Vẻ đẹp lung linh của Đại Nội (Huế) khi được số hóa - Ảnh: TTBTCĐH
Vẻ đẹp lung linh của Đại Nội (Huế) khi được số hóa - Ảnh: TTBTCĐH

Từ “cất giữ” đến xây dựng hạ tầng dữ liệu

Nghị định số 277/2026/NĐ-CP về Hạ tầng văn hóa số được Chính phủ ban hành ngày 9/7/2026 đã tạo bước chuyển quan trọng từ chủ trương sang hành động, từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Đây là cơ sở để xây dựng hạ tầng văn hóa số, kho dữ liệu văn hóa quốc gia, đồng thời tạo nền tảng phát triển các sản phẩm, dịch vụ văn hóa mang bản sắc Việt Nam trên môi trường số.

Theo Nghị định, hạ tầng văn hóa số được cấu thành từ hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu văn hóa số; các nền tảng, hệ thống và công cụ số phục vụ lợi ích công cộng. Quá trình phát triển đòi hỏi tính đồng bộ, liên thông và dùng chung trên phạm vi cả nước nhằm tối ưu hóa nguồn lực, tránh đầu tư phân tán, tạo nền móng cho hệ sinh thái dữ liệu văn hóa quốc gia.

Đáng chú ý, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia hướng tới số hóa, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu về di sản, nghệ thuật, lễ hội, âm nhạc cùng nhiều tài nguyên văn hóa khác, phục vụ quản lý, nghiên cứu, giáo dục và phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo.

Ở góc độ rộng hơn, xây dựng hạ tầng dữ liệu còn đặt nền móng cho chủ quyền văn hóa trên không gian số. Khi các nền tảng số ngày càng chi phối hoạt động sáng tạo và tiếp nhận văn hóa, dữ liệu không chỉ để lưu trữ tĩnh mà trở thành nguồn tài nguyên cho trí tuệ nhân tạo (AI), điện ảnh, trò chơi điện tử, hoạt hình, xuất bản số, thiết kế sáng tạo và nhiều lĩnh vực khác của công nghiệp văn hóa.

Cùng với triển khai Kế hoạch số 05-KH/BCĐTW về hành động xử lý các điểm nghẽn trong chuyển đổi số, Bộ VHTTDL xác định lộ trình đến hết năm 2026 tập trung đánh giá thực chất các chương trình số hóa hiện có, nhận diện dữ liệu trùng lắp, phân tán, thiếu tương thích hoặc chưa có quy chuẩn chung. Từ năm 2027, kho dữ liệu văn hóa số quốc gia hướng tới vận hành đồng bộ, liên thông trên toàn quốc, trước hết tại các bảo tàng quốc gia, bảo tàng lớn, cơ quan lưu trữ và một số địa phương có điều kiện. Mỗi hiện vật được đưa vào kho sẽ có định danh thống nhất, kèm thông tin về nguồn gốc, hồ sơ khoa học và dữ liệu số tương ứng. Di tích, tài liệu, bộ sưu tập cũng từng bước được quản lý theo các trường dữ liệu về nguồn gốc, bối cảnh, xác thực, truy xuất và liên kết.

Như vậy, hệ sinh thái dữ liệu văn hóa quốc gia đang từng bước được hình thành thông qua việc số hóa di sản, phát triển bảo tàng số, thư viện số và các nền tảng sáng tạo nội dung. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa số hóa và chuyển đổi số. Nếu số hóa là quá trình chuyển đổi hiện vật, tư liệu từ dạng vật lý sang dữ liệu số như hình ảnh, video, bản quét 3D hay cơ sở dữ liệu điện tử thì chuyển đổi số là bước phát triển cao hơn, khi dữ liệu được đưa vào khai thác để đổi mới phương thức quản lý, bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo, biến dữ liệu thành tài nguyên cho kinh tế sáng tạo.

Trở về thời khắc thiêng liêng ứng dụng VR đưa khán giả “xuyên không” về Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 - Ảnh: HTV
Trở về thời khắc thiêng liêng ứng dụng VR đưa khán giả “xuyên không” về Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 - Ảnh: HTV

Việt Nam có bề dày lịch sử ngàn năm với nguồn tài nguyên văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng và độc đáo. Song, việc khai thác vẫn còn nhiều hạn chế bởi tư liệu phần lớn tồn tại/ cất giữ dưới dạng hiện vật, hồ sơ giấy nằm trong các bảo tàng, thư viện hoặc tri thức truyền nghề phân tán, phai nhạt dần theo thời gian trong cộng đồng.

Trạng thái lưu trữ phân tán và khép kín cùng với sự thiếu hụt một cơ sở dữ liệu chuẩn hóa đã tạo ra rào cản rất lớn cho sáng tạo đương đại. Khi thực hiện một dự án phục dựng cổ phục, thiết kế áo dài truyền thống, sản xuất phim lịch sử hay phát triển trò chơi điện tử, các nhà thiết kế, nghệ sĩ và nhà sản xuất thường phải tự tìm kiếm, gom nhặt tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau. Không ít tư liệu trên Internet chưa được kiểm chứng hoặc thiếu thông tin về nguồn gốc, niên đại, bối cảnh và giá trị văn hóa.

Từng có tranh luận trái chiều về hình ảnh chim Lạc lấy cảm hứng từ trống đồng Đông Sơn trong MV của Sơn Tùng M-TP. Câu chuyện cho thấy: khi biểu tượng văn hóa xưa được đưa vào sản phẩm sáng tạo mới, đâu là nguồn dữ liệu chính thống để tra cứu, đối chiếu và xác định giới hạn giữa phục dựng, cách điệu và sáng tạo?

Đại diện Tập đoàn LacBird từng cho biết, khi thực hiện game lấy bối cảnh sử Việt như Lạc Việt phiêu lưu ký, Phục ma ngự sử... thách thức lớn nhất là không có hệ thống tư liệu lịch sử - văn hóa mở, chuẩn hóa và dễ tiếp cận.

Biên kịch Đặng Thanh cũng cho biết, khi viết kịch bản về huyền tích núi Bà Đen, ê-kíp gặp khó khăn bởi truyền thuyết dân gian có nhiều dị bản, chưa được chuẩn hóa về dữ liệu và sử liệu. Để hạn chế tranh cãi, phải dựa vào nguồn truyền thuyết từ một website chính thống về du lịch, song tư liệu chưa đủ sâu nên cuối cùng phải tạm dừng dự án.

Với nghệ thuật biểu diễn, yêu cầu số hóa còn rộng hơn. Những loại hình truyền thống như cải lương, hát bội, tuồng, múa rối hay xiếc chứa đựng hệ thống tri thức sống quý giá, từ làn điệu, động tác, kỹ thuật điều khiển con rối, nghệ thuật hóa trang, phục trang, đạo cụ đến kinh nghiệm sân khấu của các nghệ sĩ gạo cội. Nếu không kịp thời ghi hình, chú giải và số hóa quá trình thực hành, một phần ký ức sân khấu có thể mất đi theo thời gian.

Quét mã QR để bước vào thế giới văn hóa Chăm trên không gian số.
Ảnh: Giang Đình
Quét mã QR để bước vào thế giới văn hóa Chăm trên không gian số. - Ảnh: Giang Đình

Dữ liệu chuẩn - điểm tựa cho sáng tạo

Sau vụ hỏa hoạn tại Nhà thờ Đức Bà Paris năm 2019, nhờ công nghệ quét laser 3D do cố Giáo sư Andrew Tallon thực hiện cùng dữ liệu của Công ty AGP thu thập từ năm 1994, các kiến trúc sư đã phục dựng chính xác nguyên bản công trình. Đây là minh chứng rõ nhất cho giá trị của dữ liệu số không chỉ giúp lưu giữ hình ảnh của di sản mà còn cung cấp cơ sở khoa học để tái tạo những gì đã mất.

Từ thực tế hàng chục năm nghiên cứu, sáng tạo và truyền nghề, theo Nghệ nhân Năm Tuyền - Chi hội trưởng Chi hội Di sản văn hóa áo dài TP.HCM, khi có nguồn dữ liệu tin cậy về áo dài ngũ thân hay cổ phục có thể mở ra nhiều hướng cho sáng tạo. Điện ảnh và sân khấu sử dụng dữ liệu thiết kế để phục dựng trang phục nhân vật chính xác theo từng thời kỳ lịch sử. Du lịch khai thác dữ liệu 3D để tạo phòng thử đồ ảo, triển lãm thời trang tương tác bằng VR/AR tại các bảo tàng số. Dữ liệu cũng có thể trở thành hệ thống tham chiếu phục vụ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, góp phần bảo vệ trang phục truyền thống trước những biến tấu sai lệch.

Biên kịch Đặng Thanh tin rằng, khi có nguồn dữ liệu số hóa chuẩn xác, mang tính quốc gia, các sản phẩm đổi mới sáng tạo văn hóa sẽ được chuẩn hóa khoa học, đồng thời tiết kiệm đáng kể thời gian và chi phí tìm kiếm, kiểm chứng, quy tập tư liệu. Công chúng cũng có nguồn dữ liệu chính thống để tra cứu, từ đó hình thành cách tiếp nhận và tiêu dùng sản phẩm văn hóa tinh tế, văn minh hơn.

Hoàng thành Thăng Long ứng dụng công nghệ scan 3D giúp lưu trữ hiện trạng chính xác.
Ảnh: HTTL
Hoàng thành Thăng Long ứng dụng công nghệ scan 3D giúp lưu trữ hiện trạng chính xác. - Ảnh: HTTL

Mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu, công tác số hóa văn hóa vẫn đang có hạn chế về nhận thức khi bị xem chỉ là quay phim, chụp ảnh hay lưu trữ tài liệu dưới dạng tệp máy tính. TS Trịnh Đăng Khoa - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa TP.HCM khẳng định, số hóa không đơn thuần là đưa văn hóa từ đời thực lên màn hình. Mỗi loại hình di sản cần một phương pháp riêng. Với di sản vật thể, cần ghi nhận kích thước, chất liệu, kết cấu bằng công nghệ 3D; trong khi di sản phi vật thể phải bao quát cả tri thức, kỹ năng, bối cảnh cộng đồng và những yếu tố tâm linh.

Từ góc nhìn này, số hóa nghệ thuật sân khấu truyền thống phải là quá trình lưu giữ có hệ thống toàn bộ quy trình lao động nghệ thuật: từ luyện tập, bài bản âm nhạc, kỹ thuật hóa trang, cách sử dụng đạo cụ đến lớp lang biểu diễn và phương pháp truyền nghề. Đó không chỉ là lưu giữ một tiết mục, mà là lưu giữ cả một hệ thống tri thức làm nên tiết mục ấy.

TS Mã Thanh Cao - nguyên Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM lưu ý rằng mô hình 3D hay hình ảnh độ phân giải cao mới chỉ phản ánh phần “vỏ” của hiện vật. Điều quan trọng là phải nghiên cứu đầy đủ bối cảnh lịch sử, kỹ thuật chế tác và giá trị mỹ thuật trước khi số hóa. Nếu chỉ đưa hình ảnh thô lên Internet mà thiếu chú giải khoa học, câu chuyện lịch sử và sự diễn giải giá trị văn hóa, bộ dữ liệu sẽ trở nên vô hồn, khó tạo sức hút với công chúng cũng như các nhà sáng tạo.

Hát Bội là một loại hình nghệ thuật truyền thống rất cần được số hóa. 
Ảnh: NHNTHB TP.HCM
Hát Bội là một loại hình nghệ thuật truyền thống rất cần được số hóa.  - Ảnh: NHNTHB TP.HCM

Kiến tạo hệ sinh thái và giải pháp phát triển bền vững

Số hóa mới là bước đầu tiên, xây dựng kho dữ liệu liên thông là bài toán có ý nghĩa quyết định. TS Nguyễn Thị Hậu - Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử TP.HCM đánh giá xu thế chung của thế giới đang chuyển từ các cơ sở dữ liệu đơn lẻ, khép kín sang hệ sinh thái dữ liệu liên thông, có khả năng tích hợp AI và Big Data. Hoạt động số hóa tại Việt Nam hiện phần lớn vẫn diễn ra riêng lẻ tại từng bảo tàng, sở văn hóa hay thư viện...

Theo đó, rất cần xây dựng một ngân hàng dữ liệu chung cho hệ thống bảo tàng, di tích và các loại hình di sản, với bộ tiêu chí thống nhất về cấu trúc hồ sơ, phương pháp chú giải, khả năng truy xuất và quy định khai thác. Một nền tảng chung sẽ thuận lợi hơn cho quản lý, nghiên cứu, diễn giải giá trị di sản, đồng thời hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tạo điều kiện phát triển công nghiệp sáng tạo, du lịch.

TS Trịnh Đăng Khoa đồng quan điểm cần ưu tiên xây dựng chuẩn dữ liệu thống nhất, hình thành cơ sở dữ liệu có khả năng kết nối, chia sẻ; lấy nghệ nhân và cộng đồng làm trung tâm của quá trình số hóa. Cùng với đó là phát triển nguồn nhân lực liên ngành, hoàn thiện cơ chế về bản quyền và quyền lợi cộng đồng, đưa dữ liệu văn hóa vào giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa để dữ liệu thực sự trở thành nguồn tài nguyên mới.

TS Trần Quý - Viện trưởng Viện Phát triển kinh tế số Việt Nam cho rằng, giá trị của số hóa không nằm ở việc tạo ra bao nhiêu dữ liệu mà ở khả năng chuyển dữ liệu thành giá trị thực. Để vận hành hiệu quả kho dữ liệu văn hóa quốc gia, ông đề xuất mô hình quản trị dữ liệu theo bốn tầng giá trị: bảo tồn - quản trị - trải nghiệm - kinh tế trên cơ sở kết nối Nhà nước, viện - trường, doanh nghiệp và cộng đồng.

Trong đó, bản quyền và quyền khai thác là một mắt xích quan trọng. Di sản gốc thuộc về cộng đồng, nhưng quá trình nghiên cứu, mã hóa và hệ thống hóa thành dữ liệu đòi hỏi công sức của nghệ nhân, nhà nghiên cứu và các tổ chức chuyên môn. Vì vậy, cần xác định rõ quyền khai thác và cơ chế cấp phép thương mại. Khi có cơ chế minh bạch, nguồn thu từ khai thác dữ liệu có thể được tái đầu tư cho bảo tồn, tạo động lực kinh tế bền vững và thu hút thêm nguồn lực xã hội cho số hóa.

Quá trình chuyển hóa văn hóa trong kỷ nguyên số vận hành theo một chuỗi giá trị liên tục: từ di sản gốc đến dữ liệu số, tri thức số, tài sản trí tuệ, sản phẩm và dịch vụ, tạo ra giá trị kinh tế và cuối cùng đóng góp vào sức mạnh mềm quốc gia. Để chuỗi giá trị ấy vận hành, chỉ dựa vào ngân sách nhà nước là không đủ. Theo ông Huỳnh Sĩ Nguyên - Công ty VMT Solutions, nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách và hạ tầng, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp và cộng đồng đầu tư số hóa di sản, giúp kết nối dữ liệu giữa công lập và tư nhân, tránh lãng phí đầu tư khi mỗi đơn vị tự xây dựng kho dữ liệu đóng.

Có thể nói, mục tiêu cuối cùng không phải là tạo thêm những kho dữ liệu văn hóa tĩnh trên môi trường số, mà là hình thành một kho dữ liệu thống nhất, đảm bảo “đúng, đủ, sạch, sống”: đúng về thông tin, đủ về bối cảnh, sạch về chất lượng và có khả năng tiếp tục được cập nhật, khai thác, sáng tạo. Với hành lang pháp lý từ Nghị định 277/2026/NĐ-CP, Việt Nam có cơ hội xây dựng hạ tầng dữ liệu văn hóa như một nguồn tài nguyên chung cho nghiên cứu, giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa, sáng tạo. Khi dữ liệu văn hóa được kết nối, liên thông, dễ truy xuất và khai thác có trách nhiệm, số hóa không chỉ giúp lưu giữ mà còn đưa di sản trở lại bằng những hình thức mới, tạo thêm giá trị và mở rộng không gian sáng tạo.

*Bài viết có trích dẫn một số ý kiến tại tọa đàm Số hóa dữ liệu văn hóa,du lịch TP.HCM ngày 23/7/2026.

Diễu hành cổ phục trên đường phố TP.HCM - Ảnh: Nam Anh
Diễu hành cổ phục trên đường phố TP.HCM - Ảnh: Nam Anh

XUÂN HƯỚNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 656, tháng 9/2026