Khi hệ thống chính sách khá đầy đủ nhưng còn phân tán…
Rà soát hệ thống pháp luật, có thể thấy chúng ta không thiếu chủ trương, cũng không thiếu văn bản điều chỉnh, từ Luật Thể dục, thể thao, Luật Di sản văn hóa, các nghị quyết của Ðảng, Chiến lược Phát triển TDTT, chương trình mục tiêu quốc gia đến các đề án bảo tồn văn hóa dân tộc đều có những nội dung liên quan. Song, các quy định này vẫn chủ yếu tiếp cận từ những góc độ khác nhau, thiếu một cơ chế thống nhất coi thể thao dân tộc là một đối tượng phát triển đặc thù. Chính khoảng trống ấy đang là nguyên nhân khiến nhiều chủ trương đúng đắn chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ trong thực tiễn.
Quan điểm của Ðảng về bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc được khẳng định xuyên suốt trong nhiều văn kiện, đặc biệt là Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam; Kết luận số 70-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển TDTT trong giai đoạn mới; cùng nhiều nghị quyết về phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trên cơ sở đó, Nhà nước đã từng bước hình thành hệ thống pháp luật tương đối toàn diện.

Luật Thể dục, thể thao năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2018 tạo nền tảng pháp lý cho hoạt động TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao, trong đó khuyến khích bảo tồn, phát triển các môn thể thao dân tộc. Luật Di sản văn hóa quy định việc bảo vệ, gìn giữ và phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể - môi trường tồn tại của nhiều môn thể thao truyền thống.
Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 dành nguồn lực đáng kể cho bảo tồn văn hóa truyền thống, trong đó có các hoạt động TDTT.
Ðặc biệt, Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2024 đã lần đầu tiên đặt yêu cầu phát triển các môn thể thao dân tộc trong tổng thể chiến lược phát triển ngành, gắn với chuyển đổi số, kinh tế thể thao, phát triển cộng đồng và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, điểm dễ nhận thấy là các quy định liên quan nằm rải rác ở nhiều lĩnh vực khác nhau: Văn hóa, thể thao, dân tộc, giáo dục, du lịch… Mỗi văn bản điều chỉnh một phần, nhưng chưa có một chính sách chuyên biệt, đồng bộ về bảo tồn và phát triển thể thao dân tộc, thể thao truyền thống. Ðiều đó khiến việc tổ chức thực hiện phụ thuộc nhiều vào nhận thức và điều kiện của từng địa phương hơn là một cơ chế thống nhất trên phạm vi cả nước.
Nhận diện các “khoảng trống” cần được lấp đầy
Khoảng trống đầu tiên chính là việc chưa xác lập rõ địa vị pháp lý của thể thao dân tộc, thể thao truyền thống.
Trong Luật Thể dục, thể thao, các môn thể thao dân tộc đã được đề cập nhưng chưa có chương riêng quy định về nguyên tắc bảo tồn, phát triển, tiêu chí xác định hay cơ chế đầu tư. Ngay cả các khái niệm như “thể thao dân tộc”, “thể thao truyền thống”, “trò chơi dân gian”… hiện vẫn chưa được định nghĩa thống nhất trong hệ thống pháp luật. Ðiều này dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quản lý. Có địa phương coi kéo co, đẩy gậy hay bắn nỏ là môn thể thao; nơi khác lại xem đó là trò chơi dân gian hoặc hoạt động lễ hội. Một số môn được tổ chức thi đấu thường xuyên, trong khi nhiều môn khác gần như không có cơ sở pháp lý để xây dựng hệ thống giải.
Việc thiếu một khung pháp lý rõ ràng cũng khiến các cơ quan quản lý khó xác định đối tượng ưu tiên đầu tư, khó ban hành tiêu chuẩn chuyên môn và khó đánh giá hiệu quả chính sách.

Khoảng trống thứ hai là chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia về thể thao dân tộc.
Một chính sách tốt phải được xây dựng trên nền tảng dữ liệu đầy đủ. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn chưa có một cơ sở dữ liệu quốc gia về thể thao dân tộc. Chúng ta chưa có câu trả lời thống nhất cho những câu hỏi rất cơ bản: Cả nước hiện còn bao nhiêu môn thể thao truyền thống? Có bao nhiêu môn đang được thực hành thường xuyên? Môn nào đang có nguy cơ mai một nghiêm trọng?
Các địa phương đều có những thống kê riêng, song phương pháp kiểm kê chưa thống nhất, dữ liệu phân tán và thiếu cập nhật. Không có dữ liệu đồng nghĩa với việc rất khó xây dựng quy hoạch phát triển, xác định trọng tâm đầu tư hay đánh giá hiệu quả của từng chương trình bảo tồn.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang được xác định là động lực phát triển mới của ngành TDTT, việc xây dựng cơ sở dữ liệu số quốc gia về thể thao dân tộc cần được xem là nhiệm vụ ưu tiên.
Khoảng trống thứ ba: Thiếu cơ chế phối hợp liên ngành.
Thể thao dân tộc là lĩnh vực giao thoa giữa nhiều ngành. Trong đó, Bộ VHTTDL quản lý nhà nước về thể thao và văn hóa; Bộ Giáo dục và Ðào tạo phụ trách giáo dục thể chất trong trường học; Bộ Dân tộc và Tôn giáo triển khai các chương trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong khi các địa phương chịu trách nhiệm tổ chức lễ hội, phong trào và đầu tư cơ sở vật chất.
Mỗi ngành đều có chức năng, nhiệm vụ riêng, nhưng lại thiếu một cơ chế phối hợp đủ mạnh. Không ít hoạt động chỉ dừng ở quy mô sự kiện, thiếu sự kết nối giữa bảo tồn văn hóa, giáo dục, phát triển du lịch và phát triển thể thao.
Việc thiếu đầu mối điều phối khiến nguồn lực bị phân tán, hiệu quả đầu tư chưa cao và khó hình thành các mô hình phát triển bền vững.
Khoảng trống thứ tư: Xã hội hóa còn rất hạn chế
Hiện nay, phần lớn hoạt động bảo tồn và tổ chức thi đấu các môn thể thao dân tộc vẫn phụ thuộc vào ngân sách công. Doanh nghiệp rất ít tham gia, không hẳn vì thiếu quan tâm mà vì chưa nhìn thấy cơ chế tạo giá trị.
Khác với bóng đá hay các môn thể thao chuyên nghiệp, thể thao giải trí (như Esports, Pickleball…), thể thao truyền thống chưa hình thành thị trường bản quyền, tài trợ, quảng bá, dịch vụ hay sản phẩm thương mại. Trong khi đó, nếu được tổ chức bài bản, nhiều môn thể thao hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm du lịch, lễ hội hoặc một phần trong công nghiệp văn hóa. Nguyên nhân vì chúng ta chưa tạo đủ động lực để doanh nghiệp tham gia một cách bền vững và minh bạch.
Khoảng trống về tư duy phát triển
Có lẽ khoảng trống lớn nhất hiện nay không nằm trong các điều khoản pháp luật mà nằm trong tư duy chính sách. Nhiều năm qua, mục tiêu chủ yếu vẫn là bảo tồn. Ðiều đó đúng, nhưng chưa đủ. Bởi bên cạnh bảo tồn các môn thể thao truyền thống như một di sản, cần có chính sách để biến chúng thành nguồn lực phát triển.
Như Nhật Bản xây dựng sumo thành biểu tượng quốc gia; Trung Quốc thương mại hóa mạnh mẽ wushu, đua thuyền rồng và nhiều môn thể thao dân gian. Nhiều quốc gia coi thể thao truyền thống là sản phẩm du lịch, giáo dục, truyền thông và công nghiệp văn hóa.
Còn ở Việt Nam, cách tiếp cận này mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Không ít địa phương vẫn xem việc tổ chức một hội thi hay lễ hội là đã hoàn thành nhiệm vụ bảo tồn. Trong khi đó, điều cần hướng tới là xây dựng cả một hệ sinh thái gồm câu lạc bộ, trường học, đào tạo huấn luyện viên, giải đấu, truyền thông, chuyển đổi số, sản phẩm du lịch và sự tham gia của doanh nghiệp.

Hoàn thiện thể chế để mở đường cho phát triển
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Thể dục thể thao Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh một thông điệp rất đáng chú ý: “Thể chế phải đi trước, mở đường cho phát triển”. Thông điệp này đặc biệt có ý nghĩa đối với lĩnh vực thể thao dân tộc!
Ðiều cần thiết hiện nay không phải ban hành thêm nhiều văn bản, mà là xây dựng một chính sách chuyên biệt với tư duy phát triển hiện đại. Trong quá trình sửa đổi Luật Thể dục, thể thao trong thời gian tới, cần nghiên cứu bổ sung một chương hoặc một mục riêng về thể thao dân tộc, thể thao truyền thống; xác lập khái niệm pháp lý thống nhất; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia; hình thành cơ chế hỗ trợ nghệ nhân và người truyền dạy; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành; đồng thời mở rộng xã hội hóa gắn với phát triển kinh tế thể thao và công nghiệp văn hóa.
Bên cạnh đó, cần coi thể thao dân tộc không chỉ là nhiệm vụ của ngành Thể thao mà là nguồn lực văn hóa phục vụ giáo dục, du lịch, phát triển cộng đồng và quảng bá hình ảnh quốc gia.
Một môn thể thao truyền thống sẽ không thể tồn tại lâu dài nếu chỉ xuất hiện vài ngày trong lễ hội. Di sản chỉ thực sự được bảo tồn khi còn người chơi, người dạy, người xem, còn thị trường và còn sức sống trong đời sống đương đại.
Vì vậy, khoảng trống lớn nhất của chính sách hiện nay không nằm ở số lượng văn bản, mà ở việc thiếu một cơ chế đủ mạnh để kết nối bảo tồn với phát triển. Khi những khoảng trống đó được lấp đầy bằng một hệ thống chính sách đồng bộ, thể thao dân tộc sẽ không chỉ được gìn giữ như một ký ức văn hóa, mà còn có thể trở thành nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng con người Việt Nam, phát triển kinh tế thể thao, công nghiệp văn hóa và quảng bá bản sắc dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Bài, ảnh: NGỌC MINH
Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống, số 3, tháng 8/2026