Phát biểu khai mạc sự kiện, bà Nguyễn Thị Ngọc Hòa, Giám đốc Trung tâm Điều phối các hoạt động sáng tạo Hà Nội cho rằng, không có địa phương nào trên cả nước lại có nhiều nhạc sĩ và có nhiều bài hát viết về mình như Hà Nội. Rất nhiều nhạc sĩ đã viết các ca khúc về Thủ đô từ trước cách mạng, cho tới thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và cả khi đất nước hòa bình, thống nhất sau này…Trong đó tân nhạc đã trở thành một phương tiện mới truyền tải các thông điệp tình cảm và xã hội, tham gia vào phong trào giải phóng dân tộc.
Qua những tài liệu trong trưng bày, có thể thấy hoạt động âm nhạc, nghệ thuật, đời sống tinh thần phong phú đặc sắc của nhân dân và văn nghệ sĩ Thủ đô trong một giai đoạn đầy ý nghĩa của lịch sử dân tộc. Thông qua hệ thống tư liệu phong phú, trưng bày không chỉ kể câu chuyện về sự ra đời của một dòng nhạc mới mà còn khắc họa Hà Nội như một trung tâm âm nhạc phản chiếu đời sống đô thị, lưu giữ ký ức lịch sử và nuôi dưỡng bản sắc văn hóa của Thủ đô.
Không gian trưng bày "Hướng về thành phố xa xưa: Hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934–1954)" giới thiệu 102 bản nhạc, hiện vật quý giá được tuyển chọn từ bộ sưu tập khoảng 2.000 tờ nhạc cùng nhiều tư liệu, hình ảnh có giá trị, bao gồm bản nhạc gốc, tờ nhạc, đĩa hát, hình ảnh các nhạc sĩ, ca sĩ và những dấu mốc quan trọng của nền tân nhạc Hà Nội trong giai đoạn 1934–1954.
Được thiết kế theo 5 chủ đề, tái hiện bức tranh sinh động về đời sống văn hóa, xã hội và âm nhạc của Hà Nội trong những thập niên đầu của nền tân nhạc: từ vẻ đẹp lãng mạn của những bản tình ca, tinh thần yêu nước trong các ca khúc cách mạng đến nhịp sống đô thị Hà thành và dấu ấn sáng tạo của các nhạc sĩ tiêu biểu như Văn Cao, Đoàn Chuẩn – Từ Linh, Dương Thiệu Tước, Thẩm Oánh cùng nhiều tên tuổi đã góp phần định hình diện mạo âm nhạc Việt Nam hiện đại.


Đối thoại về ký ức Hà Nội qua âm nhạc
Sau lễ khai mạc không gian trưng bày là tọa đàm chuyên đề "Hai thập niên tân nhạc Hà Nội (1934–1954)" với sự tham gia của Nhạc sĩ Giáng Son; TS Trần Ngọc Hiếu; Nhà nghiên cứu, nhà văn Nguyễn Trương Quý.
Tại Tọa đàm, các diễn giả đã tập trung trao đổi về quá trình hình thành của nền tân nhạc Hà Nội, những giá trị nghệ thuật và văn hóa được lưu giữ qua các ca khúc tiền chiến, đồng thời nhìn nhận vai trò của âm nhạc như một phần quan trọng trong ký ức đô thị và sự phát triển của công nghiệp văn hóa sáng tạo Hà Nội.

Chia sẻ về quá trình hình thành tân nhạc giai đoạn 1934–1954, nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý cho biết, năm 1934 đánh dấu sự thịnh hành của phong trào nghe “bài Tây”, hát “bài ta theo điệu Tây” tại Hà Nội. Trong bối cảnh đào tạo âm nhạc chuyên nghiệp còn hạn chế, nhiều nhạc sĩ trẻ chủ yếu tự học, tham gia các lớp không chuyên và tiếp thu âm nhạc phương Tây qua đĩa hát.
Những năm cuối thập niên 1930, đầu thập niên 1940, bên cạnh dòng ca khúc lãng mạn còn xuất hiện nhiều bài hát về thanh niên, lịch sử và tinh thần dân tộc. Cách mạng Tháng Tám tiếp tục đưa tân nhạc trở thành phương tiện truyền tải hiệu quả những giá trị văn hóa và tinh thần mới.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Trương Quý, một thử thách lớn của các nhạc sĩ thời kỳ đầu là kết hợp phương pháp sáng tác phương Tây với đặc trưng sáu thanh điệu của tiếng Việt. Qua quá trình tìm tòi, họ ngày càng thành thạo trong việc đặt lời, vận dụng luyến láy và tiết tấu để bảo đảm sự hài hòa giữa ngôn ngữ và giai điệu. Đây cũng là hành trình tân nhạc từng bước định hình bản sắc và trưởng thành trong đời sống văn hóa Việt Nam.
Chia sẻ tại tọa đàm, nhạc sĩ Giáng Son cho biết, chị được tiếp cận những tác phẩm tân nhạc thời kỳ đầu từ khi còn là học sinh trung cấp âm nhạc. Qua quá trình học tập và sáng tác, chị nhận thấy đây là những tác phẩm có vai trò quan trọng trong việc đặt nền móng cho ca khúc Việt Nam.
Theo nhạc sĩ Giáng Son, bản lĩnh của thế hệ đi trước không chỉ thể hiện ở việc tiếp nhận và Việt hóa những phương pháp sáng tác mới mà còn ở cách họ biểu đạt cảm xúc cá nhân. Nhiều ca khúc thời kỳ này mang nỗi buồn sâu lắng, nhưng đó là nỗi buồn giàu tính thẩm mỹ, không chìm trong bi lụy hay bế tắc.
“Tôi cũng viết nhiều bài buồn, nhưng trong đó vẫn có sự lạc quan và niềm hy vọng vào tương lai. Tôi rất khâm phục những thế hệ đi trước đã đặt nền móng quan trọng cho chúng tôi”, chị chia sẻ.
Lý giải sức hấp dẫn đặc biệt của âm nhạc thời kỳ này, TS Trần Ngọc Hiếu (giảng viên khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) cho rằng cần đặt dòng nhạc này trong không gian của chủ nghĩa lãng mạn Việt Nam những năm 1930. Đây là giai đoạn một thế hệ mới bắt đầu nhận thức rằng họ không chỉ là sự nối dài của thế hệ cha ông, mà có quyền cất lên tiếng nói riêng về cá tính, tình cảm và đời sống nội tâm.
Theo TS Trần Ngọc Hiếu, chủ nghĩa lãng mạn đã góp phần giải phóng cảm xúc con người khỏi những khuôn phép vốn chi phối xã hội và văn chương trung đại. Những trạng thái tưởng như rất riêng tư, vu vơ, mơ màng, ngẩn ngơ hay tương tư được thừa nhận, giãi bày và trở thành đối tượng của nghệ thuật. Điều này thể hiện trong các nhạc phẩm Cô lái đò, Cô láng giềng, Cô hái mơ... qua đó, con người hiện lên với những rung động tinh tế, khát vọng tự do và nhu cầu tự nhận diện chính mình.
TS Trần Ngọc Hiếu cho rằng, bên cạnh dòng ca khúc trữ tình với những giai điệu buồn, chậm, âm nhạc giai đoạn này còn vang lên tiếng hát tươi vui, sôi nổi và đầy sức sống của tuổi trẻ. Nhiều tác phẩm của các nhạc sĩ như Hè về (Hùng Lân), Đoàn lữ nhạc (Đỗ Nhuận), Ngựa phi đường xa (Lê Yên) hay Sơn nữ ca (Trần Hoàn) thể hiện tinh thần phóng khoáng, niềm vui sống và khát vọng lên đường...

Làm mới di sản âm nhạc phù hợp với giới trẻ
Bên cạnh việc nhận diện giá trị lịch sử, TS Trần Ngọc Hiếu cho rằng di sản âm nhạc thường gắn chặt với ký ức, vì vậy, người nghe dễ hình thành tâm lý chỉ chấp nhận một giọng hát hoặc một cách thể hiện đã trở nên quen thuộc. Điều này có thể vô tình tạo khoảng cách giữa những tác phẩm cũ với thế hệ công chúng mới.
Chia sẻ về công tác bảo tồn âm nhạc, theo ông cần được tiến hành theo hai hướng. Một mặt, phải tiếp tục sưu tầm, lưu trữ và phục hồi các bản nhạc, bản thu, tư liệu để tránh nguy cơ thất truyền. Mặt khác, di sản cần được trao cơ hội bước vào đời sống thông qua những hình thức biểu diễn và sáng tạo mới.
Đồng tình với quan điểm cần trao cho di sản một đời sống mới, nhạc sĩ Giáng Son cho rằng những tác phẩm cũ có thể được phối khí, dàn dựng hoặc bổ sung cách thể hiện phù hợp với giới trẻ. Thực tế, các ca khúc như Áo mùa đông, Đào Liễu, Mẹ yêu con khi được làm mới đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ của công chúng và tiếp tục xuất hiện trong nhiều chương trình biểu diễn.
Theo nhạc sĩ Giáng Son, việc làm mới không có nghĩa là phủ nhận giá trị của bản gốc. Các thế hệ ca sĩ trẻ với năng lực chuyên môn, tư duy phối khí và công nghệ phòng thu hiện đại cần được khuyến khích tiếp cận những tác phẩm kinh điển. Công chúng, đặc biệt là những người đã quen với các bản thu cũ, cũng cần cởi mở hơn với những cách thể hiện khác biệt.

Tại chương trình, khán giả được thưởng thức những ca khúc tiêu biểu như Hà Nội 49, Chiếc lá cuối cùng, Trương Chi, Thu vàng và Hướng về Hà Nội qua phần thể hiện của ca sĩ Quỳnh Hoa và Trung Ka. Trong không gian lắng đọng, những giai điệu khi thiết tha, sâu lắng, khi man mác nỗi nhớ đã đưa người nghe trở về với Hà Nội của một thời: thanh lịch, hào hoa và thấm đẫm chất thơ. Mỗi ca khúc là nhịp cầu kết nối quá khứ với hiện tại, để những giá trị lịch sử và vẻ đẹp tâm hồn Hà Nội tiếp tục ngân vang trong cảm xúc của công chúng hôm nay.