Từ khóa: mẫu hệ; mẫu cư; phụ quyền; người Chăm.
Abstract: The traditional matriarchal culture of the Cham people in the South-Central region has always adhered to three principles: matriliny, matrilocality, and patrilineal authority. However, in line with modern trends, these principles are gradually fading, fundamentally altering the social institutions of the Cham people. This article analyzes the causes and manifestations of these changes in Cham matriarchal culture, examining each case across the three principles. The aim is to understand the most general and fundamental transformations currently taking place within the Cham matriarchal culture.
Keywords: matriliny; matrilocality; patrilineal authority; Cham people.

1. Đặt vấn đề
Người Chăm ở miền Trung Việt Nam cho đến nay vẫn duy trì chế độ mẫu hệ, một chế độ mà quyền lợi và vai trò của người phụ nữ trong các vấn đề thừa kế, hôn phối và huyết thống luôn là chủ đạo. Điều này tác động sâu sắc đến văn hóa của người Chăm trong các mối quan hệ xã hội, tạo thành một nền văn hóa mẫu hệ. Tuy nhiên, như một số nhà nghiên cứu, về các thiết chế quan hệ gia đình, dòng tộc và xã hội của người Chăm đã chứng minh, văn hóa mẫu hệ này không như văn hóa mẫu hệ thời nguyên thủy chủ yếu gắn liền với quyền của người phụ nữ, thay vào đó người đàn ông cũng có nhiều vị thế trong việc điều hành các công việc từ gia đình ra cộng đồng. Hay nói cách khác văn hóa mẫu hệ của người Chăm, không bao gồm mẫu quyền, mà là văn hóa mẫu hệ - phụ quyền.
Tuy nhiên, theo chiều hướng biến đổi của cuộc sống hiện đại, văn hóa mẫu hệ gắn với phụ quyền của người Chăm cũng có nhiều biến đổi, mà kéo theo đó là những chuyển biến trong các mối quan hệ gia đình, tộc họ và cả cộng đồng Chăm. Đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến văn hóa mẫu hệ phụ quyền Chăm cũng như những chuyển biến của văn hóa ấy trong bối cảnh hiện nay (Nguyễn Khắc Ngữ,1967; Po Dharma, 1994, 2015; Bố Xuân Hổ, 2001, Inrasara, 2003; Phú Văn Hẳn, 2014; Đạo Văn Chi, 2016; Đổng Thành Danh, 2017) nhưng những nghiên cứu ấy chỉ phân tích các biến chuyển về phong tục, tập quán (Bố Xuân Hổ, 2001) hay nghiên cứu sự biến đổi như là hệ quả của chuyển đổi tôn giáo (Phú Văn Hẳn, 2014). Bài viết tiếp cận những biến đổi trong văn hóa mẫu hệ phụ quyền của người Chăm từ những đặc trưng của văn hóa ấy, chỉ ra các nhân tố (chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa) làm biến đổi từng đặc trưng ấy.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện bài viết này, tác giả đã sử dụng hệ phương pháp nghiên cứu liên ngành, tập trung chủ yếu vào các phương pháp đặc thù của dân tộc học và xã hội học, cụ thể như sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp: chúng tôi tiến hành kế thừa, hệ thống hóa các tư liệu từ những công trình nghiên cứu đi trước của Nguyễn Khắc Ngữ, Po Dharma, Inrasara, Phú Văn Hẳn... để làm rõ khung lý thuyết về thiết chế mẫu hệ - phụ quyền của người Chăm. Từ đó, xác lập ba đặc trưng cơ bản (mẫu truyền, mẫu cư và phụ quyền) làm cơ sở đối chiếu cho các biến đổi đương đại.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp: bài viết đi sâu phân tích các trường hợp cụ thể nảy sinh trong thực tế đời sống người Chăm hiện nay như sự biến đổi trong thủ tục ly hôn (từ luật tục sang pháp luật nhà nước) và các mô hình hôn nhân ngoại tộc (vợ Chăm - chồng Việt, chồng Chăm - vợ Việt).
Phương pháp so sánh lịch sử: chúng tôi sử dụng tư duy so sánh giữa các giá trị văn hóa truyền thống với những biểu hiện thực tế trong bối cảnh hội nhập.
Cách tiếp cận đa chiều: biến đổi văn hóa được xem xét thông qua sự tương tác phức hợp giữa các nhân tố: chính trị, kinh tế và xã hội.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả
Các đặc trưng trong văn hóa mẫu hệ - phụ quyền của người Chăm
Văn hóa mẫu hệ ở người Chăm thường được xem xét trên các khía cạnh về văn hóa hôn nhân, hình thức cư trú và thừa kế tài sản trong gia đình dòng họ, thông qua những biểu hiện trong luật tục (tồn tại dưới dạng các bài gia huấn ca), các phong tục trong các nghi lễ trưởng thành, hôn phối... Mặt khác, văn hóa mẫu hệ của người Chăm cũng gắn liền với phụ quyền được minh chứng qua vai trò quan trọng của người đàn ông trên các khía cạnh sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng, kinh tế hay các hoạt động mang tính cộng đồng khác. Tuy nhiên, chúng tôi khái quát văn hóa mẫu hệ phụ quyền Chăm thành ba đặc trưng cơ bản nhất:
Mẫu truyền, là hình thức truyền thừa được tính theo dòng nữ trên hai bình diện truyền thừa huyết thống và truyền thừa tài sản. Truyền thừa huyết thống có nghĩa là huyết thống của người con sinh ra sẽ được tính theo dòng họ mẹ, hay nói cách khác, con cái thuộc về dòng họ của mẹ, do đó con cái khi sinh ra nhận phía mẹ là phía nội, nhận phía cha là phía ngoại.
Truyền thừa về tài sản tính theo dòng nữ nghĩa là tài sản của gia đình, dòng họ sẽ được truyền từ mẹ cho con gái, đến cháu gái (cháu nội), ngược lại người con trai không được thừa kế bất kỳ tài sản gì. Như vậy, người con gái cũng có trách nhiệm chính trong việc phụng dưỡng cha, mẹ, ông, bà và thờ phụng tổ tiên. Theo truyền thống, người con gái út là người được thừa hưởng nhiều tài sản và ngôi nhà từ đường, do vậy họ cũng có trách nhiệm chính trong việc phụng dưỡng cha, mẹ, ông bà và thờ cúng tổ tiên, những người chị gái chỉ góp công và của để thực hiện nghĩa vụ này.
Mẫu cư là hình thức cư trú tính theo dòng nữ mà biểu hiện rõ nét qua hôn nhân và cuộc sống sau hôn nhân. Theo đó, khi một cặp nam nữ yêu nhau và tiến đến hôn nhân, gia đình nhà gái phải sang hỏi cưới chú rể. Trong ngày hôn lễ chính thức, mọi nghi thức được tổ chức tại nhà cô dâu, do họ nhà gái chủ trì, họ nhà trai chỉ tiến hành đưa chú rể sang nhà cô dâu. Sau hôn lễ, người con trai cũng phải ở lại nhà vợ và sinh sống bên gia đình nhà vợ. Người con trai có nghĩa vụ lao động, đóng góp cho nhà vợ cũng như cùng chia sẻ với vợ trách nhiệm chăm sóc cha, mẹ, con cái và thờ cúng tổ tiên. Cho đến tận lúc chết, người con trai mới được trả thi hài về nhà và chôn vào nghĩa trang chung của dòng họ mẹ.
Phụ quyền là văn hóa thừa nhận vai trò chủ đạo của người đàn ông trong các hoạt động xã hội và kể cả trong gia đình dòng họ. Dù đàn ông không có quyền thừa kế và phải cư trú theo nhà vợ, nhưng người đàn ông là người có quyền quyết định các vấn đề của gia đình như các vấn đề kế sinh nhai và nuôi dạy con cái, các sự kiện quan trọng của dòng họ mẹ và vợ... Ở ngoài xã hội, người đàn ông giữ các chức vụ chủ chốt trong làng xóm, có trách nhiệm trong việc cúng tế cho thần linh, tổ tiên nên chỉ có đàn ông mới được vào hàng ngũ chức sắc và cũng chỉ có đàn ông mới được mời gọi ông bà trong các lễ cúng gia tiên...
Những biến đổi về mẫu truyền và mẫu cư
Những biến đổi về văn hóa mẫu hệ của người Chăm hiện nay, thuộc vào loại hình biến đổi các quan hệ xã hội, là một bộ phận của biến đổi xã hội nói chung. Biểu hiện cụ thể của sự biến đổi ấy là những chuyển biến về chế độ mẫu truyền và mẫu cư truyền thống. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi quan tâm đến sự biến đổi về mẫu truyền trên hai yếu tố chính là sự ly hôn và hôn nhân ngoại tộc.
Theo phong tục truyền thống, khi một cặp vợ chồng muốn ly hôn, họ phải thông qua nhiều tục lệ truyền thống, được sự đồng thuận và chứng kiến của hai bên gia đình, họ hàng và sự chứng nhận của làng xã. Khi chính thức ly hôn, người con trai phải trở về nhà mẹ mà không được trao một thứ tài sản gì ngoài của hồi môn mà nhà mẹ cho khi tiến hành hôn lễ. Bên cạnh đó, con cái cũng hoàn toàn thuộc về mẹ và sau khi ly hôn, người cha không có quyền nuôi con.
Nhưng trải qua nhiều thời kỳ, hôn nhân có nhiều biến đổi, hiện nay mọi sự ly hôn đều phải theo pháp luật chứ không theo cổ tục nữa. Khi một cặp vợ chồng muốn ly hôn, họ phải ra tòa và thực hiện việc ly hôn theo các thủ tục, trình tự của pháp luật hiện hành do tòa án hướng dẫn, mà không cần thông qua các tập tục (như tập tục chẻ hai đôi đũa) hay làng xã truyền thống nữa. Trong trường hợp ly hôn như vậy nhiều khi người chồng còn được phân chia tài sản theo pháp luật, về việc nuôi con cái.
Đối với vấn đề hôn nhân ngoại tộc, đây chỉ là nguyên nhân thứ yếu làm biến đổi văn hóa mẫu truyền ở người Chăm. Trong các cuộc hôn nhân ngoại tộc, yếu tố then chốt làm biến đổi quy tắc phân phối tài sản và quyền sở hữu con cái chính là sự xung đột giữa hai hệ thống: mẫu hệ và phụ hệ. Vì thông thường, người Chăm có hôn nhân ngoại tộc chủ yếu với người Việt tức là một dân tộc theo phụ hệ, sự khác biệt này nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp nếu tính trên bình diện huyết thống và thừa kế tài sản. Chẳng hạn, trong trường hợp vợ người Việt và chồng người Chăm, nếu người vợ về làm dâu nhà chồng thì cặp vợ chồng này thường được cấp một phần tài sản (đất đai) để ra riêng. Điều này trực tiếp phá vỡ quy tắc truyền thừa tài sản vốn chỉ dành cho nữ giới. Nhưng vấn đề lớn nảy sinh là từ con cái, trong trường hợp cặp vợ chồng này có con cái, thì con cái thuộc về ai? Con có thể cùng ở với mẹ và cha, bên trong làng của người Chăm, nhưng huyết thống nội của người con phải được tính như thế nào, vì dòng họ cha không thể xem con là dòng nội, ngược lại dòng mẹ cũng không xem con thuộc dòng nội.
Vấn đề tiến thoái lưỡng nan diễn ra khi người con qua đời sẽ không được làm nghi thức theo người Chăm và không được nhập vào nghĩa trang của cha, vì người con thuộc dòng ngoài. Hôn nhân ngoại tộc không chỉ tác động đến các tính chất của văn hóa mẫu truyền, mà còn ảnh hưởng đến hình thái cư trú theo dòng nữ. Mặt khác, ngay trong bản thân người Chăm hiện nay, hình thái cư trú của vợ chồng sau hôn nhân cũng không theo dòng nữ nữa. Tuy nhiên, đây chỉ là những nguyên nhân thứ yếu, trong những trường hợp này thường là vì các cặp vợ chồng Chăm xây dựng gia đình ở bên ngoài thôn, xóm hoặc xa quê hương. Do đó, những biến đổi về mẫu cư ở người Chăm chỉ chịu tác động nhiều bởi các cuộc hôn nhân ngoại tộc.
Xét trên bình diện chung, tác động của việc ly hôn theo luật pháp hiện hành hay hôn nhân ngoại tộc là hình thức cơ bản làm biến đổi các khuôn khổ truyền thống của văn hóa mẫu truyền và mẫu cư của người Chăm. Những trường hợp này ít nhiều tạo nên tình thế lưỡng nan, thậm chí tạo những xung đột xã hội, ví dụ tranh chấp về tài sản, tranh chấp về việc con cái phải theo cha hay mẹ, khi chết phải chôn theo mẹ hay chôn theo phong tục của cha... Tất cả những hiện tượng đó là tất yếu và được nảy sinh trong bối cảnh hiện nay, làm chuyển biến các giá trị thuộc về đặc tính mẫu truyền và mẫu cư truyền thống.
Những chuyển biến của văn hóa phụ quyền
Theo truyền thống, người Chăm mặc dù theo văn hóa mẫu hệ nhưng lại gắn với văn hóa phụ quyền. Văn hóa này thừa nhận vai trò của người đàn ông trong công việc điều hành gia đình, các hoạt động của tộc họ, cộng đồng và xã hội, trong khi người phụ nữ có trách nhiệm quán xuyến chăm sóc cho gia đình và thờ cúng tổ tiên. Đây là một văn hóa xã hội thừa nhận tính quân bình hay phân chia công việc giữa đàn ông và đàn bà theo truyền thống của các dân tộc theo mẫu hệ ở nước ta không chỉ riêng người Chăm. Tuy nhiên hiện nay, cùng với những tác động của chính sách mới, các yêu cầu về bình đẳng giới cũng làm thay đổi văn hóa này.
Theo truyền thống, người đàn ông Chăm là người có tiếng nói trong gia đình, họ có vị thế cao hơn phụ nữ. Trong thực tế, người đàn ông Chăm là người chịu trách nhiệm hay thay mặt người phụ nữ trong các quan hệ ứng xử với xã hội. Người đàn ông Chăm thường ngồi ở phòng khách để tiếp khách khứa đến nhà, họ cùng khách thường ăn mâm trên, trong khi phụ nữ phải ăn sau hoặc ăn ở dưới bếp... và phải cơm bưng, nước rót cho người đàn ông. Khi bước ra xã hội, người đàn ông Chăm thường đảm trách nhiều công việc. Họ giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động kinh tế gia đình như làm nông, làm rẫy hay chăn nuôi…
Hiện nay, sự phân công trên không còn mang tính cứng nhắc, thay vào đó, phụ nữ cũng có nhiều tiếng nói và quyền quyết định mọi vấn đề của gia đình. Họ có thể thay mặt chồng mình điều hành các chi tiêu, dạy dỗ con cái, thậm chí còn chủ động về các hoạt động kinh tế gia đình. Những thay đổi này hoàn toàn không chỉ phụ thuộc vào điều kiện xã hội, mà còn phụ thuộc kinh tế. Ngày nay, người Chăm không còn lệ thuộc vào hoạt động nông nghiệp truyền thống vốn dành cho đàn ông nữa, thay vào đó, là các hoạt động kinh doanh tiêu dùng hay các hoạt động phi nông nghiệp khác. Thông thường, những công việc như vậy phụ nữ có thể chủ động thực hiện thay vì dựa vào đàn ông như trước. Điều này kéo theo vị thế của người phụ nữ trong một số trường hợp cũng thay đổi so với trước kia.
Trong dòng tộc, người phụ nữ cũng là người có nghĩa vụ duy trì và lưu giữ tài sản của tổ tiên. Theo truyền thống, mỗi tộc họ của người Chăm thường có một Ciét atau - một cái giỏ lưu giữ đồ của tổ tiên, người phụ nữ phải có trách nhiệm giữ Ciét atau do tổ tiên để lại, những người này gọi là Muk Rija. Mỗi khi dòng tộc tổ chức các nghi lễ thì Ciét atau lại được đem ra để thực hiện các nghi thức. Ngược lại, người đàn ông Chăm lại là người có tiếng nói trong dòng tộc. Họ thường chủ trì các cuộc họp họ, có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến tộc họ. Chính họ cũng thay mặt tộc họ giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng, xã hội.
Tương tự những chuyển biến trong gia đình, dòng họ người Chăm cũng biến đổi về vai trò chủ chốt. Khi tộc họ có những việc làm cần họp mọi thành viên như các công việc tổ chức nghi lễ, tế tự, các hoạt động khuyến học (hiện nay các hoạt động này rất phổ biến trong các dòng họ người Chăm) hay nhiều vấn đề hệ trọng khác của gia tộc. Người phụ nữ, đặc biệt là những người có địa vị và tài chính, cũng được tham gia bàn thảo và cũng có những tiếng nói nhất định với các bậc cao niên trong tộc họ. Chúng tôi nhận định đây là một sự biến đổi quan trọng, bởi nó thách thức vai trò chủ đạo vốn có của nam giới, đưa vị thế của phụ nữ lên ngang tầm trong các vấn đề gia tộc
Trên bình diện cộng đồng, vai trò của người phụ nữ truyền thống cũng rất mờ nhạt, người đàn ông giữ quyền chủ đạo trong hầu hết các hoạt động chính trị, xã hội không chỉ trong những thời điểm gần đây mà còn xa hơn thế nữa. Đó là lý do giải thích tại sao trong lịch sử người Chăm không có nữ vương, người đàn ông giữ toàn bộ quyền hành về chính trị, quân sự, điều này cũng được lý giải thêm rằng, người đàn ông là người thay mặt cho phụ nữ điều hành các công việc quốc gia, vì trong nhiều trường hợp người được kế thừa ngôi vị thường được tính theo dòng họ mẫu hệ.
Xét trên một bình diện nào đó cho đến tận thời điểm gần đây, quyền lợi của người đàn ông vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các hoạt động chính trị, xã hội. Tại làng xã, các thành phần lãnh đạo, hội đồng chức việc, ban quản lý thôn cũng thường là công việc của đàn ông, các cuộc họp bàn những sự vụ mang tầm cộng đồng cũng thường là nơi của đàn ông, chứ không dành cho phụ nữ, kể cả trong những hoạt động mang tầm tín ngưỡng, tôn giáo, người đàn ông Chăm cũng chiếm nhiều ưu thế.
Tuy nhiên, hiện nay, cũng như những thay đổi ở cấp độ gia đình, dòng họ, một khi vị thế của người phụ nữ được tăng lên, địa vị của họ không chỉ tăng theo khía cạnh kinh tế, mà còn nổi trội trong lĩnh vực chính trị. Nhờ vào những chính sách về sự tiến bộ phụ nữ và các yêu cầu của xu thế bình đẳng giới, nhiều người phụ nữ Chăm bước ra khỏi khung hẹp của truyền thống gia đình, thôn làng để học tập và tham gia vào các cơ quan nhà nước từ địa phương đến Trung ương, giữ nhiều chức vụ quan trọng. Ở bình diện thôn, làng, phụ nữ Chăm cũng tham gia vào hệ thống chính trị và quản lý hành chính từ cấp cơ sở đến Trung ương... Người phụ nữ cũng bắt đầu có quyền tham gia đóng góp vào các hoạt động tôn giáo, hay cả bên trong Hội đồng sư cả Chăm Hồi giáo Bàni cũng có riêng một ban dành cho phụ nữ để họ góp tiếng nói trong các hoạt động tôn giáo.
Những biến đổi của văn hóa phụ quyền, mà chúng tôi đã lần lượt đề cập ở trên chủ yếu là từ các nguyên nhân kinh tế, chính trị, những biểu hiện của những chuyển biến này trải rộng từ các cấp độ gia đình, dòng họ và cộng đồng. Dù những chuyển biến này chưa tạo ra hệ quả mạnh mẽ như việc ly hôn hay hôn nhân ngoại tộc, nhưng đây là một xu thế tất yếu và sẽ ngày càng phổ biến trong tương lai.
3.2. Thảo luận
Bài viết xem xét những biến đổi của văn hóa mẫu hệ Chăm trên những khía cạnh đặc trưng nhất của văn hóa Chăm, chúng tôi tin rằng cách tiếp cận này sẽ giúp mỗi chúng ta nhận thức rõ hơn những chuyển biến trong các mối quan hệ gia đình, dòng tộc và xã hội của người Chăm hiện nay. Bởi nền tảng của văn hóa mẫu hệ gắn với phụ quyền Chăm có thể luận ra từ chế độ thừa kế, mối quan hệ huyết thống (mẫu truyền), hôn nhân và hình thái cư trú sau hôn nhân (mẫu cư), quyền lực phân theo giới trong xã hội (phụ quyền). Khi đó cách tiếp cận những biến đổi từ những đặc trưng này sẽ khiến chúng ta nhận thức được những biến đổi đặc trưng nhất của toàn thể cấu trúc mẫu hệ Chăm, thay vì chỉ tập trung vào các biến đổi về phong tục, tín ngưỡng và tôn giáo.
Trong số những dạng thức biến đổi về mẫu truyền, mẫu cư và phụ hệ mà chúng tôi nêu ra, có những biến đổi bắt nguồn từ các nguồn gốc chính trị như ly dị, sự tăng cường vai trò và quyền lợi của người phụ nữ, cũng có những biến đổi về xã hội như hôn nhân ngoại tộc, di chuyển môi trường sống, cũng có những biến đổi về văn hóa, xã hội như các cuộc hôn nhân ngoại tộc... Tất cả những nguyên nhân đó cấu trúc thành một phức hệ các tác nhân làm biến đổi cấu trúc xã hội truyền thống, trong đó trọng tâm là những biến đổi các mối quan hệ xã hội của người Chăm. Tất nhiên, chúng ta cũng không nên tách rời những nguyên nhân đó vì xét cho cùng tất cả những nguyên nhân đó đều ít nhiều tương tác với nhau và cùng tạo nên những dạng thức khác nhau của biến đổi xã hội trong một tổng thể phụ thuộc lẫn nhau.
Cuối cùng, như một nghiên cứu mang tính dự báo, bài viết đặt một dấu hỏi về tính hợp lý của những biến đổi trong tương lai. Đành rằng, những biến đổi xã hội là không ngừng và phù hợp với những thay đổi tất yếu đưa xã hội đi lên, như vấn đề chia sẻ quyền lực giới là một xu thế tất yếu của người Chăm, nó phù hợp với chuyển biến xã hội. Tuy nhiên không phải những biến đổi nào cũng mang tính tích cực như vậy, nhất là những biến đổi về mẫu truyền và mẫu cư từ chính sách ly dị và hôn nhân ngoại tộc. Hôn nhân ngoại tộc là tất yếu nhưng nên chăng cần có những biện pháp để tránh những tranh chấp xã hội trong tương lai? Những điều đó vẫn còn bỏ ngỏ và cần một hướng giải quyết hiệu quả vừa hợp tình hợp lý, vừa hợp truyền thống và hiện đại.
4. Kết luận
Văn hóa mẫu hệ Chăm được thể hiện trên ba đặc trưng cốt lõi nhất: mẫu truyền (huyết thống, thừa kế), mẫu cư (hôn nhân, cư trú) và phụ quyền (vai trò xã hội). Sự thay đổi này đến từ một phức hợp các yếu tố chính trị, kinh tế và văn hóa, xã hội như chính sách ly hôn, hôn nhân ngoại tộc và việc tăng cường vai trò của phụ nữ. Các yếu tố này tác động lẫn nhau, tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong cấu trúc xã hội truyền thống của người Chăm. Mặc dù một số thay đổi như bình đẳng giới là xu thế tích cực, bài viết cũng đặt ra vấn đề về sự hợp lý của những biến đổi khác. Đặc biệt, những thay đổi về mẫu truyền và mẫu cư có thể dẫn đến tranh chấp và xung đột xã hội trong tương lai. Điều này cho thấy cần có giải pháp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại để đảm bảo sự phát triển bền vững.
____________________________
Tài liệu tham khảo
1. Đổng Thành Danh. (2017). Văn hóa mẫu hệ - Phụ quyền của người Chăm. Tạp chí Dân tộc học. số 5. tr.31-37.
2. Bố Xuân Hổ. (2001). Mẫu hệ Chăm thời đại mới. Hội Văn học Nghệ thuật.
3. Lý Tùng Hiếu. (2016, 2 tháng 1). Nam quyền trong Văn hóa mẫu hệ ở người Chăm. Trung tâm Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng. http://vanhoahoc.edu.vn
4. Phú Văn Hẳn. (2014). Vài biến đổi trong mẫu hệ Chăm ngày nay. Những vấn đề Văn hóa - xã hội người Chăm ngày nay. Nxb Trẻ.
5. Inrasara. (2003). Văn hóa - xã hội Chăm: nghiên cứu và đối thoại. Nxb Văn học.
6. Nguyễn Khắc Ngữ. (1967). Mẫu hệ Chàm. Nxb Trình bày.
7. Sử Văn Ngọc. (2010). Văn hóa làng truyền thống người Chăm Ninh Thuận. Nxb Dân trí. 8. Phan Đăng Nhật (chủ biên). (2003). Luật tục Chăm và luật tục Raglai. Nxb Văn hóa dân tộc.
9. Sakaya. (2013). Tiếp cận một số vấn đề Văn hóa Champa. Nxb Tri thức.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 15/10/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 5/12/2025; Ngày duyệt bài: 20/12/2025.
THÀNH DANH - TS LIÊN HƯƠNG
Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026