Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ chế thích ứng của di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng người Mông tại Sa Pa dưới tác động của du lịch. Nghiên cứu tập trung vào quá trình thương lượng giữa bảo tồn và đổi mới, giữa sinh hoạt nội bộ và nhu cầu trình diễn, cũng như giữa sinh kế và bản sắc tộc người. Sử dụng phương pháp định tính với 15 cuộc phỏng vấn sâu và 6 đợt quan sát tham dự tại 5 bản du lịch, dữ liệu được xử lý qua phân tích chủ đề và lý thuyết mạng lưới tác nhân. Kết quả chỉ ra bốn mô hình thích ứng cốt lõi: chuyển đổi chức năng nghi lễ sang hướng trình diễn; đổi mới nghề thủ công gắn với thị trường và tính xác thực; sự hình thành bản sắc lai ghép ở thế hệ trẻ trong vai trò trung gian văn hóa; dịch chuyển sang cơ chế đồng quản lý di sản giữa cộng đồng và chính quyền. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình tương tác đa chiều, cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững văn hóa tại vùng dân tộc thiểu số.
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích di tích đền Cuông với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chuyển đổi và hội nhập hiện nay. Trên cơ sở tư liệu khoa học, khảo sát thực địa, nghiên cứu làm rõ giá trị lịch sử, tín ngưỡng và vai trò của đền Cuông, thành tố trong hệ thống di sản văn hóa Bắc Trung Bộ trong hoạt động du lịch. Công tác bảo tồn đã có chuyển biến tích cực nhưng hoạt động khai thác du lịch văn hóa còn hạn chế, sản phẩm thiếu đặc trưng và tính kết nối vùng chưa cao. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa, bao gồm việc áp dụng chuyển đổi số và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung về khoa học và thực tiễn cho quản lý di sản gắn với phát triển du lịch, đồng thời, khẳng định giá trị biểu tượng của đền Cuông trong phát triển du lịch văn hóa bền vững tỉnh Nghệ An hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết đề xuất cách tiếp cận phát triển không gian văn hóa - du lịch và tổ chức lễ hội tại cụm di tích đình - miếu Cái Chiên, xã Cái Chiên, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tổng hợp lý thuyết, chuẩn mực quốc tế và quy phạm pháp luật Việt Nam, đối chiếu với dữ liệu thực địa, tư liệu lịch sử, văn hóa địa phương. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình tổ chức không gian tích hợp 4 lớp (lõi thiêng; không gian trình diễn và tuyến rước; không gian dịch vụ du lịch sinh thái - văn hóa; vùng đệm sinh thái), kèm cơ chế đồng quản trị cộng đồng, quy trình đánh giá tác động di sản (HIA) và bộ chỉ số theo dõi sức chứa, giới hạn biến đổi chấp nhận được (LAC). Kết quả hướng tới bảo tồn giá trị gốc, nâng cao trải nghiệm du khách, tạo sinh kế bền vững và phù hợp với các quy hoạch hiện hành của tỉnh Quảng Ninh, đồng thời đóng góp một mô hình thực hành có thể nhân rộng cho các cụm di tích ven biển - hải đảo ở Việt Nam.