
Dự án Luật đã được Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội họp thẩm tra sơ bộ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp và cho ý kiến kết luận.
Trên cơ sở ý kiến thẩm tra sơ bộ của Ủy ban Văn hóa và Xã hội, Kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ VHTTDL đã phối hợp với các cơ quan liên quan, nghiên cứu tiếp thu đầy đủ và chỉnh lý dự thảo Luật, báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ.
Ngày 2/10/2026, Chính phủ đã có Báo cáo số 810/BC-CP tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự án Luật, đồng thời có Tờ trình số 811/TTr-CP trình Quốc hội dự án Luật với những nội dung cơ bản như sau:
1. Về sự cần thiết ban hành Luật:
a) Cơ sở chính trị: Việc xây dựng dự án Luật nhằm kịp thời thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển công nghiệp văn hóa (Nghị quyết số 80-NQ/TW, Kết luận số 18-KL/TW, Thông báo số 129-TB/VPTW, Thông báo số 12-TB/BCĐTW, Nghị quyết số 26-NQ/TW).
b) Về thực tiễn: Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự bùng nổ của các nền tảng số xuyên biên giới, để thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, cần hành lang pháp lý đủ mạnh để tạo động lực cho cho các nhà sáng tạo, sản xuất nội dung trong nước, đồng thời định hướng phát triển các nền tảng phân phối nội dung số nội địa.
Việc ban hành Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là đòi hỏi cấp bách để kịp thời khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong các sản phẩm, dịch vụ, bảo vệ thị trường nội địa và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng bứt phá của đất nước.
2. Về quan điểm xây dựng dự án Luật
Dự thảo Luật được xây dựng trên 6 quan điểm xuyên suốt để tạo khung khổ pháp lý cho thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa: (1) Tiếp cận công nghiệp văn hóa là chuỗi giá trị để thúc đẩy phát triển từ góc độ phát triển một ngành kinh tế chiến lược; hạn chế tối đa việc phát sinh thủ tục hành chính mới, số hóa và tăng cường hậu kiểm; (2) Không quy định lại những chính sách mà các luật chuyên ngành và các luật khác đã quy định; (3) Ưu tiên làm rõ những “điểm mờ” mà các luật chuyên ngành chưa cụ thể hóa, đặc biệt là trong khâu tổ chức thực thi; (4) Ưu tiên bổ sung quy định đối với những “khoảng trống” pháp lý mà pháp luật hiện hành chưa điều chỉnh hoặc chưa có cơ chế đủ rõ để tổ chức thực hiện; (5) Lựa chọn có trọng tâm, trọng điểm những “điểm nghẽn” đã được nhận diện rõ trong các quy định pháp luật hiện hành để đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội; (6) Luật quy định nguyên tắc, rõ những vấn đề, cơ chế, chính sách mang tính then chốt tầm luật để tạo khung khổ pháp lý cho thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa.

3. Về bố cục và các nội dung cơ bản của dự án Luật
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa bao gồm 8 chương và 39 điều, trong đó, quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, làm rõ các khái niệm cần thiết, quy định các nguyên tắc và chính sách phát triển công nghiệp văn hóa, quy định những hành vi bị cấm, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa và quy định 6 nhóm chính sách bao gồm:
3.1. Về hoạt động phát triển hệ sinh thái, thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa
Nhằm tháo gỡ các hạn chế về kết nối chuỗi giá trị và thị trường công nghiệp văn hóa quốc tế; phát triển thương hiệu quốc gia; thúc đẩy tiêu dùng, xúc tiến xuất khẩu; xây dựng cơ chế liên kết và tháo gỡ rào cản khi thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa, dự thảo Luật đề xuất 2 nội dung trọng tâm: (1) Hoạt động phát triển hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; (2) Thử nghiệm có kiểm soát trong các ngành công nghiệp văn hóa.
3.2. Về hỗ trợ sáng tạo, xác lập, xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa
Nhằm khắc phục hạn chế do chưa tạo lập đầy đủ hành lang pháp lý để quyền sở hữu trí tuệ trở thành nguồn vốn, tài sản bảo đảm trong các giao dịch tài chính, tín dụng và nâng cao năng lực xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ; ứng dụng phần mềm phục vụ sáng tạo, nền tảng số hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ, dự thảo Luật đề xuất 3 nội dung trọng tâm: (1) Phần mềm phục vụ sáng tạo, nền tảng số hỗ trợ về quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; (2) Sử dụng quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa; (3) Hỗ trợ nâng cao năng lực xác định giá trị quyền sở hữu trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa.
3.3. Về nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa
Nhằm khắc phục các hạn chế hiện nay về thiếu cơ sở để tham chiếu năng lực của nhân lực trong các lĩnh vực chuyên ngành; cơ chế để thu hút, huy động nghệ sĩ, nghệ nhân, người truyền dạy di sản, chuyên gia tham gia giảng dạy; thiếu cơ chế hỗ trợ tài chính, hạ tầng, mô hình đào tạo ngành, nghề ưu tiên và bất cập trong thu hút, trọng dụng nhân lực chất lượng cao, nhân tài công nghiệp văn hóa, dự thảo Luật đề xuất 3 nội dung trọng tâm: (1) Khung năng lực nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa; (2) Thu hút nghệ sĩ, nghệ nhân, chuyên gia, nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong phát triển nhân lực công nghiệp văn hóa; (3) Phát triển, thu hút nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất trong các ngành công nghiệp văn hóa.
3.4. Hạ tầng công nghiệp văn hóa
Nhằm khắc phục các hạn chế về thiếu khung pháp lý đồng bộ trong phân loại, tiêu chí công trình, thiết chế phục vụ công nghiệp văn hóa; vướng mắc trong huy động nguồn lực, thủ tục đầu tư phát triển tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; gánh nặng thủ tục hành chính khi tổ chức sự kiện; hạn chế trong khai thác không gian công cộng; thiếu hoạt động công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư công trình xây dựng; chưa phát triển hạ tầng văn hóa số và bảo đảm hiệu quả sử dụng hạ tầng công nghiệp văn hóa, dự thảo Luật đề xuất 7 nội dung trọng tâm: (1) Công trình, thiết chế phục vụ công nghiệp văn hóa; (2) Tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; (3) Cơ chế tổ chức hoạt động, sự kiện trong tổ hợp sáng tạo văn hóa và cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; (4) Đánh giá hiệu quả đối với hạ tầng công nghiệp văn hóa; (5) Sử dụng không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; (6) Hoạt động phát triển công nghiệp văn hóa trong các dự án đầu tư công trình xây dựng; (7) Hạ tầng văn hóa số.
3.5. Về thị trường công nghiệp văn hóa
Nhằm hình thành, phát triển thị trường công nghiệp văn hóa, thúc đẩy giao dịch, nâng cao năng lực doanh nghiệp, phát triển thương hiệu và kích cầu tiêu dùng văn hóa, dự thảo Luật đề xuất 6 nội dung trọng tâm: (1) Sản phẩm công nghiệp văn hóa có bản sắc văn hóa Việt Nam; (2) Sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm; (3) Hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực phát triển đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã công nghiệp văn hóa; (4) Hoạt động phát triển thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa; (5) Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa; (6) Hỗ trợ phát triển thị trường và thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa.
3.6. Về tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư
Nhằm khơi thông về nguồn lực tài chính, cơ chế đầu tư mạo hiểm, chính sách ưu đãi đầu tư đặc thù và thu hút dự án đầu tư, dự thảo Luật đề xuất 8 nội dung trọng tâm: (1) Tài chính cho phát triển công nghiệp văn hóa; (2) Đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghiệp văn hóa; (3) Hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đối với phát triển hạ tầng công nghiệp văn hóa; (4) Hỗ trợ, ưu đãi đầu tư đối với cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, cung cấp sản phẩm công nghiệp văn hóa trong tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; (5) Hỗ trợ, ưu đãi đối với dự án đầu tư nước ngoài cần ưu tiên thu hút trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa; (6) Hỗ trợ chi phí sản xuất cho các dự án công nghiệp văn hóa có giá trị kinh tế cao; (7) Hỗ trợ, ưu đãi đối với cơ sở công nghiệp văn hóa không vì mục tiêu lợi nhuận; (8) Chính sách hoàn thuế cho đoàn làm phim nước ngoài sử dụng bối cảnh tại Việt Nam.
Dự thảo Luật không trực tiếp quy định các thủ tục hành chính mà giao trực tiếp các nội dung thuộc thẩm quyền cho Chính phủ, các bộ, ngành; tăng cường phân cấp cho địa phương tại dự thảo Luật bảo đảm có thể triển khai ngay trên thực tế đồng bộ, thống nhất và hiệu quả. Đồng thời, về nguồn lực dự kiến bao gồm nguồn ngân sách Trung ương và địa phương; nguồn kinh phí khác theo quy định pháp luật. Cơ bản không phát sinh bộ máy ở Trung ương và địa phương so với hiện hành. Nhân lực thực hiện sử dụng nguồn lực hiện có trong các ngành công nghiệp văn hóa. Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XVI diễn ra từ ngày 17/10 - 21/11/2026 (chia làm 2 đợt) sẽ xem xét, quyết định nhiều nội dung quan trọng trong đó có việc cho ý kiến đối với dự án Luật phát triển công nghiệp văn hóa. Nếu được Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 3 tiếp theo, đây sẽ là tiền đề quan trọng, góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa nước nhà phát triển mạnh mẽ, đóng góp thiết thực vào tăng trưởng kinh tế đất nước.
LÊ THỊ THU OANH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 658, tháng 10/2026