đà bản sắc quê hương như thịt gà luộc, giò lụa, nem rán, canh măng... giờ đây bị coi là quê mùa, bình dân và dần bị loại bỏ khỏi thực đơn các đám cưới sang trọng. Thay vào đó là thực đơn mang hơi hướng nhà hàng, tiệc cưới công nghiệp: tôm chiên hoàng bào, bò sốt tiêu đen, cá diêu hồng hấp xì dầu, chân giò hầm, thậm chí là súp hải sản, đà điểu. Số lượng mâm cỗ cũng tăng lên chóng mặt, từ vài chục mâm nội bộ lên đến cả trăm mâm, với hàng nghìn khách mời, trong đó có rất nhiều khách mời chỉ là quan hệ xã giao sơ sài.

Chị Hoàng Thị Thu (một người dân buôn bán vải tại chợ Bao Bì, Bần Yên Nhân) chia sẻ: “Cô bảo, cả đời con người mới có một lần cưới xin cho con, mình làm ăn có lộc, có bát ăn bát để thì phải làm cho nó ra tấm ra món. Thiên hạ người ta nhìn vào đấy mà đánh giá. Mình làm xuề xòa quá người ta cười cho là keo kiệt, bủn xỉn, hoặc đồn đại ác ý là mình làm ăn thua lỗ, vỡ nợ nên phải làm chui lủi. Với lại, đám cưới bây giờ cũng là dịp để quan hệ, để các đối tác làm ăn nhìn vào quy mô mà tin tưởng tiềm lực của mình. Nó là cái bộ mặt làm ăn đấy cô ạ” (tư liệu điền dã ngày 10/3/2024).

Trong tư duy của không ít người dân Mỹ Hào hiện nay, đám cưới đã trượt khỏi ý nghĩa nguyên thủy là nghi lễ của tình thân để trở thành một cách thể hiện vị thế xã hội, uy tín gia đình.

Một biểu hiện khác của văn hóa tiêu dùng, là sự bùng nổ của dịch vụ chụp ảnh cưới. Nếu như trước đây, cô dâu chú rể chỉ có một tấm ảnh đen trắng chụp chung nghiêm trang tại phòng cưới để làm kỷ niệm, thì nay, việc chụp ảnh cưới đã trở thành một nghi thức bắt buộc và tốn kém.

Các cặp đôi công nhân trẻ tại Khu công nghiệp Phố Nối A, Thăng Long II, dù thu nhập chỉ ở mức trung bình (7-8 triệu đồng/ tháng), vẫn sẵn sàng chi cả tháng lương, thậm chí vay mượn bạn bè, gia đình để thực hiện những bộ ảnh cưới lộng lẫy (có giá từ 10-20 triệu đồng). Họ di chuyển đến các phim trường nhân tạo ở Hà Nội, các khu đô thị sinh thái như Ecopark, hay thậm chí đi du lịch xa đến Đà Nẵng, Nha Trang, Tam Đảo để có những bối cảnh như “Tây”.

Tại sao họ lại đầu tư lớn đến vậy? Những cuốn album dày cộp bìa da, những tấm ảnh phóng lớn ép gỗ treo đầy phòng khách không chỉ là kỷ niệm. Chúng là một dạng tài sản biểu trưng. Nó giúp những người công nhân vốn hằng ngày vất vả trong phân xưởng - kiến tạo nên một hình lý tưởng hóa về bản thân. Trong những bức ảnh đó, họ hóa thân thành hoàng tử, công chúa, thành những người thuộc tầng lớp trung lưu thành thị hạnh phúc, lãng mạn và hiện đại. Bên cạnh sự phô diễn bề nổi, cấu trúc tổ chức và vận hành của đám cưới tại Mỹ Hào cũng thay đổi triệt để, phản ánh sự chuyển dịch sâu sắc từ quan hệ xã hội dựa trên tình cảm sang quan hệ dựa trên hợp đồng, tiền tệ và sự tiện dụng.

Trước đây, đám cưới là dịp huy động tổng lực nguồn nhân lực, vật lực của cả dòng họ và xóm giềng. Trước ngày cưới cả tuần, không khí trong ngõ xóm đã rộn ràng. Các bà các mẹ đến giúp nhặt rau, vo gạo; các ông các chú đến giúp mổ lợn, dựng rạp, kê bàn ghế. Sự giúp công này là biểu hiện sinh động nhất của tính cố kết cộng đồng làng xã. Người ta giúp nhau vì tình nghĩa, vì niềm vui được chung tay và vì niềm tin vào sự có đi có lại, nay mình giúp người, mai người giúp mình. Không khí chuẩn bị đám cưới đôi khi còn vui hơn cả tiệc chính.

Nhưng ngày nay, tại Mỹ Hào, với áp lực thời gian của đời sống công nghiệp, ai cũng đi làm ca kíp, làm hành chính, con cái đi học, không ai còn đủ thời gian rảnh rỗi để đến giúp gia chủ nấu cỗ suốt mấy ngày trời. Thay vào đó là sự lên ngôi của ngành dịch vụ tiệc cưới trọn gói.

Chỉ cần một cú điện thoại, các nhà rạp, đội nấu cỗ chuyên nghiệp sẽ mang đến tận nơi từ cái bát, đôi đũa, bàn ghế, phông bạt đến thức ăn nóng hổi. Đội ngũ nhân viên phục vụ mặc đồng phục sẽ lo hết như bưng bê, tiếp nước, dọn dẹp. Gia chủ không phải động tay vào việc gì, chỉ việc mặc đẹp đứng tiếp khách.

Sự tiện lợi này giải phóng sức lao động cho người phụ nữ, giảm bớt sự vất vả, lo toan cho gia chủ. Nhưng đồng thời, nó cũng làm lạnh đi, làm công nghiệp hóa không khí đám cưới. Bà Phạm Thị Liên (60 tuổi, một người dân gốc ở xã Nhân Hòa) ngồi nhớ lại: “Ngày xưa đám cưới vui nhất là cái lúc làm cỗ, chị em xúm lại vừa thái su hào, vừa nhặt rau vừa buôn chuyện rôm rả, trêu đùa nhau, tiếng cười nói vang cả xóm. Mệt mà vui lắm cô ạ. Giờ thì thuê người ta làm hết, cỗ bàn bày sẵn ra đấy, ăn xong ai về nhà nấy, bát đĩa họ cũng dọn sạch mang đi. Nhàn thì có nhàn thật đấy, nhưng mà khách sáo thế nào ấy. Đến ăn rồi về, chẳng ai kịp nói với ai câu nào sâu sắc” (tư liệu điền dã, phỏng vấn sâu ngày 3/2/2024).

Nếu như ngày xưa, ở các làng quê Mỹ Hào, người ta mừng đám cưới bằng hiện vật thiết thực (cái chậu nhôm, cái phích nước Rạng Đông, bộ nồi niêu) để giúp đôi trẻ xây dựng tổ ấm từ những cái nhỏ nhất, thì nay, tất cả được quy đổi ra mẫu số chung là tiền mặt.

Nhiều công nhân tại các khu trọ Lỗ Xá, Phan Đình Phùng tâm sự rằng họ thực sự sợ mùa cưới. Bởi lẽ, nhận một tấm thiệp mời đồng nghĩa với việc thâm hụt ngân sách sinh hoạt vốn đã eo hẹp. Có những tháng cao điểm, họ nhận 5-7 cái thiệp mời, tiền mừng cưới chiếm đến 1/3 tháng lương. Nhiều người chạy vạy để có tiền đi ăn cưới cho đẹp mặt, vì nếu không đi thì sợ mất quan hệ, sợ bị chê trách.

Trong khi đó, đám ma tại Mỹ Hào lại có những kỳ lạ, nơi sự bi thương được “sân khấu hóa”, trình diễn hóa. Người ta vẫn nói nghĩa tử là nghĩa tận, nhưng quan sát thực tế cho thấy, tang lễ cũng đang trở thành nơi để người sống cạnh tranh ngầm về lòng hiếu thảo và vị thế gia tộc.

Tại không ít đám tang ở Bần Yên Nhân hay Phan Đình Phùng, nhận thấy sự xuất hiện ngày càng nhiều và dày đặc của các dịch vụ tang lễ đắt tiền. Số lượng vòng hoa viếng trở thành thước đo trực quan cho uy tín của người quá cố và vị thế, quan hệ xã hội của con cháu. Một đám ma mà vòng hoa xếp dài từ trong nhà ra ngoài ngõ, tràn ngập cả lối đi được coi là đám ma to, đám ma đẹp, chứng tỏ gia đình có phúc, con cháu thành đạt, quan hệ rộng. Có những đám tang, sau khi hỏa táng, hàng trăm vòng hoa bị vứt bỏ, chất đống ở bãi rác hoặc đốt đi, gây lãng phí lớn và ô nhiễm môi trường. Dù nhiều người biết là lãng phí, nhưng họ vẫn không thể bỏ được thói quen này vì áp lực dư luận, vì sợ thiên hạ cười chê là con cháu ki bo với người chết, hoặc sợ mình đi viếng ít hơn người khác thì mất mặt.

Đặc biệt, dịch vụ kèn trống (nhạc hiếu) đã biến đổi mạnh mẽ, đôi khi đến mức thái quá. Không chỉ dừng lại ở phường bát âm truyền thống nhị, sáo, trống, kèn với những giai điệu bi ai, trầm lắng, nhiều gia đình hiện nay thuê cả đội kèn đồng với đồng phục hoành tráng, kèn trumpet, trombone sáng loáng. Họ thổi những bài nhạc vừa bi ai lại vừa hào hùng, có lúc sôi động như nhạc hành khúc.

Thậm chí, có những đội kèn thuê cả người hát những bài khóc cha, khóc mẹ vô cùng thảm thiết. Sự chuyên nghiệp hóa này giúp tang lễ diễn ra trang trọng, trật tự hơn theo kịch bản, nhưng nó cũng đặt ra câu hỏi lớn về tính chân thực của cảm xúc. Khi nỗi đau được lập trình, được điều phối bởi kịch bản và dịch vụ trả tiền, liệu cái tình mộc mạc, chân thật trong tang ma có còn nguyên vẹn? Phải chăng, trong xã hội công nghiệp gấp gáp này, người ta không còn đủ thời gian và sự tĩnh lặng để đau nỗi đau của chính mình, mà phải nhờ đến các dịch vụ chuyên nghiệp để đau hộ?

Trong cả phong tục cưới xin và tang ma, người dân Mỹ Hào đang bị mắc kẹt giữa hai dòng. Một bên là mong muốn giữ gìn những giá trị tình cảm đạo nghĩa truyền thống như nghĩa tử là nghĩa tận, tình làng nghĩa xóm. Một bên là áp lực của kinh tế thị trường, của sự tiện lợi và nhu cầu khẳng định vị thế cá nhân thông qua tiêu dùng phô trương. Sự thương mại hóa nghi lễ đã giải phóng họ khỏi những ràng buộc lao động vất vả (nấu cỗ, dựng rạp), nhưng lại buộc họ vào những hoàn cảnh biến đổi mới: gánh nặng tài chính và những cuộc đua tranh đôi khi phù phiếm về mặt hình thức. Những nghi lễ vòng đời, thay vì là dịp để gắn kết cộng đồng và xoa dịu tâm hồn, đang dần trở thành gánh nặng kinh tế và tâm lý cho không ít gia đình, đặc biệt là những người thu nhập thấp đang cố gắng hụt hơi để chạy theo mức sống đô thị hào nhoáng.

4. Kết luận

Nghiên cứu cho thấy rằng quá trình thương mại hóa và sự gia tăng vai trò của biểu trưng tiêu dùng đã và đang làm thay đổi căn bản cấu trúc và ý nghĩa của các nghi lễ cưới hỏi và tang ma tại phường Mỹ Hào. Từ những thực hành văn hóa mang tính cộng đồng, đề cao giá trị tình cảm và đạo lý, các nghi lễ này đang chuyển dần sang mô hình tổ chức dựa trên dịch vụ và thị trường, trong đó tiêu dùng trở thành phương tiện để biểu đạt vị thế xã hội. Trong nghi lễ cưới hỏi, sự gia tăng quy mô, chi phí và mức độ đầu tư phản ánh xu hướng tiêu dùng phô trương nhằm chuyển hóa vốn kinh tế thành vốn biểu trưng. Trong khi đó, tang ma cũng không nằm ngoài xu hướng này khi các yếu tố trình diễn và dịch vụ hóa ngày càng chiếm ưu thế, làm thay đổi cách thức biểu đạt cảm xúc và chuẩn mực hiếu đạo trong cộng đồng.

Bên cạnh những mặt tích cực như nâng cao tính chuyên nghiệp, giảm bớt gánh nặng lao động và phù hợp với nhịp sống hiện đại, quá trình này cũng kéo theo nhiều hệ quả như gia tăng áp lực tài chính, cạnh tranh hình thức và sự suy giảm tính gắn kết cộng đồng. Đặc biệt, việc tiêu dùng mang tính biểu trưng có thể dẫn đến sự lệch chuẩn trong nhận thức về giá trị văn hóa, khi hình thức vật chất lấn át ý nghĩa tinh thần của nghi lễ.

Từ trường hợp nghiên cứu tại Mỹ Hào, có thể khẳng định rằng sự biến đổi trong nghi lễ cưới hỏi và tang ma không chỉ là sự thay đổi về hình thức tổ chức, mà là biểu hiện của một quá trình tái cấu trúc sâu sắc hệ giá trị văn hóa trong xã hội đương đại. Điều này đặt ra yêu cầu cần có sự định hướng phù hợp nhằm dung hòa giữa bảo tồn giá trị truyền thống và thích ứng với bối cảnh phát triển hiện đại, qua đó đảm bảo sự phát triển bền vững về văn hóa trong tiến trình công nghiệp hóa và đô thị hóa.

____________________

Tài liệu tham khảo

1. Dương Thị Cẩm. (2012). Tuyển tập địa chí Hưng Yên. Sở Thông tin và Truyền thông Hưng Yên.

2. Nguyễn Văn Huy. (2016). Biến đổi văn hóa làng quê Việt Nam trong quá trình đô thị hóa. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

3. Bourdieu, P. (1984). Distinction: A Social Critique of the Judgement of Taste (Sự phân biệt: Một phê phán xã hội đối với sự phán đoán về thị hiếu). Harvard University Press.

4. Ủy ban nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. (2020). Báo cáo chương trình phát triển đô thị giai đoạn 2016-2020.

5. Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên. (2018). Đề án thành lập thị xã Mỹ Hào và 7 phường nội thị thuộc thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/7/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/7/2026; Ngày duyệt đăng: 25/7/2026.

Ths VŨ THỊ SOI NGẦN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026