Từ khóa: Cái Chiên, đình - miếu, du lịch văn hóa, đánh giá tác động di sản, giới hạn biến đổi chấp nhận được.
Abstract: The article proposes an approach to developing the cultural-tourism space and organizing festivals at the Cai Chien Communal House-Shrine heritage complex in Cai Chien Commune, Quảng Ninh Province. It synthesizes international theories and standards with Viet Nam’s legal regulations, cross-checked against field data, historical sources, and local cultural materials. On this basis, the article proposes a four-layer integrated spatial model sacred core; performance space and procession route; eco-cultural tourism service space; and ecological buffer-together, with a community co-governance mechanism, a Heritage Impact Assessment (HIA) process, and an indicator set for monitoring carrying capacity and Limits of Acceptable Change (LAC). The results aim to conserve original values, enhance visitor experience, and create sustainable livelihoods in alignment with Quang Ninh Province’s current planning frameworks, while contributing a practical model replicable for coastal and island heritage complexes in Viet Nam.
Keywords: Cai Chien, communal house-shrine, cultural tourism, heritage impact assessment, limits of acceptable change.

Trong bối cảnh du lịch trở thành động lực phát triển kinh tế, xã hội, di sản văn hóa đóng vai trò hạt nhân để kiến tạo các trải nghiệm độc đáo và gia tăng lợi ích cho cộng đồng. Tuy nhiên, nhiều không gian lễ hội truyền thống có nguy cơ mai một do đứt gãy chuỗi thực hành, xu hướng thương mại hóa cực đoan và biến đổi môi trường, xã hội. Xã đảo Cái Chiên (tỉnh Quảng Ninh) là trường hợp điển hình: di tích đình - miếu Cái Chiên không còn nhiều dấu tích vật chất, lễ hội truyền thống gián đoạn, trong khi áp lực phát triển du lịch biển đảo gia tăng theo mùa. Nghiên cứu hướng tới trả lời 3 câu hỏi: Những thành tố nào cấu thành không gian văn hóa - du lịch và lễ hội của đình - miếu Cái Chiên? Hiện trạng các nguồn lực và thách thức then chốt là gì? Mô hình tổ chức không gian và cơ chế quản trị nào giúp bảo tồn, phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch bền vững tại xã đảo?
1. Cơ sở lý thuyết và khung chính sách
Nghiên cứu tiếp cận quan niệm di sản văn hóa phi vật thể theo Công ước 2003, nhấn mạnh vai trò thực hành, truyền dạy và sự tham gia của cộng đồng, đồng thời vận dụng các nguyên tắc quản lý du lịch tại nơi có di sản theo Điều lệ Du lịch văn hóa của ICOMOS (1999; cập nhật 2022), nhấn mạnh quản trị có trách nhiệm, cân bằng giữa bảo tồn - trải nghiệm - sinh kế. Về pháp lý trong nước, bài báo tuân chiếu Luật Di sản văn hóa năm 2024, Luật Du lịch năm 2017, Nghị định 110/2018/NĐ-CP về quản lý và tổ chức lễ hội, cùng các quyết định quy hoạch hệ thống du lịch cấp quốc gia (509/QĐ-TTg, 2024) và các quyết định của tỉnh Quảng Ninh liên quan đến công nhận Khu du lịch Cái Chiên, danh mục di tích và quy hoạch phân khu đảo Cái Chiên.
2. Không gian đình - miếu và xã đảo Cái Chiên
Xã Cái Chiên gồm 3 thôn: Đầu Rồng, Cái Chiên, Vạn Cả. Địa hình nơi đây đa dạng với dải đồi, rừng, thung lũng trồng lúa xen kẽ bãi cát trắng và hồ nước ngọt, tạo lợi thế cho du lịch biển đảo, du lịch sinh thái. Cụm di tích gồm đình Cái Chiên, miếu Ông, miếu Bà ở chân núi ven biển và miếu Quan Lớn gần khu Gành Dài. Lịch sử di tích ghi nhận sự di dời của đình qua 3 vị trí, cùng dấu ấn cách mạng sau năm 1945, là nơi tổ chức lớp bình dân học vụ. Đây còn là địa điểm kết nạp đảng viên và thành lập chi bộ đầu tiên của xã đảo. Không gian lễ hội truyền thống diễn ra sau Tết (từ 16-21 tháng Giêng), kết hợp phần lễ tại hậu cung, miếu và phần hội với nghệ thuật hát múa cửa đình, hát giao duyên, các trò chơi dân gian, ẩm thực địa phương.
Về hạ tầng du lịch, ngoài 1 resort lớn do doanh nghiệp đầu tư, còn đa phần cơ sở lưu trú dạng
homestay, resort nhỏ và đón khách theo mùa. Hiện xã đảo có một số bãi tắm ở Đầu Rồng, Cái Chiên… dịch vụ đưa đón khách bằng xe điện nội đảo. Phương tiện kết nối giữa đất liền và đảo chủ yếu bằng phà hoặc cano từ cảng Ghềnh Võ với các khung giờ cố định, tạo rào cản tiếp cận vào mùa cao điểm. Các quy hoạch gần đây của tỉnh định hướng phát triển du lịch, dịch vụ, đồng thời yêu cầu giữ gìn bản sắc, cảnh quan và hệ sinh thái rừng, biển của đảo.
Một số điểm mạnh nổi bật của xã đảo, đó chính là cảnh quan rừng, biển nguyên sơ; cấu trúc di tích, lễ hội có tính hệ thống (đình - miếu - tuyến liên kết); bản sắc cộng đồng đậm nét; không gian trải nghiệm đa dạng từ sân đình, tuyến rước, bãi biển đến hồ nước ngọt trên đồi.
Những điểm hạn chế căn cốt của xã đảo có thể kể đến hạ tầng tiếp cận phụ thuộc đường thủy. Lễ hội đình Cái Chiên đã gián đoạn từ năm 1949, nhiều nghi lễ, hoạt động bị mai một, nguồn nhân lực tham gia đứt gãy. Các thiết chế văn hóa hỗ trợ (nhà đón tiếp, không gian diễn xướng, kho tư liệu) còn thiếu. Đặc biệt, dịch vụ du lịch còn mang tính tự phát, thời vụ.
Tuy vậy, cơ hội phục hồi lễ hội, tạo động lực cho phát triển du lịch của xã đảo có nhiều. Trước hết, về khung pháp lý, các quy hoạch cấp quốc gia, cấp tỉnh (Quảng Ninh) định hướng ưu tiên phát triển du lịch bền vững. Bên cạnh đó, xu hướng thị trường chuyển dần quan tâm sang du lịch trải nghiệm văn hóa, du lịch sinh thái. Tại xã đảo, khả năng phát triển du lịch cộng đồng gắn với phục hồi thực hành lễ hội là rất lớn. Song song với cơ hội là những thách thức đến từ nguy cơ thương mại hóa, phá vỡ tính thiêng; áp lực môi trường (rác, nước ngọt, xói lở bờ biển); rủi ro quá tải cục bộ vào mùa cao điểm và năng lực quản trị còn phân tán.
3. Đề xuất mô hình không gian văn hóa - du lịch và lễ hội đình - miếu Cái Chiên quản trị theo hướng bền vững
Mô hình tổ chức không gian tích hợp
Trên cơ sở đặc trưng không gian di tích gồm đình Cái Chiên cùng 3 miếu thờ (miếu Ông, miếu Bà, miếu Quan Lớn) và trục liên kết giữa các điểm thờ tự trong mùa lễ hội, mô hình tổ chức được kiến tạo như một hệ tích hợp nhiều lớp, vừa định vị ranh giới thiêng, vừa bảo đảm tính thông suốt nhằm gia tăng trải nghiệm văn hóa - sinh thái cho cư dân và du khách. Nền tảng đề xuất mô hình tích hợp là cấu trúc di tích liên hoàn và chuỗi thực hành nghi lễ theo lịch tiết tháng Giêng, qua đó mô hình hóa phạm vi sử dụng không gian, dòng chảy rước - tế - hát cửa đình và các bề mặt hạ tầng diễn giải phù hợp với sức chịu tải của đảo nhỏ. Cấu trúc không gian vì thế không chỉ đơn giản như một sơ đồ kỹ thuật tĩnh mà là thiết kế vận hành sống, dựa trên bằng chứng về hiện trạng di tích và thực hành lễ hội đã được tư liệu hóa.
Mô hình tích hợp 4 lớp không gian, cụ thể: Lớp 1 - lõi thiêng, bao gồm khu hậu cung, nội miếu, ưu tiên phục dựng tối đa nguyên bản. Tăng cường thuyết minh về giá trị lịch sử, tín ngưỡng của cộng đồng. Lớp 2 - không gian trình diễn và tuyến rước: sân đình, đường liên kết đình - miếu Ông - miếu Bà - miếu Quan Lớn, mặt nước liên quan. Việc tổ chức diễn xướng, trò chơi dân gian, không gian ẩm thực truyền thống có kiểm soát. Vào mùa du lịch, có thể định tuyến dòng khách 1 chiều để giảm xung đột. Lớp 3 - không gian dịch vụ du lịch văn hóa, sinh thái: thiết kế cụm đón tiếp, nhà trưng bày, không gian học, trải nghiệm nghề, chợ phiên đặc sản biển. Xây dựng không gian này ưu tiên các vật liệu bản địa, kiến trúc thấp tầng và áp dụng tiêu chí xanh trong xử lý nước mưa, năng lượng tái tạo, quản lý rác thải. Lớp 4 - vùng đệm sinh thái, cảnh quan, gồm dải rừng phòng hộ, bờ biển, hồ nước ngọt. Đối với vùng này, cần thiết lập các điểm ngắm cảnh, check-in, lối đi bộ, đi xe điện. Đây thực sự là vành đai bảo vệ đa dạng sinh học và cảnh quan rừng, biển.
Mô hình tổ chức không gian tích hợp này cho thấy cách tiếp cận tối thiểu can thiệp nhưng tối đa hóa giá trị. Cách phân tách 4 lớp này là cơ sở để tạo ra bộ quy tắc ứng xử theo vùng, giúp giữ nguyên “tính thiêng” của lõi di tích nhưng vẫn mở được không gian diễn giải, trải nghiệm ở lớp kế cận và đảm bảo cân bằng sinh thái ở lớp ngoài.
Quản lý sức chứa, HIA và LAC
Để kiểm soát tác động và gìn giữ tính xác thực, quy trình HIA áp dụng theo bộ hướng dẫn UNESCO, ICOMOS như một vòng đời quản lý từ khâu sàng lọc đến theo dõi hậu kiểm, đồng thời gắn với khung LAC nhằm xác định ngưỡng cho phép của mỗi biến số theo từng lớp không gian. Gợi ý các nhóm chỉ số: về bảo tồn, các chỉ số có thể theo dõi tình trạng vật chất, tính xác thực của di tích, mức độ toàn vẹn và liên tục trong thực hành nghi lễ; về xã hội, cộng đồng, theo dõi mức tham gia, phân phối lợi ích và mức độ hài lòng; về môi trường, theo dõi rác thải, chất lượng nước, xói lở bờ biển; về trải nghiệm, đo mật độ khách, thời gian lưu trú, mức chi tiêu và đánh giá cảm nhận, sự hài lòng của du khách. Khung chỉ số này không nhằm “đo để biết” mà thiết lập cơ chế ra quyết định dựa trên bằng chứng, cho phép điều chỉnh sức chứa theo thời gian, theo mùa và theo sự kiện, từ đó bảo đảm tính ổn định của lõi thiêng và tính linh hoạt của các lớp còn lại.
Phát triển sản phẩm du lịch bản sắc
Với tiềm năng, lợi thế của một xã đảo, Cái Chiên cần phát triển sản phẩm du lịch mang bản sắc biển. Tư duy phát triển sản phẩm và tổ chức dịch vụ cũng cần được tích hợp như một phần của thiết kế không gian thay vì là “phần phụ” của lễ hội. Việc định vị sản phẩm cần xuất phát từ căn cốt “đảo - biển - di sản sống”, trong đó lễ hội đình - miếu là hạt nhân, còn dịch vụ du lịch là phần mở rộng của thiết kế không gian. Cách tiếp cận này coi mọi trải nghiệm của du khách là một lát cắt của vòng đời thực hành văn hóa, thay vì là hoạt động tách rời nhằm “trang trí” cho lễ hội. Nhờ thế, kiến trúc sản phẩm được tổ chức theo các lớp không gian đã xác lập (lõi thiêng, tuyến trình diễn, diễn giải, lớp dịch vụ và vành đai sinh thái), bảo đảm vừa giữ nguyên tính thiêng, vừa tạo điều kiện cho diễn giải tri thức bản địa và khai thác hợp lý tài nguyên biển đảo quanh năm.
Tuyến tham quan “Dấu ấn đình - miếu Cái Chiên” giữ vai trò xương sống của hệ sản phẩm phi mùa vụ. Tuyến này kết nối đình với hồ nước ngọt, miếu Ông, miếu Bà và miếu Quan Lớn trong một vòng đi bộ hoặc đi xe điện một chiều, có điểm dừng cố định để nghe thuyết minh số. Hệ QR/AR được thiết kế theo chủ đề, từ lịch sử khởi dựng, dịch chuyển, trùng tu đến cấu trúc thần điện và mối liên hệ giữa không gian thiêng với nghề biển. Trong những ngày không có lễ hội, tuyến trở thành “lớp học mở” giúp du khách quan sát cấu trúc nghi lễ qua video - mô hình - âm thanh nhạc lễ, từ đó duy trì dòng khách đều đặn theo tuần và theo tháng.
Gói lễ hội tháng Giêng là sản phẩm đỉnh điểm, nhưng cần được quy hoạch với nguyên tắc “ngày làng - ngày khách” để không gây xáo trộn không gian thiêng. Lịch rước, tế, hát cửa đình và trò hội như kéo co, cờ người, đua thuyền mô phỏng được tổ chức trong khung giờ cố định, có giới hạn sức chứa và đặt chỗ trước; khu vực trải nghiệm ẩm thực đảo được bố trí ngoài vùng lõi, ưu tiên món bản địa và lớp học nấu ăn quy mô nhỏ. Sự phân vai này giúp du khách tiếp cận một cách tôn trọng, đồng thời tạo nguồn lực tài chính quay về bảo tồn mà không thương mại hóa nghi thức.
Du lịch học đường là trụ cột then chốt để bảo đảm tính phi mùa vụ. Trong năm học, có thể tổ chức các lớp học di sản với giáo trình ngắn 60-90 phút tại nhà văn hóa hoặc phòng trưng bày nhỏ, nơi trưng bày bản đồ tuyến, ảnh tư liệu và hiện vật sao chép an toàn. Hoạt động sưu tầm truyện kể về địa danh, di tích, phả hệ và nghề biển giúp học sinh trở thành “công dân di sản”. Chương trình “một ngày làm cư dân đảo” cho phép trải nghiệm trồng lúa ở thung lũng, nuôi trồng thủy sản truyền thống, đan lưới và chế biến món biển. Nhóm sản phẩm này ít phụ thuộc thời tiết cực đoan, có thể vận hành quanh năm theo lịch học. Đối với thế hệ trẻ sinh sống trên đảo, đây cũng đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng lực lượng kế cận cho việc thực hành nghi lễ sau này.
Nhánh du lịch sinh thái - biển tạo bề mặt mùa vụ linh hoạt nhưng vẫn bền vững nhờ thiết kế theo sức chứa và phương tiện sạch. Tuyến đi bộ từ rừng ra biển, quan sát bãi cát, rừng phi lao và ngắm bình minh ở Cửa Đại được chuẩn hóa thành hành trình 60-120 phút có nội dung diễn giải hệ sinh thái ven biển, quy tắc “không để lại dấu vết” và điểm ghi nhận đa dạng sinh học bằng điện thoại. Hoạt động trải nghiệm bằng ca nô, tàu nhỏ quanh đảo và thăm làng chài chỉ triển khai theo điều kiện thời tiết cho phép, tuân thủ các quy định và lộ trình đã định; điểm dừng ẩm thực biển đặt tại làng chài hoặc các dịch vụ dùng vật liệu bản địa có giải pháp quản lý rác, nước thải theo tiêu chí xanh.
Để các nhóm sản phẩm trên thực sự vận hành quanh năm, lịch trình cần được cấu trúc theo chu kỳ quý thay vì chỉ theo “mùa cao điểm”. Quý I tập trung vào gói lễ hội và các phiên diễn giải trước, sau lễ, đồng thời vận hành đầy đủ tuyến “Dấu ấn”. Quý II và III ưu tiên du lịch sinh thái - biển, song vẫn duy trì lớp học di sản cuối tuần và phiên kể chuyện buổi tối trong nhà. Quý IV chuyển trọng tâm về các hoạt động trong nhà, phục dựng trình diễn nhỏ, lớp nấu ăn và chương trình sưu tầm, số hóa truyện kể, qua đó giữ nhịp khách ổn định khi thời tiết bất lợi. Sự phân bổ này làm phẳng đường cong mùa vụ, tăng thời gian lưu trú và giảm áp lực lên lõi thiêng.
Chất lượng dịch vụ phụ thuộc việc tích hợp vận hành vào thiết kế không gian, bao gồm các điểm đón tiếp, điểm dừng QR/AR, lớp học di sản và chợ phiên đặc sản… đội ngũ thuyết minh bản địa, nhóm dịch vụ phải được huấn luyện định kỳ, có quy trình chuẩn về an ninh, cứu hộ, bảo hiểm sự kiện và kịch bản dự phòng thời tiết.
Chuỗi giá trị địa phương cần được “khóa” vào sản phẩm để bảo đảm sinh kế bền vững. Nguồn thu từ vé trải nghiệm, thuyết minh và lớp học di sản nên trích lập quỹ bảo tồn nhằm tái đầu tư cho tư liệu hóa, truyền dạy và tu bổ hạng mục cấp bách. Hợp đồng dịch vụ với hộ dân và nhóm nghề cần quy định rõ tiêu chí chất lượng, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và chế độ đãi ngộ công bằng, qua đó, giữ động lực làm nghề và tránh tình trạng sân khấu hóa. Khi các thành phần nêu trên cùng vận hành trong một thiết kế không gian, thời gian nhất quán, Cái Chiên có thể hình thành một danh mục sản phẩm mang bản sắc biển, vận hành được bốn mùa, tôn trọng tính thiêng và nâng đỡ hệ sinh thái đảo, biển theo đúng tinh thần phát triển du lịch bền vững.
Cơ chế quản trị và tổ chức thực hiện
Để phát huy mô hình không gian tích hợp, cần khung quản trị dựa trên nguyên tắc đồng quản trị với sự tham gia của cộng đồng. Cơ chế đồng quản trị được thiết lập như một “hợp đồng xã hội” giữa ba thôn, chính quyền và các chủ thể chuyên môn, dịch vụ, nhằm bảo đảm quyền quyết định của cộng đồng trong thực hành nghi lễ đồng thời huy động được tri thức khoa học và các nguồn lực vận hành. Sự sắp đặt này không chỉ phản ánh các khuyến nghị quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể và du lịch văn hóa mà còn phù hợp cấu trúc cộng đồng xã đảo hiện nay, nơi tri thức nghi lễ được lưu giữ phân tán theo dòng họ và nhóm chấp sự. Nền tảng “đồng quản trị” không dừng ở nguyên tắc mà còn phải thể chế hóa thành quy chế phối hợp, cơ chế giám sát, phản hồi và quy ước minh bạch lợi ích, qua đó chuyển hóa đồng thuận xã hội thành năng lực tự quản trong dài hạn.
Tính bền vững của mô hình gắn trực tiếp với năng lực thực thi và giám sát. Vì vậy, bộ máy quản trị không gian cần được cấu hình theo chức năng, trong đó hạt nhân là Ban quản lý không gian văn hóa - lễ hội đình - miếu Cái Chiên với đại diện cộng đồng 3 thôn, chính quyền xã, cơ quan chuyên môn và doanh nghiệp dịch vụ. Cần ban hành Quy chế phối hợp tổ chức lễ hội theo Nghị định 110/2018/NĐ-CP, có quy định phân nhiệm rõ ràng, xác định tiêu chuẩn dịch vụ, cơ chế giám sát của cộng đồng một cách minh bạch. Cộng đồng tham gia có thực quyền, được ủy nhiệm với các tổ/ nhóm: tổ nghi lễ, tổ diễn xướng, tổ môi trường, an ninh và tổ dịch vụ du lịch cộng đồng. Khi đặt dưới “ô” đồng quản trị, từng quyết định về lịch hội, quy mô đoàn, nội dung diễn giải hay bố trí chợ phiên đều phải được tham vấn và ghi nhận bằng biên bản, kèm chỉ số HIA/LAC tương ứng. Cách làm này chuyển trọng tâm từ “tổ chức một sự kiện” sang “duy trì một vòng đời thực hành”, bảo đảm các nguyên tắc bảo tồn động, tính xác thực và công bằng lợi ích; đồng thời đáp ứng yêu cầu liên kết với quy hoạch, định hướng phát triển du lịch của tỉnh mà không phá vỡ logic di sản. Nguồn lực tài chính kết hợp ngân sách bảo tồn, xã hội hóa, quỹ cộng đồng trích từ doanh thu dịch vụ, ưu tiên tái đầu tư cho bảo tồn, giáo dục di sản và sinh kế xanh.
Lộ trình triển khai (2025-2030)
Để đạt được hiệu quả trong xây dựng và vận hành mô hình không gian văn hóa - du lịch và lễ hội tại xã Cái Chiên, lộ trình triển khai được chia thành 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2025-2026): hoàn thiện hồ sơ phục dựng và thí điểm thực hành lễ hội; rà soát hiện trạng, xác định ranh giới 4 lớp không gian; thiết kế hạ tầng tối thiểu (đình, nhà đón tiếp, bảng chỉ dẫn, vệ sinh sinh thái, lối đi bộ); xây dựng Quy chế tổ chức lễ hội. Giai đoạn 2 (2027-2028): hoàn thiện và duy trì thực hành lễ hội; vận hành đồng quản trị; phát triển sản phẩm - sự kiện theo mùa; ứng dụng chuyển đổi số (quản lý vé, số hóa tư liệu). Giai đoạn 3 (2029-2030): đánh giá giữa kỳ theo bộ chỉ số; điều chỉnh sức chứa và không gian văn hóa - du lịch và lễ hội; mở rộng liên kết vùng (trục Móng Cái - Hải Hà - Vân Đồn) và kết nối thị trường khách du lịch.
5. Kết luận
Đình - miếu Cái Chiên hội tụ các lớp giá trị lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, cảnh quan đặc sắc, thích hợp để phát triển mô hình không gian văn hóa - du lịch và lễ hội theo hướng bền vững. Mô hình bốn lớp cùng cơ chế đồng quản trị và khung HIA/LAC đem lại “bộ ba ràng buộc” giúp cân bằng mục tiêu bảo tồn - trải nghiệm - sinh kế. Lõi thiêng được che chở bởi vùng đệm nội bộ là lớp trình diễn và lớp dịch vụ thiết kế theo sức chứa; vành đai sinh thái làm hạ tầng tự nhiên hấp thụ các áp lực mùa vụ. Khi các thành tố này được vận hành trong quy trình ra quyết định dựa trên bằng chứng, mô hình không chỉ đáp ứng yêu cầu giữ gìn giá trị di sản và nâng cao chất lượng trải nghiệm, mà còn tạo nền tảng sinh kế bền vững, phù hợp định hướng quy hoạch hiện hành và có khả năng nhân rộng cho các cụm di tích ven biển - hải đảo có điều kiện tương tự.
________________________________
Tài liệu tham khảo
1. UNESCO, Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage (Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể), Basic Texts & Operational Directives, (2003, 2022).
2. ICOMOS, International Cultural Tourism Charter - Managing Tourism at Places of Heritage Significance (Hiến chương Du lịch Văn hóa Quốc tế - Quản lý du lịch tại các địa điểm di sản quan trọng), International Cultural Heritage Tourism Charter (Hiến chương Du lịch Di sản Văn hóa Quốc tế), 1999, 2022.
3. Chính phủ, Nghị định 110/2018/NĐ-CP quy định về quản lý và tổ chức lễ hội, 2018.
4. Quốc hội, Luật Du lịch, số 09/2017/QH14, 2017.
5. Quốc hội, Luật Di sản văn hóa, số 45/2024/QH15 (hiệu lực 1-7-2025), 2024.
6. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 509/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2045, 2024.
7. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định 2366/QĐ-UBND công nhận Khu du lịch Cái Chiên cấp tỉnh, 2019.
8. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quyết định 3929/QĐ-UBND phê duyệt Danh mục di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh toàn tỉnh, 2020.
9. UBND tỉnh Quảng Ninh, Quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000 khu vực đảo Cái Chiên (Quyết định 218/QĐ-UBND), 2025.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 3-10-2025; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 25-10-2025; Ngày duyệt đăng: 6-11-2025.
TS HOÀNG THỊ BÌNH, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam
Nguồn: Tạp chí VHNT số 627, tháng 12-2025