Từ khóa: Vân Đồn; Phố Hiến; di sản thương cảng; du lịch văn hóa; tuyến văn hóa.

Abstract: Vân Đồn and Phố Hiến constitute two distinct yet interconnected components within the commercial and cultural structure of Đại Việt: the former served as an island-based maritime gateway in the North-East, while the latter functioned as a river-port urban hub in the Red River Delta. Drawing on the approaches of cultural routes, serial heritage, the historic urban landscape, heritage interpretation, and sustainable cultural tourism, this article argues that the outstanding value of these two heritage sites lies not merely in their individual monuments, but in their capacity to form a historical axis extending from sea to river, from foreign trade to cultural exchange, and from harbour infrastructure to community memory and urban sedimentation. On that basis, the article proposes the linkage of Vân Đồn and Phố Hiến as a cultural tourism corridor of port heritage in Northern Vietnam.

Keywords: Vân Đồn; Phố Hiến; port heritage; cultural tourism; cultural route.

Untitlednm.jpg
Di tích lịch sử Quần thể Thương cảng Vân Đồn thuộc Đặc khu Vân Đồn (Quảng Ninh) - Ảnh: quangninh.gov.vn

1. Đặt vấn đề

Thương cảng trong lịch sử Việt Nam không chỉ là nơi trao đổi hàng hóa. Ở tầng sâu hơn, đó là không gian kết tụ quyền lực nhà nước, hoạt động bang giao, sự hiện diện của thương nhân ngoại quốc, đời sống cư dân, tín ngưỡng, ký ức đô thị và những dung hợp văn hóa kéo dài qua nhiều thế kỷ. Bởi vậy, nếu chỉ nhìn thương cảng bằng lăng kính kinh tế, ta mới chạm đến bề mặt hiện tượng; còn nếu tiếp cận như một cấu trúc lịch sử, văn hóa, ta mới có thể giải thích đầy đủ hơn những giá trị mà nó để lại trong hiện tại.

Vân Đồn và Phố Hiến là hai trường hợp tiêu biểu cho hai hình thái thương cảng khác nhau của Đại Việt. Vân Đồn là thương cảng biển đảo, gắn với luồng hải thương Đông Á - Đông Nam Á và các không gian cư dân vùng Đông Bắc. Phố Hiến là cảng thị sông, gắn với sông Đàng Ngoài, với mạng lưới trung chuyển hàng hóa vào châu thổ và kinh đô. Phố Hiến từng được nhìn như một đô thị thương mại, một “trạm trung chuyển cho ngoại thương” và “cửa ngõ của thị trường kinh đô”, còn Vân Đồn được nhận diện như một hệ thống thương cảng có quy mô, có cấu trúc vùng và có tính hệ thống rõ rệt (Nguyễn Văn Kim, 2006, tr.46-65).

Khoảng trống nổi lên ở đây là: các nghiên cứu về Vân Đồn và Phố Hiến tương đối phong phú khi tách riêng, nhưng chưa thật phát triển một khung phân tích đặt hai di sản ấy trong cùng một luận đề. Bài viết hướng tới việc làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết và lịch sử của sự kết nối, từ đó gợi mở khả năng hình thành một trục du lịch văn hóa thương cảng ở Bắc Bộ.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp định tính, tập trung phân tích di sản thương cảng, tuyến văn hóa của ICOMOS, di sản nối tiếp của UNESCO; Khung diễn giải di sản của ICOMOS và tiếp cận du lịch văn hóa bền vững.

Ở bình diện khái niệm, di sản thương cảng được hiểu như một chỉnh thể gồm dấu tích vật thể của không gian cảng thị, ký ức lịch sử về hoạt động giao thương, mạng lưới cư dân, tín ngưỡng, lễ hội và những giá trị tri thức, biểu tượng vẫn đang được cộng đồng duy trì. Theo nghĩa ấy, thương cảng không chỉ là “cảng”, mà còn là “thị”; không chỉ là hạ tầng giao thông, mà còn là cấu trúc văn hóa - xã hội.

Tiếp cận tuyến văn hóa của ICOMOS về khung lý giải kết nối giữa Vân Đồn và Phố Hiến: Hiến chương ICOMOS về Tuyến văn hóa năm 2008 (ICOMOS, 2008) nhấn mạnh rằng giá trị của một tuyến không nằm ở sự cộng dồn cơ học các điểm di sản, mà ở mối quan hệ lịch sử, lãnh thổ, di chuyển, trao đổi và tương tác văn hóa giữa các hợp phần trong cùng một mạng lưới. Vận dụng theo hướng đó, Vân Đồn và Phố Hiến không nên được xem như hai địa điểm tách rời, mà như hai hợp phần khác chức năng trong cấu trúc giao thương của Đại Việt: Vân Đồn là cửa ngõ hải thương từ biển vào, Phố Hiến là cảng thị trung chuyển trên trục sông đồng bằng kinh đô.

Khái niệm di sản nối tiếp của UNESCO bổ sung cơ sở cho lựa chọn này. Một di sản nối tiếp có thể gồm nhiều khu vực không liền kề về mặt không gian nhưng có liên hệ với nhau; giá trị của toàn thể không nhất thiết bộc lộ nếu chỉ nhìn từng hợp phần riêng rẽ (UNESCO World Heritage Centre, n.d.). Với Vân Đồn và Phố Hiến, sự kết nối vì thế không dựa trên tính liền kề địa lý, mà dựa trên tính liên hệ chức năng, tính bổ sung lịch sử và giá trị liên kết của toàn bộ mạng lưới thương cảng - cảng thị.

Tiếp cận cảnh quan đô thị lịch sử của UNESCO giúp mở rộng phạm vi di tích vật thể. Theo đó, Phố Hiến không chỉ là tập hợp đền, chùa, hội quán còn lại, mà là một cảng thị sông với cấu trúc cảnh quan lịch sử đặc thù; Vân Đồn cũng có thể được nhìn như một cảnh quan lịch sử - văn hóa biển đảo, nơi bến bãi, đảo, vụng, tuyến luồng, cư dân và tín ngưỡng cùng tham dự vào việc kiến tạo ý nghĩa di sản
(UNESCO, 2011).

Khung diễn giải di sản của ICOMOS và tiếp cận du lịch văn hóa bền vững là cầu nối giữa nghiên cứu lịch sử và phát huy giá trị. Theo Luật Du lịch 2017, du lịch văn hóa là loại hình du lịch phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống (Quốc hội, 2017). Từ đây, việc kết nối Vân Đồn và Phố Hiến không được hiểu như phép cộng cơ học về điểm đến, mà như quá trình tổ chức lại giá trị di sản thành một chuỗi trải nghiệm văn hóa - lịch sử có chiều sâu. Chính ở điểm này, lý do lựa chọn Vân Đồn và Phố Hiến trở nên rõ ràng hơn: chúng chỉ thực sự bộc lộ đầy đủ ý nghĩa khi được đặt trong quan hệ với nhau, như hai hình thái khác loại nhưng liên thông của văn hóa thương cảng Việt Nam.

3. Kết quả và thảo luận

Vân Đồn và Phố Hiến trong cấu trúc thương cảng - cảng thị của Đại Việt

Vân Đồn giữ vị trí cửa ngõ hải thương của vùng Đông Bắc. Không gian ấy gắn với quần đảo Vân Hải, với các bến bãi, cửa lạch, tuyến hàng hải khu vực và với quan hệ trao đổi cùng thương nhân nước ngoài. Vân Đồn được thành lập từ thời Lý, là một trung tâm mậu dịch quốc tế của Đại Việt và hoạt động liên tục cho đến thế kỷ XVIII-XIX; hơn nữa, quan hệ giao thương, trao đổi của vùng thương cảng với các quốc gia khu vực đã đồng thời diễn ra ở nhiều địa điểm khác nhau. Như vậy, điều nổi bật ở Vân Đồn không chỉ là niên đại sớm hay quy mô buôn bán, mà là tính chất mở của một không gian giao thương biển có cấu trúc nhiều tầng, nhiều điểm và có khả năng kết nối rộng ra thế giới ngoài khơi. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Kim (2014): “trong quá trình phát triển, thương cảng Vân Đồn đã hợp thành một hệ thống các bến cảng chứ không phải là một cảng hay cụm cảng đơn nhất”; từ đó, quy mô của Vân Đồn phải được hiểu trên nền nhiều bến bãi, nhiều đảo, nhiều tuyến luồng và nhiều lớp cư dân cùng vận hành trong một chỉnh thể. Cũng trong hướng ấy, các kết quả khảo sát, thám sát và khai quật kéo dài từ thập niên 1990 đến nay cho thấy phạm vi, loại hình và cơ tầng văn hóa của khu thương cảng này rộng hơn rất nhiều so với hình dung trước đây. Bởi vậy, Vân Đồn là một không gian thương cảng biển đảo có tính hệ thống, chứ không phải như một di tích cụ thể.

Ngược lại, Phố Hiến là một cảng thị sông phát triển trên nền mạng lưới thủy lộ của châu thổ sông Hồng và trong tương quan trực tiếp với sông Đàng Ngoài và Thăng Long. Các tài liệu liên quan cho thấy Phố Hiến được nhìn nhận như một “trạm trung chuyển cho ngoại thương” và đồng thời là “cửa ngõ của thị trường kinh đô”. Hai định danh ấy rất đáng chú ý, bởi chúng cho thấy Phố Hiến không đơn thuần là một nơi buôn bán, mà là một mắt xích trung gian có chức năng tiếp nhận, phân phối và nội địa hóa các luồng hàng hóa, thương nhân và ảnh hưởng văn hóa đi vào từ bên ngoài. Chính ở đây, Phố Hiến mang diện mạo của một cảng thị sông: không mở trực tiếp ra đại dương, nhưng giữ vai trò then chốt trong việc nối ngoại thương với không gian đồng bằng và trung tâm quyền lực. Phố Hiến không chỉ là một địa điểm thương mại đơn lẻ, mà còn là một chỉnh thể lịch sử - xã hội - văn hóa - bảo tồn. Các hướng nghiên cứu về folklore vùng Phố Hiến, về người Hoa, thương điếm Hà Lan, các mối liên hệ với Nhật Bản, với Thăng Long và với các thương cảng khác, đã làm rõ tính đa cư dân, đa mạng lưới và đa lớp văn hóa của không gian này (Sở Văn hóa, Thông tin - Thể thao Hải Hưng). Vì vậy, Phố Hiến cần được nhận diện như một cảng thị sông đa văn hóa, nơi quá trình trung chuyển thương mại luôn đồng thời là quá trình lắng đọng ký ức cư dân và giao lưu văn hóa.

Đặt trong cùng một cấu trúc lịch sử, Vân Đồn và Phố Hiến làm nên một trục vận động rõ rệt của giao thương Đại Việt: từ biển vào sông, từ cửa ngõ hải thương đến đầu mối trung chuyển nội địa. Nếu Vân Đồn đại diện cho tầng tiếp xúc ngoài khơi và cửa biển, thì Phố Hiến đại diện cho tầng lưu thông vào đồng bằng và kết nối với trung tâm chính trị - kinh tế lớn hơn. Một bên mở ra thế giới biển; bên kia tiếp nhận, phân phối và nội địa hóa những luồng hàng hóa, thương nhân và ảnh hưởng văn hóa ấy trong không gian châu thổ và kinh đô. Sự liên thông này chính là căn cứ căn bản để kết nối hai di sản: không phải vì chúng đồng dạng, mà vì chúng cùng nằm trong một trật tự chức năng của hệ thống thương mại Đại Việt.

Nếu chuyển từ bình diện lưu thông sang bình diện không gian văn hóa, sự liên thông ấy càng rõ nét hơn. Vân Đồn là hình thái điển hình của không gian văn hóa thương cảng biển đảo. Ở đó, thương mại gắn với địa hình quần đảo, với kinh nghiệm hàng hải, với tín ngưỡng dân gian của cư dân vùng biển, với văn hóa sống trên đảo và với các dạng thức tiếp xúc bên ngoài qua đường biển. Vân Đồn mang đặc trưng của văn hóa biển - đảo, của tín ngưỡng dân gian và văn hóa cư dân trong tương tác với văn hóa nông nghiệp. Điều đó chứng tỏ thương cảng ở đây không chỉ là nơi trao đổi vật phẩm, mà là một môi trường lịch sử nơi đời sống kinh tế, đời sống tín ngưỡng và căn tính cư dân quyện vào nhau. Trong khi đó, Phố Hiến là hình thái đặc trưng của không gian văn hóa cảng thị sông. Ở đây, thương mại gắn với phố, chợ, bến, với cộng đồng thương nhân nước ngoài, với các thiết chế tín ngưỡng - tôn giáo trong đô thị, với ký ức về một trung tâm giao thương từng rất phồn thịnh nhưng về sau chỉ còn lại dưới dạng trầm tích di tích và ký ức địa phương. Tính chất ấy làm cho Phố Hiến không chỉ là “cảng”, mà còn là “thị”; không chỉ là nơi tàu thuyền qua lại, mà còn là nơi cộng cư, giao tiếp và định hình một nếp sống đô thị thương nghiệp. Bởi vậy, nếu Vân Đồn mang chiều mở của biển đảo, thì Phố Hiến mang chiều sâu của châu thổ và đô thị sông. Chính sự khác biệt ấy làm nên quan hệ bổ sung giữa hai không gian, chứ không phải sự tách biệt giữa chúng.

Từ đây có thể thấy, sự kết nối giữa Vân Đồn và Phố Hiến không nằm ở chỗ chúng giống nhau, mà ở chỗ chúng đại diện cho hai hình thái khác nhau nhưng bổ sung cho nhau về văn hóa thương cảng Việt Nam. Một bên là biển đảo, một bên là châu thổ; một bên mở ra ngoài khơi, một bên dẫn vào nội địa; một bên mang đậm văn hóa cư dân biển, một bên mang đậm ký ức cảng thị sông. Nói cách khác, nếu nhìn tách rời, Vân Đồn và Phố Hiến chỉ là hai địa danh lịch sử quan trọng; nhưng nếu nhìn trong quan hệ với nhau, chúng trở thành hai mắt xích của một câu chuyện lớn hơn về năng lực giao thương, khả năng thích ứng không gian và bản lĩnh giao lưu văn hóa của Đại Việt.

Từ kết nối di sản đến tổ chức sản phẩm du lịch văn hóa

Giá trị lớn nhất của di sản Vân Đồn - Phố Hiến nằm ở khả năng cùng làm nên một diện mạo đầy đủ hơn của văn hóa thương cảng Việt Nam. Khi được đặt trong cùng một trục, cả hai bổ sung cho nhau để kể một câu chuyện lớn hơn: người Việt đã bước ra biển như thế nào, đã tổ chức giao thương qua biển và sông ra sao, đã hình thành các điểm nút trung chuyển như thế nào và đã để lại những trầm tích văn hóa gì từ quá trình ấy. Chính chiều sâu của câu chuyện mới là hạt nhân của một sản phẩm du lịch văn hóa có giá trị.

Sản phẩm du lịch văn hóa ở đây không nên được thiết kế theo mô hình trục di sản thương cảng. Trục ấy có thể được xây dựng trên 3 lớp liên kết: liên kết lịch sử giữa cửa ngõ biển đảo và đầu mối cảng thị sông; liên kết không gian văn hóa giữa thương cảng biển đảo và cảng thị sông đa cư dân; liên kết trải nghiệm từ bến bãi, luồng lạch, tín ngưỡng biển, văn hóa cư dân đảo ở Vân Đồn đến phố, chợ, đền, chùa, thương nhân ngoại quốc và ký ức đô thị ở Phố Hiến. Khi 3 lớp liên kết này được đặt trong cùng một thiết kế diễn giải, du khách được tham gia vào một hành trình nhận thức: từ biển vào sông, từ cửa ngõ ngoại thương vào trung tâm trao đổi nội địa, từ vật chất thương mại sang hình thái giao lưu văn hóa. Việc tổ chức sản phẩm du lịch văn hóa trên trục Vân Đồn - Phố Hiến cần tập trung vào 3 phương diện.

Thứ nhất, tổ chức lại câu chuyện di sản. Với Vân Đồn, cần làm nổi bật đây là một hệ thống thương cảng biển đảo có quy mô, có mạng lưới bến bãi, có hàng hóa trao đổi, có văn hóa cư dân biển và có những biến động về vị trí trung tâm thương cảng qua các giai đoạn. Với Phố Hiến, cần làm rõ hơn cấu trúc cảng thị sông, cư dân đa văn hóa, thương nhân nước ngoài, chức năng trung chuyển và sự biến đổi của không gian ấy trong tiến trình lịch sử.

Thứ hai, thiết kế không gian trải nghiệm theo logic của tuyến văn hóa, chứ không theo logic “điểm - điểm” rời rạc; đồng thời phát triển hệ thống sản phẩm du lịch văn hóa chiều sâu, như các hành trình tìm hiểu không gian thương cảng biển đảo, trải nghiệm văn hóa cư dân biển, đi bộ theo dấu cảng thị sông, tìm hiểu ký ức ngoại thương qua hệ thống đền chùa, hội quán, hoặc các chuyên đề như “Từ biển vào sông: hành trình thương cảng Đại Việt”.

Thứ ba, đặt cộng đồng địa phương vào vị trí trung tâm của quá trình phát huy. Cộng đồng ở Vân Đồn hiện vẫn là chủ thể của nhiều lớp tri thức dân gian biển đảo, của tín ngưỡng, lễ hội và ký ức địa phương. Cộng đồng ở Phố Hiến và Hưng Yên hiện vẫn đang sống cùng di tích, ký ức đô thị và các thực hành văn hóa truyền thống. Nếu thiếu vai trò của họ, việc kết nối di sản rất dễ biến thành một dự án du lịch thuần túy. Vì vậy, phát triển du lịch văn hóa trên trục Vân Đồn - Phố Hiến phải hướng tới mô hình mà trong đó cộng đồng không chỉ tham gia ở khâu phục vụ, mà còn tham gia ở khâu kể chuyện, diễn giải, xác lập giá trị và hưởng lợi từ di sản. Từ đó, việc xây dựng hạ tầng tri thức và hạ tầng số là điều kiện hỗ trợ quan trọng để tuyến di sản này tiếp cận công chúng theo nhiều cấp độ và thích ứng với bối cảnh phát huy di sản gắn với chuyển đổi số (Chính phủ, 2023; Quốc hội, 2024).

4. Kết luận

Kết nối di sản thương cảng Vân Đồn và Phố Hiến trong phát triển du lịch văn hóa là một hướng tiếp cận có cơ sở lý luận, cơ sở lịch sử và cơ sở thực tiễn rõ ràng. Điều này cho phép hình thành một trục sản phẩm du lịch văn hóa có chiều sâu, có khả năng kết nối giữa khảo cổ, lịch sử, địa văn hóa, ký ức cộng đồng và các phương thức diễn giải hiện đại, gợi mở mô hình liên kết liên vùng, bảo tồn gắn phát huy và bảo đảm vai trò trung tâm của cộng đồng địa phương. Với cách tiếp cận này, Vân Đồn và Phố Hiến không chỉ là hai di sản của Quảng Ninh và Hưng Yên, mà có thể trở thành một trục di sản thương cảng tiêu biểu của Bắc Bộ và của lịch sử văn hóa Việt Nam.

_______________________

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Văn Kim. (2006). Hệ thống thương cảng Vân Đồn qua tư liệu lịch sử và khảo cổ học. Khảo cổ học. Số 4.

2. ICOMOS. (2008). ICOMOS Charter on Cultural Routes (Hiến chương về các tuyến đường di sản văn hóa).

3. UNESCO World Heritage Centre (n.d.). Cultural heritage - Glossary (Di sản văn hóa - Thuật ngữ giải thích).

4. Quốc hội. (2017). Luật Du lịch số 09/2017/QH14.

5. Nguyễn Văn Kim. (2014). Vân Đồn: Thương cảng quốc tế của Việt Nam. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội

6. Sở Văn hóa Thông tin - Thể thao Hải Hưng. (1994). Phố Hiến, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học (tổ chức tại thị xã Hưng Yên ngày 10-11/12/1992).

7. Chính phủ. (2023). Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 18/5/2023 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh phục hồi, tăng tốc phát triển du lịch hiệu quả, bền vững.

8. Quốc hội. (2024). Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/4/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 10/4/2026; Ngày duyệt bài: 26/4/2026.

PGS, TS DƯƠNG THỊ THU HÀ

Nguồn: Tạp chí VHNT số 642, tháng 5-2026