Một bộ phận sống động của di sản văn hóa dân tộc
Từ đấu vật dân tộc, đá cầu, võ cổ truyền, đua thuyền, kéo co, đánh đu, đấu cờ người và cờ bỏi ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ… đẩy gậy, bắn nỏ, tung còn, tù lu, đi cà kheo, trèo cột mỡ, ném pao… ở miền núi phía Bắc; đua ghe ngo của đồng bào Khmer Nam Bộ; đến những hình thức thi tài về sức mạnh, sự khéo léo, khả năng thích ứng với thiên nhiên của đồng bào Tây Nguyên và nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số khác, thể thao truyền thống, thể thao dân tộc và trò chơi vận động dân gian Việt Nam hình thành từ chính môi trường lao động, sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt cộng đồng.
Ở nhiều nơi, ranh giới giữa một môn thể thao dân tộc, một trò chơi dân gian hay những nghi thức văn hóa dân tộc gần như hòa vào nhau. Các cuộc thi không chỉ nhằm phân định thắng, thua, mà còn là dịp cầu mưa thuận gió hòa, tưởng nhớ tiền nhân, tuyển chọn người tài, giáo dục tinh thần thượng võ và củng cố quan hệ cộng đồng.

Bởi vậy, giá trị của thể thao dân tộc không thể chỉ được đo bằng số người tham gia, số giải đấu hay thành tích huy chương mà hơn thế, nằm ở khả năng duy trì ký ức tập thể, truyền lại kỹ năng, phong tục, ngôn ngữ, trang phục, âm nhạc, nghi lễ và những chuẩn mực ứng xử đã được các cộng đồng vun đắp qua nhiều thế hệ.
Trong đời sống đương đại, nhiều môn thể thao truyền thống vẫn được duy trì khá mạnh tại các lễ hội, ngày hội văn hóa, thể thao các dân tộc và các giải thi đấu địa phương. Một số môn như võ cổ truyền, đua thuyền, kéo co, đẩy gậy, bắn nỏ… đã có hệ thống thi đấu tương đối ổn định, được đưa vào chương trình các đại hội thể thao hoặc hội thi thể thao dân tộc.
Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, biến đổi không gian làng xã, thay đổi phương thức sản xuất và thói quen giải trí của giới trẻ cũng khiến môi trường tồn tại tự nhiên của nhiều môn thể thao truyền thống bị thu hẹp. Có nơi vẫn tổ chức hội thi nhưng luật chơi đã bị giản lược; dụng cụ truyền thống được thay thế; yếu tố nghi lễ và bản sắc bị tách khỏi hoạt động thi đấu. Việc bảo tồn vì thế đôi khi mới giữ được “hình thức”, trong khi phần hồn văn hóa dần phai nhạt.
Sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước
Quan điểm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện đã được thể hiện xuyên suốt trong đường lối của Ðảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Luật Thể dục, thể thao năm 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thể dục, thể thao năm 2018 tạo dựng khuôn khổ pháp lý cơ bản cho hoạt động thể dục, thể thao quần chúng, thể thao trường học, thể thao thành tích cao và hoạt động của các tổ chức xã hội về thể thao. Trong cấu trúc chính sách này, việc khôi phục, bảo tồn và phát triển các môn thể thao dân tộc được đặt trong nhiệm vụ phát triển TDTT quần chúng, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Ở bình diện rộng hơn, Luật Di sản văn hóa cùng hệ thống văn bản hướng dẫn là cơ sở để nhận diện, kiểm kê và bảo vệ những thực hành văn hóa, tập quán xã hội, lễ hội và tri thức dân gian gắn với thể thao truyền thống. Thực tế cho thấy nhiều môn hoặc hình thức thi đấu dân gian chỉ có thể được bảo tồn đầy đủ khi được nhìn nhận như một bộ phận của không gian di sản, thay vì một hoạt động thể thao độc lập.
Nghị định số 05/2011/NÐ-CP của Chính phủ về công tác dân tộc, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 127/2024/NÐ-CP, xác lập nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; đồng thời quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành và chính quyền địa phương trong xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ðây là nền tảng quan trọng để lồng ghép hoạt động thể thao dân tộc vào các chương trình nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của đồng bào.
Quyết định số 1270/QÐ-TTg ngày 27/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Ðề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” từng đặt ra một cách tiếp cận tương đối tổng thể, gắn bảo tồn văn hóa với chủ thể cộng đồng và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
Ðáng chú ý, Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội và Quyết định số 1719/QÐ-TTg ngày 14/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo nền tảng cho Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021–2030. Trong chương trình này, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được xác định là một nội dung quan trọng, qua đó mở ra nguồn lực để tổ chức ngày hội, hoạt động văn hóa, thể thao, phục dựng và truyền dạy các giá trị truyền thống tại cộng đồng.
Thực tế triển khai cho thấy các chương trình, dự án về văn hóa dân tộc đã bắt đầu dành sự quan tâm cụ thể hơn cho thể thao. Năm 2024, Bộ VHTTDL giao cơ quan chuyên môn xây dựng 3 mô hình bảo tồn, phát huy các môn thể thao truyền thống, thể thao đặc thù tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ðây là bước chuyển đáng chú ý từ tổ chức các hoạt động đơn lẻ sang thử nghiệm mô hình có khả năng duy trì tại cộng đồng.
Chiến lược mới và yêu cầu đặt thể thao dân tộc vào dòng chảy phát triển
Một dấu mốc quan trọng là Quyết định số 1189/QÐ-TTg ngày 15/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, trong nhóm nhiệm vụ về TDTT cho mọi người, Chiến lược đặt ra yêu cầu chú trọng phát triển các môn thể thao dân tộc, trò chơi dân gian; bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với hoạt động thể dục, thể thao; quan tâm khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những địa bàn còn khó khăn.
Ðiểm đáng chú ý trong cách tiếp cận của Chiến lược là thể thao không còn được nhìn nhận đơn thuần như một lĩnh vực sự nghiệp tiêu dùng ngân sách, mà ngày càng được đặt trong mối liên hệ với chất lượng nguồn nhân lực, sức khỏe cộng đồng, kinh tế thể thao, khoa học công nghệ, chuyển đổi số, du lịch và hội nhập quốc tế.
Quyết định số 2486/QÐ-TTg ngày 14/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 càng làm rõ yêu cầu khai thác tài nguyên văn hóa thành sản phẩm và dịch vụ có sức cạnh tranh. Mặc dù thể thao chưa được cấu trúc như một ngành công nghiệp văn hóa độc lập, những giá trị về lễ hội, trình diễn, thiết kế, truyền thông, phim ảnh, trò chơi điện tử, quà lưu niệm và du lịch gắn với thể thao truyền thống có thể tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị này.
Ðặc biệt, tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành TDTT Việt Nam, ngày 28/3/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra những định hướng quan trọng đối với sự phát triển của ngành trong giai đoạn mới. Trong đó, Tổng Bí thư khẳng định Thể dục thể thao có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ con người, xây dựng đất nước cường thịnh, văn minh và phát triển bền vững. Tổng Bí thư nhấn mạnh: Thể dục thể thao muốn phát triển mạnh thì trước hết phải có thể chế tốt; thể chế phải đi trước, mở đường cho đổi mới, đầu tư, xã hội hóa, quản lý hiện đại, vận hành minh bạch và phát huy đầy đủ nguồn lực của Nhà nước, xã hội và người dân.
Thông điệp này có ý nghĩa trực tiếp đối với công tác bảo tồn, phát triển thể thao dân tộc. Nhiều năm qua, khó khăn của lĩnh vực này thường được giải thích bằng nguyên nhân thiếu kinh phí. Tuy nhiên, nhìn sâu hơn, điểm nghẽn còn nằm ở việc thiếu một cơ chế thống nhất để nhận diện, phân loại, kiểm kê và đầu tư; thiếu chính sách cho người nắm giữ tri thức; thiếu cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý TDTT với cơ quan văn hóa, giáo dục, du lịch và chính quyền địa phương; thiếu chuẩn mực để vừa bảo tồn tính nguyên gốc, vừa tổ chức thi đấu trong điều kiện hiện đại…
Có thể khẳng định Việt Nam không thiếu chủ trương về bảo tồn văn hóa dân tộc và phát triển thể thao quần chúng. Vấn đề nổi lên là tính kết nối, mức độ cụ thể và hiệu quả thực thi (xem bài Chính sách trong bảo tồn và phát triển thể thao dân tộc, thể thao truyền thống: Ðã đến lúc cần cách tiếp cận mới! - của tác giả Ngọc Minh trong số này). Thực tiễn đặt ra yêu cầu chuyển từ tư duy bảo tồn theo sự kiện sang bảo tồn trong đời sống.
Một môn thể thao dân tộc chỉ thực sự được bảo tồn khi còn người chơi, người dạy, người làm dụng cụ, không gian tập luyện, cộng đồng quan tâm và còn khả năng truyền lại cho thế hệ sau. Việc tổ chức một hội thi mỗi năm có thể góp phần quảng bá, nhưng chưa đủ để bảo đảm sức sống lâu dài.
“Bảo tồn sống” đòi hỏi xây dựng câu lạc bộ tại cộng đồng; hỗ trợ người truyền dạy; đưa nội dung phù hợp vào trường học; số hóa tư liệu; tổ chức hệ thống giải nhiều cấp; đồng thời kết nối với du lịch, truyền thông và các hoạt động kinh tế phù hợp.
Tuy nhiên, để các mô hình không phụ thuộc vào một vài cán bộ tâm huyết hoặc một giai đoạn ngân sách nhất định, cần đưa chúng vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch thể dục, thể thao và chương trình bảo tồn văn hóa của địa phương với mục tiêu, nguồn lực và trách nhiệm rõ ràng.
Ðịnh hướng quản lý trong giai đoạn mới
Từ các chủ trương, chính sách và yêu cầu thực tiễn, công tác quản lý nhà nước đối với thể thao dân tộc, thể thao truyền thống cần tập trung vào một số hướng lớn.
Trước hết là hoàn thiện khuôn khổ thể chế. Quá trình sửa đổi Luật Thể dục, thể thao cần nghiên cứu quy định rõ hơn về khái niệm, tiêu chí nhận diện, trách nhiệm bảo tồn, chính sách hỗ trợ và cơ chế huy động nguồn lực đối với thể thao dân tộc, thể thao truyền thống. Cùng với đó, cần xây dựng chương trình hoặc đề án quốc gia có tính liên ngành, kết nối thể thao với văn hóa, giáo dục, dân tộc, du lịch, khoa học công nghệ và truyền thông.
Thứ hai là tiến hành tổng kiểm kê và xây dựng cơ sở dữ liệu số. Mỗi môn cần được lập hồ sơ với thông tin về lịch sử, cộng đồng chủ thể, địa bàn thực hành, luật chơi, dụng cụ, giá trị văn hóa, mức độ phổ biến và nguy cơ mai một. Dữ liệu này phải trở thành căn cứ phân bổ ngân sách, lựa chọn môn ưu tiên và đánh giá hiệu quả đầu tư.
Thứ ba là bảo vệ và phát huy chủ thể cộng đồng. Mọi quá trình chuẩn hóa, thương mại hóa hoặc quảng bá đều phải có sự tham gia của cộng đồng đang thực hành môn thể thao đó. Cần có cơ chế ghi nhận, tôn vinh và hỗ trợ người nắm giữ tri thức; đồng thời bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi khi giá trị văn hóa của họ được khai thác thành sản phẩm du lịch hoặc thương mại.
Thứ tư là đưa thể thao truyền thống đến gần thế hệ trẻ. Bộ môn phù hợp có thể được tích hợp vào giáo dục thể chất, hoạt động trải nghiệm, ngày hội trường học và chương trình giáo dục địa phương. Ðây là con đường căn cơ nhất để bảo tồn lâu dài.
Thứ năm là hình thành hệ sinh thái sự kiện và thị trường. Những môn có đủ điều kiện cần được tổ chức giải thường niên, xây dựng thương hiệu, đổi mới cách truyền thông, phát sóng và sản xuất nội dung số. Việc phát triển thị trường phải đi cùng trách nhiệm bảo tồn, tránh sân khấu hóa quá mức hoặc biến đổi bản chất văn hóa chỉ để phục vụ du lịch.
Thứ sáu là tăng cường hợp tác quốc tế. Nhiều quốc gia châu Á đã phát triển thành công các môn thể thao truyền thống thành biểu tượng văn hóa và sản phẩm quốc gia. Việt Nam có thể trao đổi kinh nghiệm về xây dựng hồ sơ di sản, đào tạo, tổ chức giải, quảng bá quốc tế và phát triển du lịch thể thao; đồng thời nghiên cứu đưa một số môn có giá trị tiêu biểu tham gia các sự kiện, liên hoan và mạng lưới thể thao truyền thống khu vực.
Ðối với thể thao dân tộc, yêu cầu hiện nay là chuyển các định hướng đó thành những chính sách cụ thể, có nguồn lực, có người chịu trách nhiệm và có tiêu chí đánh giá. Bởi mỗi môn thể thao truyền thống mất đi không chỉ là mất một hình thức vui chơi hay thi đấu mà còn là sự mất mát của ký ức cộng đồng, tri thức bản địa và một phần căn cước văn hóa Việt Nam. Bảo tồn thể thao dân tộc vì thế không phải là giữ lại những gì thuộc về quá khứ. Ðó là gìn giữ một nguồn lực để xây dựng con người, cộng đồng và đất nước trong tương lai.
Bài, ảnh: HỮU BÌNH
Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống, số 3, tháng 8/2026