Từ khóa: tái cấu trúc văn hóa; thực hành văn hóa sinh kế; người Chăm; làng gốm Bàu Trúc; chủ thể tự quyết.
Abstract: Cultural restructuring is understood as a process of constructing new cultural mechanisms on the foundation of traditional values, manifested through the intertwined processes of re-invention, re-definition, and re-presentation. The article examines the restructuring of livelihood-related cultural practices among the Cham community in Bau Truc village (Khanh Hoa) in the context of tourism development. The study employs an ethnographic methodology, with data collected through multiple fieldwork periods from 2023 to 2025, combining participant observation, in-depth interviews, and the synthesis of secondary sources. The findings indicate that, alongside the maintenance of traditional livelihoods such as pottery making and agriculture, the Cham community in Bau Truc has actively innovated and diversified tourism-related livelihoods, including cultural performances, accommodation and culinary services, online sales, and the organization of craft-village experience activities. These transformations reflect the community’s agency in repositioning livelihoods and reorganizing cultural resources in response to the tourism market, thereby contributing to a clearer understanding of the endogenous mechanisms underlying the restructuring of livelihood-related cultural practices among ethnic minority communities in the context of contemporary tourism development.
Keywords: cultural restructuring; livelihood-related cultural practices; the Cham people; Bau Truc pottery village; agency.

1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh phát triển du lịch, thực hành văn hóa sinh kế của người Chăm ở làng Bàu Trúc (Khánh Hòa) đang vận động theo hướng thích ứng với các điều kiện thị trường. Trên cơ sở duy trì các sinh kế truyền thống, cộng đồng từng bước kết hợp với các mô hình kinh doanh đương đại, mở rộng sang các hoạt động dịch vụ và trải nghiệm du lịch, qua đó làm biến đổi phương thức sản xuất và tổ chức lao động. Quá trình này diễn ra thông qua ba tiến trình đan xen gồm tái sáng chế, tái định vị và tái trình hiện. Tái sáng chế thể hiện ở việc điều chỉnh kỹ thuật và mẫu mã sản phẩm; tái định vị gắn với sự thay đổi về ý nghĩa, giá trị và công năng của gốm trong các kênh tiêu thụ mới; trong khi tái trình hiện được cụ thể hóa thông qua việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm và trình diễn phục vụ du khách. Những biến đổi này cho thấy cộng đồng Chăm không chỉ là đối tượng chịu tác động của du lịch, mà còn là chủ thể có năng lực lựa chọn, điều chỉnh và điều tiết các thực hành sinh kế nhằm dung hòa giữa yêu cầu mưu sinh và bảo tồn các giá trị văn hóa.
Trên cơ sở kế thừa các hướng tiếp cận về sinh kế và nhân học văn hóa, nhiều nghiên cứu cho rằng các thực hành sinh kế không mang tính cố định mà luôn vận động và được sắp xếp lại dưới tác động của chính sách, thị trường và các quá trình phát triển, trong đó du lịch ngày càng trở thành một yếu tố quan trọng (Scoones, 1998; Scoones, 2009). Đặc biệt, trong không gian tiêu dùng du lịch, các thực hành văn hóa có thể được tổ chức và trình hiện theo những cách thức mới, làm nảy sinh các tranh luận về “tính xác thực được dàn dựng”, đồng thời cho thấy quá trình thương phẩm hóa không tất yếu làm suy giảm ý nghĩa văn hóa mà còn có khả năng tạo thêm các tầng nghĩa mới (MacCannell, 1973; Cohen, 1988). Văn hóa, theo đó, được hiểu như một quá trình được “sản xuất” thông qua lựa chọn, trình hiện và thương thỏa, phản ánh mối quan hệ tương tác giữa cấu trúc xã hội và năng lực hành động của các chủ thể trong những bối cảnh cụ thể (Giddens, 1984; Kirshenblatt-Gimblett, 1998; Ortner, 2006).
Tuy nhiên, các nghiên cứu về tái cấu trúc thực hành văn hóa sinh kế của người Chăm ở làng gốm Bàu Trúc vẫn còn hạn chế, đặc biệt từ góc nhìn nhấn mạnh vai trò chủ thể tự quyết của cộng đồng. Trên cơ sở đó, bài viết hướng tới các mục tiêu: (i) nhận diện các dạng thức tái cấu trúc trong thực hành văn hóa sinh kế; (ii) phân tích các yếu tố tác động và vai trò của chủ thể tự quyết; (iii) luận giải cơ chế tái cấu trúc thông qua các tiến trình tái sáng chế, tái định vị và tái trình hiện. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nhận diện và lý giải cơ chế nội sinh của tái cấu trúc thực hành văn hóa sinh kế, đồng thời cung cấp thêm luận cứ cho định hướng phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn văn hóa Chăm tại Bàu Trúc.
2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng cách tiếp cận tái cấu trúc văn hóa, xem đây là quá trình kiến tạo các cơ chế văn hóa mới trên nền các giá trị và thực hành truyền thống, diễn ra thông qua ba tiến trình: tái sáng chế, tái định vị và tái trình hiện (Nguyễn Thị Phương Châm - Hoàng Cầm, 2023). Cách tiếp cận này cho phép nhận diện sự đan xen giữa kế thừa và đổi mới trong các thực hành văn hóa sinh kế của người Chăm ở Bàu Trúc trong bối cảnh phát triển du lịch. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng góc nhìn chủ thể tự quyết (agency) nhằm lý giải vai trò và năng lực chủ động của cộng đồng trong việc lựa chọn, điều chỉnh và tổ chức các thực hành sinh kế dưới tác động của chính sách, thị trường và nhu cầu du lịch.
Nghiên cứu được triển khai theo tiếp cận nhân học văn hóa, kết hợp nghiên cứu định tính với phân tích tư liệu thứ cấp. Điền dã được thực hiện qua nhiều đợt tại Bàu Trúc trong giai đoạn 2023-2025, bao gồm quan sát tham dự quy trình làm gốm, sinh hoạt cộng đồng và các hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch, đồng thời ghi nhận các tương tác văn hóa giữa cộng đồng Chăm và du khách. Nghiên cứu tiến hành 40 cuộc phỏng vấn sâu bán cấu trúc với các nhóm chủ thể gồm nghệ nhân và thợ gốm, hộ kinh doanh gốm gắn với du lịch, hộ nông nghiệp, hộ homestay, cán bộ văn hóa - du lịch, chính quyền địa phương, hợp tác xã du lịch và khách du lịch. Nội dung phỏng vấn tập trung vào thực hành văn hóa sinh kế, những thay đổi trong cấu trúc và hình thức sinh kế của các hộ gia đình, sự điều chỉnh kỹ thuật và mẫu mã sản phẩm, tác động của du lịch, cũng như các chiến lược thương thỏa giữa bảo tồn bản sắc và thích ứng kinh tế.
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp quả cầu tuyết cho đến khi đạt bão hòa chủ đề. Dữ liệu được ghi âm, chuyển biên, mã hóa và phân tích theo chủ đề; các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu được bảo đảm thông qua việc thông tin đầy đủ, ẩn danh người tham gia và sử dụng dữ liệu cho mục đích nghiên cứu.
3. Kết quả và thảo luận
Bối cảnh phát triển du lịch ở làng Bàu Trúc
Làng gốm Bàu Trúc được xác định là điểm đến trọng tâm trong định hướng phát triển du lịch văn hóa của tỉnh Ninh Thuận (cũ) giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn 2030 (Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận, 2022). Từ năm 2018, nhiều chính sách và dự án bảo tồn gắn với du lịch cộng đồng đã được triển khai, tiêu biểu là dự án “Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào di sản tại làng Bàu Trúc”, góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, hoàn thiện mô hình tham quan trải nghiệm làng nghề và tăng cường kết nối thị trường. Đặc biệt, việc UNESCO ghi danh “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp ngày 29/11/2022 đã tạo thêm động lực cho việc gắn kết giữa bảo tồn di sản và phát triển du lịch tại địa phương.
Sự kết hợp giữa chính sách, các dự án bảo tồn và nguồn lực xã hội đã thúc đẩy cộng đồng chủ động tham gia vào hoạt động du lịch, tiếp cận bảo tồn như một quá trình sáng tạo, tái tổ chức các giá trị văn hóa gắn với sinh kế. Quá trình tái cấu trúc văn hóa sinh kế thể hiện ở sự mở rộng từ các nghề truyền thống như gốm và nông nghiệp sang các hoạt động gắn với du lịch, bao gồm trình diễn văn hóa, trải nghiệm nghề, sản xuất đồ lưu niệm, hướng dẫn, lưu trú và ẩm thực. Việc duy trì nghề truyền thống song song với phát triển sinh kế mới cho thấy năng lực thích ứng và vai trò chủ thể của cộng đồng Chăm trong bối cảnh du lịch.
Để phác họa cấu trúc sinh kế của làng gốm Bàu Trúc trong bối cảnh này, bài viết tổng hợp các loại hình sinh kế truyền thống và sinh kế mới từ tư liệu điền dã giai đoạn 2023-2025 (bảng 1).
Bảng 1. Cơ cấu thực hành văn hóa sinh kế tại làng gốm Bàu Trúc trong bối cảnh du lịch

Nguồn: Tổng hợp tư liệu điền dã (2023-2025); Ủy ban nhân dân huyện Ninh Phước (2023);
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Thuận (2022)
Dựa trên bảng 1, tái cấu trúc văn hóa sinh kế được phân tích qua ba tiến trình: tái sáng chế, tái định vị và tái trình hiện, nhằm lý giải cộng đồng kiến tạo sinh kế dựa vào văn hóa.
Các dạng thức tái cấu trúc trong thực hành văn hóa sinh kế
Tái cấu trúc các hoạt động sinh kế truyền thống
Nghề gốm Bàu Trúc là một sinh kế truyền thống gắn bó với đời sống văn hóa của cộng đồng Chăm. Du lịch xuất hiện ở Bàu Trúc từ đầu những năm 2000, nhưng quá trình tái cấu trúc nghề gốm chỉ diễn ra rõ nét trong những năm gần đây, khi du lịch làng nghề được định hướng là một trụ cột sinh kế mới. Biến đổi thể hiện ở ba phương diện chính: gia tăng số hộ tham gia và mức độ gắn kết với du lịch; mở rộng tổ chức sản xuất theo hướng liên kết chuỗi giá trị, kết hợp tiêu thụ tại chỗ và trực tuyến; và tái định vị sản phẩm từ gốm gia dụng sang gốm mỹ nghệ, trang trí và quà lưu niệm cho thị trường du lịch.
Về quy mô và mức độ gắn kết với hoạt động du lịch: Quy mô và mức độ tham gia nghề gốm ở Bàu Trúc hiện gia tăng rõ rệt. Nhiều hộ chuyển từ sản xuất thời vụ sang làm gốm quanh năm, tỷ trọng thu nhập từ gốm trong cơ cấu sinh kế ngày càng cao. Mức độ gắn kết với du lịch được tăng cường thông qua đăng ký hộ kinh doanh, tổ chức không gian trưng bày tại gia đình, đón tiếp khách và mở rộng kênh tiêu thụ tới các cơ sở lưu trú, nhà hàng trong và ngoài tỉnh. Theo ông Đ.C.Q (56 tuổi, Bí thư chi bộ thôn), làng hiện có khoảng 500 hộ gắn với nghề gốm, trong đó hơn 300 hộ sản xuất trực tiếp; mạng lưới nghề gồm 2 hợp tác xã, 2 doanh nghiệp và hơn 60 cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động thường xuyên (Phỏng vấn sâu 19 ngày 30/7/2025). Sự gia tăng các điểm trưng bày và trải nghiệm nặn gốm dọc trục đường chính phản ánh quá trình tái cấu trúc sinh kế theo hướng mở rộng quy mô, đa dạng hóa hình thức tham gia và tăng cường kết nối với thị trường du lịch trên cơ sở lựa chọn có chủ đích của cộng đồng.
Về tổ chức sản xuất và kênh tiêu thụ: Tổ chức sản xuất và hệ thống tiêu thụ gốm ở Bàu Trúc đã có những chuyển biến mang tính tái cấu trúc. Trên nền kỹ thuật truyền thống, cộng đồng linh hoạt điều chỉnh để thích ứng với bối cảnh du lịch, phát triển song song hai dòng sản phẩm là gốm truyền thống và gốm mỹ nghệ, trong đó gốm mỹ nghệ chủ yếu phục vụ thị trường du lịch và được tiêu thụ qua các cơ sở lưu trú, nhà hàng và điểm tham quan (Phỏng vấn sâu 10, ngày 28/7/2025).
Mô hình sản xuất hiện nay đa dạng, gồm hộ gia đình, hợp tác xã và cơ sở kinh doanh, trong đó hộ gia đình vẫn giữ vai trò trung tâm. Quy trình phổ biến là sản xuất tại hộ, trưng bày tại nhà và tiêu thụ đa kênh, gồm bán trực tiếp, cung ứng cho hệ thống lưu trú - ẩm thực và bán hàng trực tuyến. Các liên kết theo chuỗi giá trị từng bước hình thành, góp phần giảm tính mùa vụ và ổn định sinh kế cho nhiều hộ dân.
Về kỹ thuật sản xuất, nghề gốm Bàu Trúc vốn hoàn toàn thủ công, tạo hình quanh hòn kê, không dùng bàn xoay và nung theo quy trình truyền thống nhằm bảo đảm độ bền sản phẩm. Hiện nay, để thích ứng với thị trường du lịch, một số hộ sử dụng bàn xoay nhỏ hỗ trợ cạo và chỉnh dáng nhằm làm tròn, đều sản phẩm, qua đó rút ngắn thời gian lao động (Phỏng vấn sâu 1 ngày 26/7/2025); đồng thời giản lược một số khâu, giúp tăng năng suất nhưng có thể làm giảm độ bền so với các sản phẩm truyền thống trước kia (Phỏng vấn sâu 19 ngày 30/7/2025). Về nung, từ phương thức nung lộ thiên bằng củi, rơm và trấu tạo sắc độ tự nhiên ở mức nhiệt khoảng 700-800°C (Phan Xuân Biên và cộng sự, 1991), nhiều hộ đã chuyển sang lò nung tại nhà để chủ động tiến độ và giảm rủi ro thời tiết (Phỏng vấn sâu 13 ngày 10/10/2024). Tuy nhiên, nung lò cho màu sắc đồng đều, khiến bản sắc gốm Chăm phần nào bị phai nhạt; trong một số trường hợp, việc sử dụng sơn công nghiệp để tăng tính bắt mắt cũng đặt ra vấn đề về duy trì sắc thái thẩm mỹ truyền thống của sản phẩm (Phỏng vấn sâu 5 ngày 27/7/2025). Những điều chỉnh này phản ánh quá trình thương thỏa giữa bảo tồn kỹ thuật và yêu cầu thị trường, thể hiện năng lực tái sáng chế có chủ đích của cộng đồng trong bối cảnh du lịch.
Cùng với đó, phân công lao động được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn: nam giới tham gia nhiều vào sản xuất gốm mỹ nghệ, phụ nữ duy trì các công đoạn tỉ mỉ và đảm nhiệm các hoạt động gắn với du lịch, trong khi thanh niên đảm trách thiết kế, truyền thông và bán hàng trực tuyến. Tuy nhiên, lực lượng kế cận còn mỏng và nhiều nghệ nhân lành nghề đã lớn tuổi, đặt ra thách thức cho tính bền vững của nguồn nhân lực (Phỏng vấn sâu 19 ngày 30/7/2025).
Về thị trường, sản phẩm gốm được tiêu thụ theo mô hình đa kênh, với khách du lịch và các cơ sở dịch vụ trong và ngoài tỉnh là thị trường chính; các đơn hàng đặt theo mẫu ngày càng gia tăng (Phỏng vấn sâu 10 ngày 28/7/2025). Tại Bàu Trúc đang hình thành chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ gắn với du lịch trải nghiệm, trong đó không gian hộ vừa là nơi sản xuất, trưng bày và đón khách, còn hợp tác xã giữ vai trò đầu mối tiếp nhận và phân phối, song các mối liên kết này hiện vẫn còn lỏng lẻo.
Sự tái định vị danh mục sản phẩm: Hiện nay, nghề gốm Bàu Trúc đang được tái cấu trúc thông qua đa dạng hóa mẫu mã và mở rộng danh mục sản phẩm. Bên cạnh gốm gia dụng truyền thống, nhiều cơ sở chuyển sang gốm mỹ nghệ phục vụ thị trường du lịch, gồm sản phẩm trang trí cho không gian lưu trú, nhà hàng và quà tặng, lưu niệm nhỏ gọn. Sản xuất theo đơn đặt hàng cũng được đẩy mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, trải nghiệm và mua sắm của du khách. Một chủ cơ sở chia sẻ: “Giờ du khách thích những sản phẩm nhỏ gọn, dễ mang đi… nhờ vậy, thu nhập của gia đình ổn định hơn” (Phỏng vấn sâu 3 ngày 3/10/2024). Sự tái định vị này giúp mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm, song cũng đặt ra thách thức về thiết kế, quản trị chất lượng và nguy cơ thương mại hóa nếu thiếu cơ chế bảo đảm quyền chủ thể của cộng đồng.
Bên cạnh nghề gốm, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong sinh kế truyền thống của người Chăm Bàu Trúc. Trong bối cảnh du lịch phát triển, thực hành nông nghiệp được điều chỉnh thông qua chuyển đổi cây trồng, dịch chuyển lao động và tái tổ chức sản xuất nhằm tạo sinh kế bổ sung. Một số hộ chuyển từ trồng lúa sang các cây có giá trị kinh tế cao như nho, táo để cung ứng cho cơ sở du lịch và bán tại điểm trưng bày gốm; đồng thời áp dụng kỹ thuật canh tác mới và liên kết tiêu thụ để ổn định đầu ra. Nông nghiệp cũng bước đầu được gắn với hoạt động tham quan, trải nghiệm cho du khách, dù hiện còn ở giai đoạn manh nha (Phỏng vấn sâu 12 ngày 8/10/2024; Phỏng vấn sâu 1 ngày 2/10/2024).
Cùng với đó, mở rộng dịch vụ du lịch thúc đẩy một bộ phận lao động chuyển từ nông nghiệp sang các sinh kế gắn với du lịch như sản xuất, trình diễn gốm và bán hàng lưu niệm. Như chia sẻ của một người dân: “Giờ con cháu chuyển sang làm gốm, bán hàng cho khách du lịch; làm nông vất vả mà thu nhập thấp nên ít người mặn mà” (Phỏng vấn sâu 2 ngày 2/10/2024). Trên nền nông nghiệp truyền thống, việc tích hợp nông nghiệp với du lịch cho thấy năng lực thích ứng và nắm bắt cơ hội sinh kế của cộng đồng Chăm trong bối cảnh du lịch phát triển.
Hoạt động sinh kế mới xuất hiện
Dịch vụ du lịch trải nghiệm đã trở thành một sinh kế mới ở Bàu Trúc từ đầu những năm 2000 và được đẩy mạnh trong thời gian gần đây. Nhiều hộ tổ chức lại không gian sản xuất thành điểm trưng bày và trải nghiệm, cho phép du khách quan sát và trực tiếp thực hành một số công đoạn làm gốm. Một hộ chia sẻ: “Khi khách du lịch đến nhiều, tôi trưng bày sản phẩm rồi hướng dẫn họ tự tay làm thử; nhờ vậy, thu nhập gia đình ổn định hơn” (Phỏng vấn sâu 4 ngày 4/10/2024). Hoạt động trải nghiệm chủ yếu do phụ nữ Chăm đảm trách, vừa hướng dẫn thao tác vừa thuyết minh về văn hóa và nghề gốm (Phỏng vấn sâu 13 ngày 9/10/2024). Hình thức sinh kế này không chỉ tạo việc làm ổn định cho phụ nữ mà còn góp phần tái định vị nghề gốm như một thực hành sinh kế mở, linh hoạt trong bối cảnh du lịch.
Dịch vụ biểu diễn nghệ thuật Chăm gồm âm nhạc và múa gắn với trống ghinăng, baranâng và kèn saranai, vốn chủ yếu diễn ra trong không gian nghi lễ và hội hè cộng đồng (Trương Văn Món, 2023). Trong bối cảnh du lịch, loại hình này được tái định vị thành sản phẩm du lịch thông qua việc điều chỉnh nội dung và hình thức biểu diễn để phục vụ công chúng rộng rãi. Các tiết mục được kết hợp giữa yếu tố truyền thống và một số hình thức cải biên nhằm phù hợp với thị hiếu du khách, trong đó nghệ nhân giữ vai trò trung tâm trong việc điều tiết mức độ truyền thống và hiện đại. Một nghệ nhân chia sẻ: “Thay đổi không có nghĩa là đánh mất… quan trọng nhất là người Chăm vẫn làm chủ nghệ thuật của mình” (Phỏng vấn sâu 10 ngày 7/10/2024). Thực tiễn này cho thấy nghệ thuật biểu diễn Chăm đang được cộng đồng chủ động thương thỏa và tái cấu trúc như một phương thức sinh kế gắn với việc khẳng định bản sắc văn hóa.
Trong bối cảnh du lịch phát triển, cộng đồng Chăm ở Bàu Trúc từng bước mở rộng sinh kế sang lưu trú, ẩm thực và các dịch vụ bổ trợ. Một số mô hình homestay mang đặc trưng văn hóa Chăm được hình thành, kết hợp lưu trú với trải nghiệm làm gốm và giao lưu văn hóa, qua đó nâng cao chất lượng trải nghiệm và tạo thêm thu nhập cho cộng đồng.
Ẩm thực Chăm trở thành điểm nhấn thông qua dịch vụ phục vụ bữa ăn cho các đoàn tham quan và nghiên cứu, với nhiều món truyền thống được đưa vào thực đơn phục vụ khách (Phỏng vấn sâu 10 ngày 5/10/2024). Các sinh kế bổ trợ như truyền thông số, bán hàng trực tuyến và cho thuê trang phục Chăm cũng từng bước phát triển, phản ánh năng lực thích ứng linh hoạt của cộng đồng trong quá trình tái cấu trúc sinh kế gắn với du lịch.
Tái cấu trúc văn hóa sinh kế từ góc nhìn chủ thể tự quyết
Các chính sách phát triển du lịch và nhu cầu thị trường đã thúc đẩy quá trình tái cấu trúc thực hành văn hóa sinh kế của cộng đồng Chăm ở Bàu Trúc. Với vai trò chủ thể tự quyết, cộng đồng chủ động tái sáng chế, tái định vị và tái trình hiện các giá trị văn hóa, qua đó thương thỏa bản sắc giữa bảo tồn truyền thống và yêu cầu du lịch. Tiến trình này góp phần hình thành cơ chế văn hóa sinh kế mới, vừa đa dạng hóa hoạt động mưu sinh vừa duy trì và phát huy bản sắc tộc người trong không gian du lịch đương đại.
Về tái sáng chế (re-invented), cộng đồng Chăm phục hồi có chọn lọc các thực hành có nguy cơ mai một, đồng thời làm mới một số yếu tố về hình thức, kỹ thuật và công năng để hình thành các sản phẩm, dịch vụ sinh kế bổ sung trên nền truyền thống. Nghề gốm vẫn giữ kỹ thuật cổ truyền nhưng được điều chỉnh về kích cỡ, mẫu mã và họa tiết nhằm phù hợp với thị trường; trong khi ẩm thực Chăm được chuẩn hóa và đưa vào không gian phục vụ du lịch như các đặc sản địa phương. Những thay đổi có chọn lọc này vừa mở rộng sinh kế, vừa góp phần bảo tồn và tái biểu đạt bản sắc trong bối cảnh du lịch đương đại. Như một người Chăm chia sẻ: “Một số biến đổi mang lại giá trị tích cực, giúp nhiều khách du lịch biết đến; chúng tôi rất vui và tự hào về điều đó” (Phỏng vấn sâu 23 ngày 31/7/2025).
Về tái định vị (re-defined), dựa trên bản dạng văn hóa tộc người, cộng đồng Chăm chủ động điều chỉnh và gắn ý nghĩa mới cho các thực hành văn hóa trong bối cảnh kinh tế du lịch. Từ nhận thức về giá trị kinh tế của tài nguyên văn hóa, nhiều hộ ưu tiên phát triển gốm mỹ nghệ, tổ chức trải nghiệm và biểu diễn nghệ thuật, kinh doanh ẩm thực, lưu trú, đồng thời mở rộng thương mại điện tử và liên kết nông nghiệp với du lịch. Ở cấp hộ gia đình, phân công lao động được sắp xếp linh hoạt hơn theo năng lực, với sự tham gia rõ nét của phụ nữ và thanh niên trong các hoạt động gắn với du lịch và truyền thông số. Quá trình này cho thấy tái định vị là sự sắp xếp lại ý nghĩa và thứ tự ưu tiên của các thành tố văn hóa, qua đó khai thác văn hóa truyền thống như một nguồn lực sinh kế và định hình các mô thức mưu sinh thích ứng với bối cảnh đương đại.
Về tái trình hiện (re-presented), cộng đồng Chăm ở Bàu Trúc đã đưa các thực hành văn hóa truyền thống vào không gian du lịch, qua đó chuyển hóa chúng thành các hoạt động phục vụ mưu sinh. Nếu trước đây các giá trị văn hóa chủ yếu tồn tại trong khuôn khổ nghi lễ và đời sống thường nhật, thì nay được trình hiện thông qua sản xuất, trưng bày, trải nghiệm nghề, biểu diễn nghệ thuật và ẩm thực phục vụ du khách. Quá trình này không chỉ nhằm giới thiệu bản sắc, mà còn tạo lập sinh kế mới, trong đó người thợ, nghệ nhân và phụ nữ Chăm vừa là chủ thể thực hành, vừa đảm nhiệm vai trò diễn giải và kể chuyện văn hóa. Các kỹ thuật nghề, trang phục và món ăn được “sân khấu hóa” có chọn lọc, thể hiện sự thương thỏa giữa tính nguyên bản và yêu cầu trình diễn, giữa bảo tồn và kinh tế. Qua đó, cộng đồng khẳng định vai trò chủ thể tự quyết trong việc tổ chức và điều chỉnh cách thức trình hiện bản sắc, đồng thời mở rộng sinh kế để góp phần nâng cao thu nhập, như chia sẻ của một nghệ nhân “Giờ mình vừa làm gốm vừa phải biết giới thiệu, nói chuyện với khách, để họ hiểu nghề mình quý thế nào” (Phỏng vấn sâu 10, 2024).
Nhìn chung, quá trình tái cấu trúc thực hành văn hóa sinh kế tại Bàu Trúc diễn ra trên nhiều bình diện, từ nghề gốm và nông nghiệp truyền thống đến các sinh kế mới gắn với du lịch như biểu diễn nghệ thuật, lưu trú, ẩm thực, sản xuất hàng lưu niệm, thương mại điện tử và dịch vụ trải nghiệm. Tiến trình này có sự tham gia của chính quyền, các cơ quan văn hóa và đặc biệt là cộng đồng Chăm với vai trò trung tâm, vừa gìn giữ và phát huy giá trị di sản, vừa sáng tạo và mở rộng không gian trình hiện văn hóa phục vụ sinh kế. Nhiều nghệ nhân cho rằng những biến đổi này giúp nghề gốm được biết đến rộng rãi hơn và củng cố niềm tự hào cộng đồng. Đồng thời, quá trình tái cấu trúc cũng bộc lộ những thách thức như nguy cơ thương mại hóa, phân hóa lợi ích và suy giảm lực lượng kế cận.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tái cấu trúc thực hành văn hóa sinh kế không chỉ là sự thay đổi hình thức mưu sinh, mà còn là quá trình tái định hình các giá trị văn hóa và cấu trúc xã hội. Điều này phù hợp với tiếp cận của Nguyễn Thị Phương Châm và Hoàng Cầm về tái sáng chế, tái định vị và tái trình hiện, trong đó cộng đồng giữ vai trò chủ thể tự quyết. Di sản văn hóa luôn vận động và được tái nghĩa trong tương tác với thị trường và du lịch (Cohen, 1988), đồng thời phản ánh năng lực thương thỏa và quyền tự quyết của cộng đồng như Salazar (2012) đã luận bàn.
4. Kết luận
Tái cấu trúc thực hành văn hóa sinh kế tại Bàu Trúc là tiến trình tất yếu trong bối cảnh du lịch, mở ra cơ hội phát triển song hành với những thách thức bảo tồn bản sắc. Trên nền nghề gốm và nông nghiệp, cộng đồng Chăm chủ động điều chỉnh và sáng tạo các sinh kế mới như biểu diễn nghệ thuật, lưu trú, ẩm thực, sản xuất lưu niệm, thương mại điện tử và du lịch trải nghiệm. Quá trình này thể hiện rõ năng lực thích ứng và vai trò chủ thể tự quyết của cộng đồng trong việc định hình bản sắc vừa kế thừa truyền thống, vừa phù hợp với kinh tế đương đại. Tuy nhiên, nguy cơ thương mại hóa, phân hóa lợi ích và thiếu lực lượng kế cận vẫn đặt ra yêu cầu cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp nhằm khuyến khích sáng tạo, đồng thời bảo vệ các giá trị cốt lõi của di sản. Trường hợp Bàu Trúc cho thấy mức độ chủ động của cộng đồng là yếu tố then chốt để dung hòa giữa phát triển du lịch và bảo tồn bản sắc
________________________________
Tài liệu tham khảo
1. Cohen, E. (1988). Authenticity and commoditization in tourism (Tính xác thực và quá trình thương phẩm hóa trong du lịch). Annals of Tourism Research. 15(3). https://doi.org/
10.1016/0160-7383(88)90028-X
2. Giddens, A. (1984). The constitution of society: Outline of the theory of structuration (Sự kiến tạo của xã hội: Phác thảo lý thuyết cấu trúc hóa). University of California Press.
3. MacCannell, D. (1973). Staged authenticity: Arrangements of social space in tourist settings (Tính xác thực được dàn dựng: Sắp đặt không gian xã hội trong bối cảnh du lịch). American Journal of Sociology. 79(3). https://doi.org/10.1086/225585
4. Nguyễn Thị Phương Châm, Hoàng Cầm. (2023). Tái cấu trúc văn hóa của cư dân vùng biên trong bối cảnh phát triển thương mại Việt Nam - Trung Quốc. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.
5. Ortner, S. B. (2006). Anthropology and social theory: Culture, power, and the acting subject (Nhân học và lý thuyết xã hội: Văn hóa, quyền lực và chủ thể hành động). Duke University Press.
6. Salazar, N. B. (2012). Tourism imaginaries: A conceptual approach (Tưởng tượng du lịch: Một cách tiếp cận khái niệm). Annals of Tourism Research. 39(2). https://doi.org/10.1016/j.annals.2011.10.004
7. Scoones, I. (1998). Sustainable rural livelihoods: A framework for analysis (Sinh kế nông thôn bền vững: Khung phân tích). (IDS Working Paper No. 72). Institute of Development Studies. https://opendocs.ids.ac.uk/articles/report/Sustainable_Rural_Livelihoods_A_Framework_for_Analysis/26473384
8. Scoones, I. (2009). Livelihoods perspectives and rural development (Cách tiếp cận sinh kế và phát triển nông thôn). Journal of Peasant Studies. 36(1). https://doi.org/10.1080/03066150902820503
9. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Thuận. (2022). Báo cáo ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch năm 2022.
10. Trương Văn Món. (2023). Văn hóa - lịch sử Chăm Pa (II): Vùng Panduranga và sự kiến tạo bản sắc. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
11. Ủy ban nhân dân huyện Ninh Phước. (2023). Báo cáo triển khai dự án “Phát triển du lịch cộng đồng dựa vào di sản tại làng Bàu Trúc”.
12. UNESCO. (2022). Decision of the 17th session (Rabat, 29/11/2022): Inscription of the “Art of pottery making of the Cham people in Viet Nam” on the List of intangible cultural Heritage in need of urgent safeguarding (Quyết định Kỳ họp lần thứ 17, Rabat, 29/11/2022: Ghi danh “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm ở Việt Nam” vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp). https://ich.unesco.org/en/decisions/17.COM/7.A.3
Ngày Tòa soạn nhận bài: 3/12/2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 28/12/2025; Ngày duyệt đăng: 12/1/2026.
NGUYỄN THỊ HỒNG NHÂM
Nguồn: Tạp chí VHNT số 633, tháng 2-2026