Niềm tin và tín ngưỡng của người nông dân
Nguồn gốc tâm linh của người nông dân Việt Nam bắt nguồn từ mối quan hệ gắn bó giữa con người và tự nhiên giữa “trời, đất, người”. Trong nền văn minh nông nghiệp lúa nước, con người sống phụ thuộc vào thời tiết, mùa màng, nước và đất. Từ đó, người nông dân dần hình thành niềm tin rằng vạn vật đều có linh hồn, mỗi cánh đồng, khúc sông, gốc đa hay giếng nước đều có thần linh cai quản. Chính sự hòa quyện ấy đã tạo nên cái nền tâm linh sâu dày của văn hóa nông thôn Việt Nam, nơi ranh giới giữa đời sống vật chất và tinh thần gần như không tồn tại.
Làng quê truyền thống, đình, chùa, miếu, đền... không chỉ là kiến trúc mà còn là niềm tin tâm linh của cộng đồng. Người dân tin rằng tổ tiên, thần làng, Thành Hoàng làng luôn dõi theo, che chở và phán xét hành vi của họ. Từ đó hình thành nên đạo lý ứng xử mang tính cộng đồng sâu sắc: “Sống sao cho phải đạo làng”, “có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Niềm tin ấy cũng còn là một hình thức điều tiết xã hội tự nhiên, giúp người nông dân ứng
xử hài hòa với người khác và với môi trường xung quanh.
Niềm tin này được thể hiện sâu sắc ở đoạn kết phim Ma làng, khi nhân vật phản diện là ông Tòng (NSND Bùi Bài Bình thủ vai) mang thuốc sâu định đầu độc bè cá của anh Nghiệp (Phạm Ngọc Quỳnh thủ vai), nhưng bị rắn cắn chết. Trong khi đó, anh Nghiệp hiền lành và thật thà, dù bị o ép suốt phim, cuối cùng lại có được tình yêu và sự nghiệp. Cách kết thúc ấy thể hiện: người lương thiện sẽ có được những kết quả tốt lành, kẻ ác sẽ bị quả báo, trừng phạt.
Trong toàn bộ Ma làng, khía cạnh đời sống tâm linh được đạo diễn xử lý rất tinh tế. Những câu chuyện về ma ở Bến Nghé, những tin đồn về hồn cô Lâm hiện về, những lời bàn tán ở quán nước đầu làng đều là một phần của văn hóa nông thôn Việt Nam, nơi niềm tin vào “vạn vật hữu linh” song hành với cuộc mưu sinh. Đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần dùng yếu tố này không phải để tạo màu sắc huyền bí, mà để phơi bày cách con người dùng niềm tin tâm linh để trấn an chính mình giữa nghèo đói và bất công. Ông cũng cho thấy mặt trái của niềm tin ấy: bị lợi dụng, bị thổi phồng, bị dùng như công cụ che đậy sự thật, như khi ông Tòng vui mừng vì dân làng bận bàn chuyện ma mà quên đi chuyện chính quyền.
Tâm linh của người nông dân Việt Nam còn gắn liền với tín ngưỡng thờ tổ tiên và tín ngưỡng phồn thực, hai tín ngưỡng bản địa tồn tại bền vững qua nhiều thế hệ. Việc cúng giỗ, dựng bàn thờ, dâng lễ hay tổ chức lễ hội mùa vụ không chỉ để cầu mưa thuận gió hòa, mà còn là cách để duy trì sợi dây liên kết giữa người sống và người đã khuất, giữa cá nhân và cộng đồng. Trong tâm thức người Việt, con người chỉ thực sự tồn tại khi được cộng đồng, đặc biệt là tổ tiên thừa nhận.
Nhân vật Phạm Văn Khuếnh (NSND Bùi Bài Bình thủ vai) trong phim Gió làng Kình khi vừa trúng chức trưởng thôn, việc đầu tiên ông thực hiện là làm lễ “vinh quy bái tổ”, báo cáo với tổ tiên trước nhà thờ họ Phạm. Trong phim Đất và người, anh Tùng (Hồng Minh thủ vai) được phục viên, khi về đến nhà việc đầu tiên anh làm là trình thẻ đảng viên trước bàn thờ của cha như mong có một sự ghi nhận từ cõi trên.
Trong Đất và người, tâm thức trên còn thể hiện rõ qua những sinh hoạt tín ngưỡng và phong tục dân gian. Từ lễ cúng sao giải hạn của gia đình ông Hàm (NSND Duy Hậu thủ vai) đến việc cụ Thống Điệu (NSND Mạnh Tuấn thủ vai) xin chính quyền và kêu gọi người dân xây lại miếu Bà; việc cả làng kéo nhau ra phản đối ông Ngũ (Kim Hoàn thủ vai) lấp ao Bà để mở xưởng cơ khí, vì ở đó có truyền thuyết về tiên cô lên xin Ngọc Hoàng giúp dân khỏi bị hạn hán... đã phản ánh một lớp niềm tin tâm linh bền chặt trong cộng đồng người Việt, dù đang ở thời kỳ khoa học hóa nông nghiệp. Kể cả cán bộ như nhà Chủ tịch xã Phúc (Phát Triệu thủ vai), khi cụ cố Đại (Hồng Chương thủ vai) ốm nặng thay vì đưa đến trạm y tế thì cũng chọn cách cúng lễ. Trong lễ dâng sao giải hạn của nhà ông Hàm, người chỉn chu chuẩn bị đồ lễ là con dâu ở thành phố. Chứng tỏ niềm tin tâm linh len lỏi vào trong từng hộ dân, từng cá nhân, bất kể thành phần, từ thành phố tới nông thôn, từ trí thức như ông Phúc hay nông dân thủ cựu như ông Hàm.
Ở cấp độ sâu hơn, tâm linh trong văn hóa làng Việt còn là cách con người lý giải thế giới và tìm sự trấn an trước những bất định của cuộc sống. Khi mất mùa, hạn hán, bệnh tật hay tai ương, người nông dân tìm đến miếu, đền, chùa như một cách đối thoại với số phận. Trong Gió làng Kình, khi cảm thấy dòng họ mình đang sa sút, ông Hàm đã nhẫn tâm đào mộ cụ cố nhà họ Vũ để trấn yểm. Bởi thế, yếu tố tâm linh luôn song hành cùng đời sống vật chất là phần hồn của văn hóa làng.
Tuy vậy, niềm tin tâm linh trong phim của đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần không chỉ phơi bày sự mê tín mà còn thể hiện nét hướng thiện của người nông dân. Tho (Thái An thủ vai) - vợ anh Quềnh (Hán Văn Tình thủ vai) khi biết dân làng góp tiền xây miếu đã không ngần ngại ủng hộ, dù gia cảnh nghèo khó. Câu nói của cô với chồng: “Đến việc công đức xây miếu còn không làm thì còn làm việc gì” thể hiện tấm lòng hướng thiện và tinh thần cộng đồng.
Mối quan hệ dòng tộc trong làng xã Việt Nam
Một sợi dây xuyên suốt ba bộ phim Đất và người, Ma làng và Gió làng Kình chính là mối quan hệ lợi ích dòng họ. Đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần đã đặt vấn đề này như một gốc rễ của nhiều bi kịch nông thôn, phản ánh chân thực không gian vận hành của đời sống làng xã Việt Nam, nơi tư duy họ tộc vừa gắn bó vừa trói buộc con người.
Giáo sư Trần Quốc Vượng (1995) đã chia xã hội Việt thành 6 nấc: cá nhân - gia đình - dòng họ - làng xóm - vùng miền - đất nước; được cô đọng thành: nhà - họ - làng - nước.
Với phim Đất và người, hầu hết nhân vật, dù ít hay nhiều, đều bị chi phối bởi lợi ích dòng họ, một tư tưởng tồn tại lâu đời và ăn sâu vào đời sống làng quê Việt Nam. Câu nói dân gian “một người làm quan, cả họ được nhờ” như sợi chỉ đỏ chi phối hành vi của các bô lão trong làng Giếng Chùa. Những ông Hàm, ông Thủ, ông Phúc tìm đủ cách để đưa lớp trẻ trong họ mình lên vị trí cao, coi sự thăng tiến ấy như niềm tự hào và cũng là sự bảo chứng cho thế lực của dòng họ. Vì thế, số phận của Tùng và Đào (Thanh Giang thủ vai) - con gái ông Hàm (trưởng họ Trịnh), không thoát khỏi vòng luẩn quẩn này. Dù khát khao đổi thay theo hướng tích cực, trong họ vẫn còn đọng lại tư duy họ tộc cố hữu. Thỉnh thoảng, Đào vẫn nổi giận với Tùng vì anh quyết định ở lại làng thay vì đi học, bởi trong suy nghĩ của cô, đó là sự lựa chọn để bảo toàn thể diện cho họ Vũ trước họ Trịnh. Chuyện tình cảm của đôi nam nữ cũng chịu tác động không nhỏ từ tư duy dòng tộc qua lời khuyên của cụ cố Đại, ông Phúc hay sự cấm đoán của ông Hàm. Qua đó, phim tái hiện một thế giới nơi đời sống riêng tư bị chi phối bởi những quy tắc cộng đồng và định kiến dòng họ.
Ở phim Ma làng, ông Tòng leo lên được vị trí chủ tịch xã đã bổ nhiệm những người trong họ vào các vị trí quan trọng của ủy ban. Bởi chức quyền càng cao, người ta càng giàu có, trong nhà có người mạnh về kinh tế, gánh nặng gia đình sẽ nhẹ đi. Họ hàng cũng nhận được sự hỗ trợ về tài chính hay nguồn lực, con cháu được nâng đỡ, tiến cử và đỗ đạt. Đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần đã tái hiện lên màn ảnh câu nói “một người làm quan, cả họ được nhờ” dường như ở thời điểm nào cũng chưa lỗi thời. “Được nhờ” còn là ảnh hưởng tích cực về tinh thần. Đó là niềm vui, niềm tự hào để cả họ thơm lây, nở mày nở mặt. Uy tín của dòng họ cũng tăng lên, tạo được ấn tượng tốt đẹp với làng xã. Đáng chú ý trong Ma làng, cậu Ất (Phùng Cường thủ vai) - con trai ông Tòng, một thanh niên lười học bất hảo nhưng được bố quy hoạch cho chân trưởng thôn, làm liên tưởng đến câu nói “con quan rồi lại làm quan, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Nhưng Ất lại gây ra biến cố rúng động làng quê, khi thuê băng phim đen cho trẻ con trong làng xem, làm Nở (Thúy An thủ vai) có bầu nên bị trượt bổ nhiệm. Sự cố khiến cả họ nhà ông Tòng lao đao, cùng hợp sức để tháo gỡ, cuối cùng lỗi mười còn một. Đạo diễn đã cho người xem thấy một mặt trái của tư duy dòng tộc - họ hàng cục bộ ảnh hưởng xấu tới lớp trẻ, tạo nên định hướng lệch lạc trong lựa chọn nghề nghiệp, khi không đi theo đam mê và tự thân cố gắng mà dựa vào thế lực gia đình, sắp đặt của người đi trước.
Sự che chở và ưu ái của những người có quyền lực dành cho con cháu trong dòng họ là một điều rất đỗi hiển nhiên trong các phim của đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần. Những thanh niên bất hảo như Khoái (Công Lý thủ vai) trong Gió làng Kình hay Ất trong Ma làng luôn được che chắn, bao bọc dù có gây nên tội gì. Bởi “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, đoạn kết của Gió làng Kình khi ông Khuếnh rời bỏ làng đã giao lại toàn bộ nhà cửa và số tiền tích cóp cả đời cho Khoái, đứa cháu duy nhất có cùng máu mủ với ông trong họ Phạm.
Khuếnh là mẫu nhân vật đặc trưng cho xã hội nông thôn thời kỳ chuyển giao: thông minh, mưu mô, nhiều tham vọng nhưng không hoàn toàn xấu. Ông hiểu rõ sức mạnh của đồng tiền trong thời đại mới và dùng nó để thao túng cả làng. Những việc ông làm, gom ruộng của dân bán cho doanh nghiệp, chia chác quyền lợi, bao che cho đám thanh niên bất hảo đều mang màu sắc vụ lợi. Nhưng đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần không khắc họa Khuếnh như một kẻ tham lam thuần túy. Trong sâu thẳm, Khuếnh là con người bị mặc cảm quá khứ ám ảnh: ba đời trước của ông là người ngoại tộc được họ Phạm nhặt về nuôi và ông mang trong mình nỗi khát khao được thừa nhận. Câu nói “trò đời, có gì để mà mạt sát, phân biệt, hạ thấp người khác thì người ta sẽ dùng hết” là chìa khóa mở ra tâm lý của ông, một con người sẵn sàng làm mọi thứ chỉ để được coi trọng. Cảnh Khuếnh đứng trước nhà thờ họ Phạm, nhìn bàn thờ tổ mà rưng rưng nước mắt là khoảnh khắc hiếm hoi khán giả thấy ông yếu đuối và thật nhất. Con người không sinh ra để làm ác, Khuếnh cũng vậy. Chỉ là trong sự mặc cảm về dòng máu, tư duy dòng tộc đã có từ lâu đời, nơi có những người mới ngoài ba mươi tuổi đã được gọi ông trẻ, Khuếnh chọn con đường khiến bản thân được thấy có giá trị, dù bằng cách sai lầm.
4. Kết luận
Ở bình diện không gian văn hóa, đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần đã tái hiện một nông thôn Bắc Bộ đậm đặc bản sắc, nơi hiện thực và ký ức, vật chất và tinh thần cùng song hành. Những cánh đồng, con ngõ, đình làng, chợ phiên, quán nước hay nghi lễ, quan niệm lâu đời không chỉ là phông nền cho câu chuyện mà là phần hồn văn hóa của làng Việt, khiến người xem thấy được sức mạnh tiềm ẩn của văn hóa làng xã, vừa bảo tồn vừa chi phối, đồng thời phản ánh sự vận động của xã hội nông thôn trong thời kỳ hiện đại hóa.
Coi không gian văn hóa nông thôn như linh hồn của câu chuyện, cả ba bộ phim Đất và người, Ma làng và Gió làng Kình đều đặt văn hóa làng quê vào vị trí chủ thể. Vào ba giai đoạn có nhiều biến chuyển nhất của làng quê - bao cấp, Đổi mới, đô thị hóa - không gian làng quê không còn là phông nền mà là “nhân vật thứ hai”. Điều này khiến các bộ phim vừa là tác phẩm nghệ thuật, vừa là tư liệu văn hóa, góp phần lưu giữ ký ức nông thôn.
Mỗi nhân vật, mỗi câu chuyện đều là một lát cắt của xã hội Việt Nam trong quá trình biến chuyển, nơi con người vừa là sản phẩm của thời cuộc vừa là chủ thể của sự đổi thay. Nếu các nhà biên kịch và đạo diễn thế hệ trước thường đặt trọng tâm vào “cái đúng - cái sai” thì đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần lại quan tâm đến “vì sao con người trở nên như thế”. Cách kể ấy không chỉ mở ra chiều sâu tư tưởng, mà còn thể hiện bản lĩnh của một nghệ sĩ trung thực với hiện thực và nhân hậu với con người.
Từ hành trình kể chuyện của đạo diễn - NSND Nguyễn Hữu Phần, có thể nhận ra rằng phim truyện, dù là phim truyền hình hay phim điện ảnh, suy cho cùng vẫn là câu chuyện về con người. Con người có thể bị tha hóa, bị chi phối bởi quyền lực hay cơ chế, nhưng luôn mang trong mình hạt mầm của thiện lương, của khả năng hồi sinh. Niềm tin ấy làm nên tinh thần nhân văn trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Hữu Phần, dù tác phẩm ra đời đã mấy thập kỷ vẫn còn nguyên giá trị với người xem hôm nay.
_____________________
Tài liệu tham khảo
1. David Bordwell, Kristin Thompson. (2008). Nghệ thuật điện ảnh. Nhà xuất bản Giáo dục.
2. David Thompson. (2006). Lịch sử điện ảnh thế giới. Nhà xuất bản Mỹ thuật.
3. Dean Movshovitz. (2017). Nghệ thuật kể chuyện của Pixar. Nhà xuất bản Thế giới.
4. Nguyễn Khắc Trường. (1990). Mảnh đất lắm người nhiều ma. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
5. Trần Quốc Vượng. (1995). Cơ sở văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.
6. Trịnh Thanh Phong. (2007). Ma làng. Nhà xuất bản Văn học.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 22/7/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 1/8/2026; Ngày duyệt đăng: 20/8/2026.
Ths NGUYỄN TRẦN TRUNG HIẾU
Nguồn: Tạp chí VHNT số 654, tháng 9/2026