Hữu tướng quân, Quốc công Nguyễn Bặc, Vua Đinh và 
Tả tướng quân.
Ảnh: ĐPCC
Hữu tướng quân, Quốc công Nguyễn Bặc, Vua Đinh và Tả tướng quân. - Ảnh: ĐPCC

Khát vọng tìm về nguồn cội

Phim điện ảnh dã sử và huyền sử Việt Nam từ lâu vẫn luôn là một địa hạt đầy rủi ro  bởi những áp lực về tính chính xác của các sự kiện lịch sử, sự soi xét của khán giả và giới chuyên môn khi thường đòi hỏi sự trùng khớp tuyệt đối giữa phim ảnh và chính sử, khiến các nhà làm phim dè dặt và sợ sai sót. Bên cạnh đó, kinh phí đầu tư khổng lồ của thể loại này đối mặt với hạn chế về hạ tầng kỹ thuật: thiếu phim trường quy mô lớn, đội ngũ chuyên gia thiết kế phục mỹ thuật và kỹ xảo thị giác (VFX) dày dặn kinh nghiệm cho dòng phim cổ trang. Những khoảng cách giữa câu chuyện lịch sử với thị hiếu đương đại cũng khiến các nhà làm phim khó cân bằng giữa việc giữ hồn cốt lịch sử truyền thống và tạo ra cốt truyện lôi cuốn, gần gũi với giới trẻ ngày nay.

 Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình thai nghén dự án Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh tròn một thập kỷ, khởi nguồn từ một truyền thuyết dân gian vô tình được nghe từ một người lái đò trên sông ở Ninh Bình. Nhìn vào hành trình sáng tác của anh, từ Vũ khúc con cò - tác phẩm hợp tác quốc tế khai thác góc nhìn chiến tranh mang đậm tính nhân bản, cho đến sự gai góc, trần trụi của Cánh đồng bất tận, hay những khắc khoải tha hương trong Quyên, người ta dễ dàng nhận thấy một nhãn quan điện ảnh luôn hướng về những thân phận con người gắn liền với bối cảnh lịch sử và biến thiên thời cuộc. Tuy nhiên, việc bước vào lãnh địa huyền sử lại là một thử thách cao độ. Chọn đề tài về lăng mộ Vua Đinh Tiên Hoàng - vị hoàng đế vĩ đại đã có công dẹp loạn 12 sứ quân, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự chủ đầu tiên cho nước Việt sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc - đạo diễn đang chạm vào một trong những mạch ngầm thiêng liêng nhất của lịch sử dân tộc.

Đường dây câu chuyện của Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh được xây dựng trên một tiền đề hấp dẫn: Bảy tráng sĩ với những năng lực xuất chúng, gánh vác sứ mệnh bảo vệ giấc ngủ ngàn thu của bậc đế vương. Họ không chỉ là những cỗ máy chiến đấu vô hồn, mà mang trong mình những hỉ, nộ, ái, ố của con người: là tình phụ tử, tình thầy trò, là sự giằng xé giữa trung và hiếu, giữa tình cảm cá nhân và đại cuộc quốc gia. Sự trường tồn của một triều đại sẽ luân chuyển trong dòng máu, trong ý chí và sự hy sinh của những con người nằm lại trên mảnh đất này...

Bên cạnh tuyến truyện vĩ mô, tác phẩm khéo léo đan cài một tiểu tự sự (sub-plot) về mối tình đẫm nước mắt, đan xen giữa yêu và hận, ân và oán của hai tráng sĩ trẻ tuổi An Nhiên và Nguyên Phong. Chính tuyến truyện phụ này đã làm mềm hóa không khí binh đao, tạo ra những khoảng lặng cần thiết để khán giả kịp thấu cảm với nội tâm nhân vật trước khi bước vào những trận tử chiến khốc liệt.

Bộ phim đã góp phần lan tỏa tình yêu của các bạn trẻ với cổ phục Việt. Ảnh: Các khán giả trẻ mặc cổ phục đi xem phim
Bộ phim đã góp phần lan tỏa tình yêu của các bạn trẻ với cổ phục Việt. Ảnh: Các khán giả trẻ mặc cổ phục đi xem phim

Tư duy bài bản trong việc phục dựng di sản

Thành công về mặt thị giác của Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh có dấu ấn không nhỏ của đạo diễn hành động Johnny Trí Nguyễn. Sự trở lại của anh trong một dự án cổ trang đã mang đến những màn ảnh động mãn nhãn và một hệ thống võ thuật điện ảnh mang đậm chất Việt: ngôn ngữ võ thuật trong phim được thiết kế dựa trên sự thực dụng, dứt khoát, tàn khốc nhưng vẫn đảm bảo tính thẩm mỹ cao của các bài binh khí cổ truyền.

Để có được những thước phim bi tráng ấy, dàn diễn viên đã phải trải qua một quá trình rèn luyện thể lực và kỹ năng chiến đấu ròng rã suốt nửa năm. Điều này vô tình lại tạo ra một độ “chân thực” đắt giá cho sự khốc liệt của chiến trường. Bất ngờ lớn  đến từ Trần Thiên Tú trong vai An Nhiên. Các phân cảnh hành động của An Nhiên không dùng sức mạnh cơ bắp để áp đảo, mà sử dụng sự uyển chuyển, hiểm hóc, thể hiện rõ đặc tính của võ thuật phương Đông: mượn lực đả lực, lấy nhu thắng cương.

Điểm đáng ghi nhận của Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh còn nằm ở khâu thiết kế mỹ thuật và phục trang. Nhà sản xuất BHD đã rất thận trọng và chuyên nghiệp khi mời tới 5 tổ chức, hội nhóm uy tín hàng đầu trong lĩnh vực nghiên cứu và phỏng dựng văn hóa cổ tham gia cố vấn. Khâu cổ phục được thực hiện thông qua những quy trình khắt khe: từ việc nghiên cứu tư liệu, tham vấn chuyên gia, cho đến việc tổ chức các buổi hội thảo khoa học, thậm chí trưng bày mô hình để lấy ý kiến phản biện từ công chúng trước khi đưa vào sản xuất.

Nổi bật của sự tinh tế trong ngôn ngữ tạo hình chính là chi tiết thay thế “lông trĩ” bằng “bông lau trắng” trên mũ của các chiến tướng nhà Đinh. Điều này không chỉ thể hiện nhãn quan thẩm mỹ mà còn ẩn chứa hàm ý lịch sử sâu xa khi tri ân cội nguồn xuất thân của Vua Đinh Tiên Hoàng - cậu bé chăn trâu thuở “cờ lau tập trận” năm xưa nay đã trở thành Vạn Thắng Vương uy chấn thiên hạ. Đồng thời, nó bám sát vào ý nghĩa biểu tượng của đội quân “Vũ Lâm” (những người lính gác rừng sâu, nhẹ nhàng như lông chim) chịu trách nhiệm bảo vệ cấm cung.

Sự kỳ công trong phục dựng bối cảnh kinh thành Hoa Lư với kiến trúc gỗ mái lợp ngói âm dương, cùng phần màu sắc, ánh sáng được xử lý tinh tế bởi đạo diễn hình ảnh K’Linh đã biến bộ phim thành một bảo tàng văn hóa Việt cổ sống động.  Phim đã tạo ra một “hiệu ứng lan tỏa” trong đời sống xã hội khi nhiều khán giả sau khi xem phim đã tìm hiểu nghiên cứu để hiểu thêm về các sự kiện lịch sử và nhân vật trong phim. Bên cạnh đó là những nhóm khán giả trẻ quay sang nghiên cứu cổ phục Việt, chứng minh rằng khi điện ảnh chạm đến lòng tự tôn dân tộc bằng một thái độ nghiêm túc, nó hoàn toàn có thể trở thành cầu nối vững chắc để bảo tồn và phát huy các giá trị di sản truyền thống.

Đại Việt Võ Bị - nhóm bạn trẻ yêu thích giáp trụ và tham gia chế tác giáp trụ trong phim
Đại Việt Võ Bị - nhóm bạn trẻ yêu thích giáp trụ và tham gia chế tác giáp trụ trong phim

Những khoảng trống đầy tiếc nuối

Dẫu là một tác phẩm được đầu tư với kinh phí lớn và tâm huyết, Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh vẫn chưa thể đạt đến độ hoàn hảo về mặt cấu trúc điện ảnh.

Về diễn xuất, bộ khung nhân vật chính đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Bên cạnh một An Nhiên sắc lạnh, Tả tướng quân Nguyên Phong và Hữu tướng quân (do Johnny Trí Nguyễn thủ vai) mang đến sự đối trọng hoàn hảo. NSND Tự Long trong vai Thầy mo đã chứng minh đẳng cấp của một nghệ sĩ gạo cội khi chỉ bằng vài ánh mắt, cử chỉ đã lột tả được sự huyền bí, uy quyền của một bậc thầy tâm linh nắm giữ mạch khí của cả vương triều. Tuy nhiên, sự chênh lệch trong tổng thể diễn xuất của dàn diễn viên phụ lại vô tình làm lộ ra những điểm còn vụng về trong khâu kịch bản.

Điểm khuyết lớn nhất của bộ phim nằm ở nhịp điệu (pacing) và cấu trúc kể chuyện. Dường như ê-kíp đã bị choáng ngợp bởi chính sự đồ sộ của thế giới điện ảnh mà họ tạo ra. Việc dành quá nhiều thời lượng để phô diễn bối cảnh hùng vĩ đã khiến nhịp phim đôi chỗ trở nên lê thê, thiếu đi độ dồn dập cần thiết của một tác phẩm hành động. Các đoạn chuyển cảnh (transition) giữa tuyến truyện cung đấu, tình cảm và những trận chiến bảo vệ lăng mộ chưa thực sự mượt mà, khiến cảm xúc của người xem đôi khi bị đứt gãy.

Đáng tiếc hơn cả là sự lãng phí tiềm năng của các tuyến nhân vật phản diện. Tác phẩm thiếu vắng những điểm nút thắt (plot-twist) sắc bén, đủ sức làm đảo lộn tư duy khán giả ở hồi 3 của bộ phim. Cụ thể, biên kịch đã bỏ lỡ một mỏ vàng khi xây dựng nhân vật hoạn quan tổng quản. Với bối cảnh chuyển giao quyền lực phức tạp, nhân vật này hoàn toàn có thể được đào sâu tâm lý, tạo ra một phản diện kiểu “trùm cuối” mang dáng dấp bi kịch. Thay vào đó, sự giải quyết xung đột ở cuối phim lại diễn ra khá an toàn, vội vã, chưa tương xứng với quy mô của cuộc chiến đã được bày biện từ đầu.

Dù vậy, không thể phủ nhận Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh là một bước tiến đầy dũng cảm của điện ảnh Việt. Phim mang một ý nghĩa khích lệ to lớn, khẳng định rằng các nhà làm phim Việt Nam hoàn toàn đủ sức, đủ tâm và đủ tầm để kể những câu chuyện lịch sử của cha ông một cách hào hùng và vạm vỡ nhất.

DIÊN VỸ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 653, tháng 8/2026