Phát biểu ý kiến tại Tổ 1, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Dương Minh Ánh đánh giá cao cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc cầu thị, tiếp thu, giải trình các ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan thẩm tra của Quốc hội và chỉnh lý dự thảo luật.

Đại biểu bày tỏ nhất trí cao các nội dung trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, xác định đây là dự án luật khó vì rất dễ bị chồng lấn và va chạm với các luật chuyên ngành và các luật liên quan.

Theo đại biểu, nếu thiết kế khéo thì dự án Luật  sẽ là sợi dây kết nối giữa các luật chuyên ngành và các luật có liên quan, tạo thành chuỗi giá trị liền mạch từ sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng đến tái đầu tư, tạo ra hệ sinh thái ngành công nghiệp văn hóa. Đồng thời lấp đầy những khoảng trống pháp lý, tháo gỡ những điểm nghẽn, thúc đẩy thị trường cho công nghiệp văn hóa phát triển. Tạo ra giá trị về kinh tế, lan tỏa những giá trị bản sắc Việt Nam ra thế giới. Ngược lại, nếu quy định chưa rõ, Luật có thể phát sinh chồng chéo với các văn bản pháp luật liên quan.

1792839916092_6675078566611297478_6675078566611297478_b3bbcb1f8e776c8f0d270a2b96d28741.jpg
Đại biểu Quốc hội Dương Minh Ánh cho rằng nguồn nhân lực sáng tạo trong công nghiệp văn hóa mới là yếu tố cốt lõi để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong tương lai 

Đóng góp về nội dung nhân lực công nghiệp văn hóa, theo đại biểu, nguồn nhân lực sáng tạo trong công nghiệp văn hóa mới là yếu tố cốt lõi để phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trong tương lai. 

Từ thực tiễn đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa, đại biểu đề nghị rà soát quy định về danh mục ngành, nghề ưu tiên đào tạo về công nghiệp văn hóa.

Dự thảo giao Bộ trưởng Bộ VHTTDL ban hành danh mục này, trong khi Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp đã có quy định liên quan đến danh mục ngành, nghề đào tạo. Nếu không làm rõ phạm vi và thẩm quyền, có thể dẫn đến chồng chéo trong quản lý nhà nước.

Đối với khoản 1 Điều 14, đại biểu cho rằng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú khác với trình độ đào tạo, không thể coi danh hiệu tương đương với văn bằng học thuật để xác định đáp ứng yêu cầu giảng dạy.

Đối với chính sách chi trả thù lao cho nghệ sĩ, nghệ nhân tham gia giảng dạy, đại biểu đề nghị đánh giá cụ thể nguồn lực thực hiện, xác định phần ngân sách nhà nước và phần kinh phí do các cơ sở giáo dục tự bảo đảm. Đồng thời, cần làm rõ tác động đến cân đối thu nhập giữa giảng viên cơ hữu và giảng viên thỉnh giảng, giữa các môn học và lĩnh vực đào tạo. 

Theo đại biểu, chính sách cần được cân nhắc phù hợp với điều kiện của từng cơ sở giáo dục, nhất là giữa các đơn vị được ngân sách nhà nước bảo đảm và các cơ sở thực hiện cơ chế tự chủ.

Về cơ chế công nhận giảng viên đồng cơ hữu đối với nhân lực từ doanh nghiệp, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã, đại biểu cho rằng đây là hướng đi cần thiết nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt đội ngũ giảng dạy, đáp ứng yêu cầu phát triển những ngành nghề mới mang tính liên ngành trong công nghiệp văn hóa.

Đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung đối tượng nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú vào diện được công nhận là giảng viên thỉnh giảng khi đáp ứng điều kiện về văn bằng, năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm; đồng thời xem xét việc tính đội ngũ này vào hệ số giảng viên phục vụ mở mã ngành đào tạo. Các quy định liên quan cũng cần được rà soát, sửa đổi đồng bộ với Luật Nhà giáo, Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Đối với chính sách học bổng, miễn học phí, hỗ trợ chi phí sinh hoạt và tín dụng cho người học các ngành nghề ưu tiên, đại biểu đề nghị đánh giá tác động ngân sách khi mở rộng đối tượng thụ hưởng, bảo đảm chính sách phù hợp với khả năng cân đối nguồn lực.

Để các ngành công nghiệp văn hóa thực sự phát triển, đại biểu đề xuất bổ sung một số chính sách như: đề nghị nghiên cứu cơ chế thu hút chuyên gia quốc tế và chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài, trong đó có chính sách linh hoạt về giấy phép lao động, thị thực và chế độ đãi ngộ. Đây là nguồn lực quan trọng đối với các lĩnh vực như đạo diễn, sản xuất, kỹ xảo, công nghiệp âm nhạc và giám tuyển nghệ thuật; tiếp tục triển khai các chương trình đào tạo tài năng ở nước ngoài, mở rộng ngành nghề đào tạo tại những lĩnh vực trong nước chưa có điều kiện đáp ứng; thúc đẩy mô hình đào tạo liên ngành, tăng cường liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp; 

Về cơ sở hạ tầng, đại biểu đề xuất Nhà nước cần đầu tư cho một số trường đào tạo trọng điểm thuộc lĩnh vực công nghiệp văn hóa theo chuẩn quốc tế, trong đó có như là sân khấu, phòng thực hành, studio chuẩn quốc tế, bản quyền phần mềm thiết kế, công cụ số,  tránh đầu tư dàn trải kém hiệu quả.

Đồng thời, đại biểu đề nghị cần có cơ chế quyền đồng sở hữu trí tuệ các tác phẩm sáng tạo giữa học sinh, sinh viên với giảng viên và nhà trường, chia sẻ lợi ích giữa các bên.

1792839902890_6675078566611297478_6675078566611297478_014bb1cc2daa823b2988948d81036d14.jpg
Đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung tập trung góp ý về thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục tham gia phát triển nguồn nhân lực văn hóa.

Cũng quan tâm đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, đại biểu Nguyễn Thị Thu Dung tập trung góp ý Điều 14 về thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nhằm phát triển nguồn lực văn hóa.

Theo đại biểu, việc thu hút đội ngũ này tham gia giảng dạy, hướng dẫn môn học, nội dung hoặc ngành, nghề phù hợp với chuyên môn là cần thiết, nhất là trong bối cảnh nguồn giảng viên có trình độ cao để đáp ứng điều kiện mở ngành trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật còn khan hiếm. Tuy nhiên, cần làm rõ việc công nhận trình độ tương đương và cơ chế giảng viên đồng cơ hữu để bảo đảm thống nhất với pháp luật chuyên ngành.

Đại biểu cho rằng quy định về giảng viên đồng cơ hữu trong pháp luật giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp có những yêu cầu cụ thể về vị trí công tác, trình độ đào tạo, điều kiện chuyên môn và thời gian làm việc. Trong khi đó, một số Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú không có trình độ tiến sĩ, thậm chí chưa có trình độ đại học. Vì vậy, việc công nhận tương đương để tính vào đội ngũ giảng viên đồng cơ hữu có thể dẫn đến mâu thuẫn với các quy định hiện hành.

Để tháo gỡ khó khăn, đại biểu đề nghị nghiên cứu áp dụng cơ chế giảng viên thỉnh giảng. Theo đại biểu, dù giảng viên thỉnh giảng không được tính vào năng lực mở ngành theo quy định chung, đối với lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật có thể nghiên cứu cơ chế đặc thù cho phép tính đội ngũ này vào điều kiện mở ngành với hệ số phù hợp, khác với giảng viên đồng cơ hữu.

Đại biểu nhấn mạnh việc thiết kế chính sách cần vừa tạo điều kiện mở ngành trong những lĩnh vực khan hiếm giảng viên có trình độ cao, vừa bảo đảm tính thống nhất với pháp luật chuyên ngành.

1792839916241_6675078566611297478_6675078566611297478_5ff33091bf5def9f514abad640bd15bc.jpg
Đại biểu Nguyễn Hoàng Trường đề nghị quan tâm lực lượng trực tiếp thực hành, truyền dạy di sản trong cộng đồng.

Ở góc độ thực tiễn cơ sở, đại biểu Nguyễn Hoàng Trường đồng tình với chính sách tại Điều 14, đồng thời đề nghị quan tâm lực lượng trực tiếp thực hành, truyền dạy di sản trong cộng đồng.

Theo đại biểu, việc truyền dạy ca trù, hát chèo, hát then, cồng chiêng, nghề cổ truyền tại các xã, phường hiện nay phần lớn do nghệ nhân dân gian chưa có danh hiệu nhà nước, các bô lão và người có uy tín trong cộng đồng thực hiện tại nhà văn hóa thôn, tổ dân phố. Trong khi đó, quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 14 mới chỉ ưu đãi người có danh hiệu chính thức, chưa bao quát lực lượng truyền dạy nòng cốt này.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung vào khoản 3 Điều 14 đối tượng “người thực hành, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể tại cộng đồng được UBND cấp xã xác nhận” để được hưởng thù lao theo thỏa thuận khi tham gia truyền dạy tại các thiết chế văn hóa cơ sở và trường học.