Tóm tắt: Vân Đồn và Phố Hiến là hai hợp phần khác loại nhưng liên thông trong cấu trúc thương mại - văn hóa của Đại Việt: một bên là cửa ngõ hải thương biển đảo ở Đông Bắc, một bên là đầu mối cảng thị sông của châu thổ sông Hồng. Trên cơ sở tiếp cận tuyến văn hóa, di sản nối tiếp, cảnh quan đô thị lịch sử, diễn giải di sản và du lịch văn hóa bền vững, giá trị nổi bật của hai di sản không chỉ nằm ở từng điểm di tích, mà ở khả năng cấu thành trục lịch sử từ biển đến sông, từ ngoại thương đến giao lưu văn hóa, từ bến cảng đến ký ức cư dân và trầm tích đô thị. Từ đó, bài viết đề xuất định hướng kết nối Vân Đồn - Phố Hiến như một trục du lịch văn hóa thương cảng ở Bắc Bộ.
Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu các giá trị văn hóa truyền thống của đền Quan Lớn Tuần Tranh trong bối cảnh phát triển du lịch văn hóa tại Việt Nam. Là một địa điểm linh thiêng quan trọng gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu, ngôi đền lưu giữ những giá trị lịch sử, tâm linh, nghệ thuật và cộng đồng phong phú, bắt nguồn sâu sắc từ tín ngưỡng dân gian liên quan đến văn hóa sông nước và sinh kế gắn liền với sông nước. Dựa trên các phương pháp định tính, bao gồm phân tích tài liệu và diễn giải văn hóa - lịch sử, nghiên cứu này xác định các giá trị văn hóa truyền thống cốt lõi của đền Quan Lớn Tuần Tranh và phân tích tình hình khai thác hiện tại cho mục đích du lịch. Kết quả cho thấy, mặc dù ngôi đền có tiềm năng đáng kể cho du lịch văn hóa và tâm linh, nhưng các hoạt động du lịch hiện nay vẫn còn rời rạc, tự phát và thiếu sự diễn giải văn hóa có hệ thống, tiềm ẩn nguy cơ thương mại hóa hời hợt và làm sai lệch các giá trị gốc. Việc khai thác các giá trị văn hóa của đền cho mục đích du lịch cần phải dựa trên các nguyên tắc bảo vệ tính xác thực, tôn trọng các nghi lễ và có sự tham gia của cộng đồng địa phương.
Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ chế thích ứng của di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng người Mông tại Sa Pa dưới tác động của du lịch. Nghiên cứu tập trung vào quá trình thương lượng giữa bảo tồn và đổi mới, giữa sinh hoạt nội bộ và nhu cầu trình diễn, cũng như giữa sinh kế và bản sắc tộc người. Sử dụng phương pháp định tính với 15 cuộc phỏng vấn sâu và 6 đợt quan sát tham dự tại 5 bản du lịch, dữ liệu được xử lý qua phân tích chủ đề và lý thuyết mạng lưới tác nhân. Kết quả chỉ ra bốn mô hình thích ứng cốt lõi: chuyển đổi chức năng nghi lễ sang hướng trình diễn; đổi mới nghề thủ công gắn với thị trường và tính xác thực; sự hình thành bản sắc lai ghép ở thế hệ trẻ trong vai trò trung gian văn hóa; dịch chuyển sang cơ chế đồng quản lý di sản giữa cộng đồng và chính quyền. Từ đó, bài viết đề xuất mô hình tương tác đa chiều, cung cấp cơ sở khoa học cho các chính sách phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững văn hóa tại vùng dân tộc thiểu số.
Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích di tích đền Cuông với phát triển du lịch văn hóa tỉnh Nghệ An trong bối cảnh chuyển đổi và hội nhập hiện nay. Trên cơ sở tư liệu khoa học, khảo sát thực địa, nghiên cứu làm rõ giá trị lịch sử, tín ngưỡng và vai trò của đền Cuông, thành tố trong hệ thống di sản văn hóa Bắc Trung Bộ trong hoạt động du lịch. Công tác bảo tồn đã có chuyển biến tích cực nhưng hoạt động khai thác du lịch văn hóa còn hạn chế, sản phẩm thiếu đặc trưng và tính kết nối vùng chưa cao. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa, bao gồm việc áp dụng chuyển đổi số và tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung về khoa học và thực tiễn cho quản lý di sản gắn với phát triển du lịch, đồng thời, khẳng định giá trị biểu tượng của đền Cuông trong phát triển du lịch văn hóa bền vững tỉnh Nghệ An hiện nay.
Tóm tắt: Bài viết đề xuất cách tiếp cận phát triển không gian văn hóa - du lịch và tổ chức lễ hội tại cụm di tích đình - miếu Cái Chiên, xã Cái Chiên, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tổng hợp lý thuyết, chuẩn mực quốc tế và quy phạm pháp luật Việt Nam, đối chiếu với dữ liệu thực địa, tư liệu lịch sử, văn hóa địa phương. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất mô hình tổ chức không gian tích hợp 4 lớp (lõi thiêng; không gian trình diễn và tuyến rước; không gian dịch vụ du lịch sinh thái - văn hóa; vùng đệm sinh thái), kèm cơ chế đồng quản trị cộng đồng, quy trình đánh giá tác động di sản (HIA) và bộ chỉ số theo dõi sức chứa, giới hạn biến đổi chấp nhận được (LAC). Kết quả hướng tới bảo tồn giá trị gốc, nâng cao trải nghiệm du khách, tạo sinh kế bền vững và phù hợp với các quy hoạch hiện hành của tỉnh Quảng Ninh, đồng thời đóng góp một mô hình thực hành có thể nhân rộng cho các cụm di tích ven biển - hải đảo ở Việt Nam.