Hoạt động dịch thuật văn học Việt Nam của các nhà Việt học Mỹ
Đối với dịch giả Việt học người Mỹ có nhiều đóng góp trong việc dịch, xuất bản, giới thiệu, quảng bá văn học Việt Nam ở Mỹ có thể kể đến Wayne Karlin, Kevin Bowen, Bruce Weigl và PeterZinoman (Bùi Như Hải, 2023)… Các dịch giả hầu hết từng tham gia chiến tranh ở Việt Nam, nghiên cứu và giảng dạy tại các trường đại học và sớm tập hợp quanh Trung tâm William Joiner…
Dịch giả, biên tập viên, nhà văn Wayne Karlin (sinh 1945), một cựu thủy binh lục chiến Hoa Kỳ đã từng tham gia chiến tranh ở Việt Nam những năm 1966-1967, sớm biên tập và giới thiệu đến công chúng Mỹ tuyển tập truyện ngắn Free Fire Zone: Short Stories by Vietnam Veterans (Vùng bắn phá tự do: Những truyện ngắn của cựu chiến binh Việt Nam) (1973), cùng Lê Minh Khuê, Trương Vũ biên tập sách tập truyện ngắn The Other Side of Heaven: Post-War Fiction by Vietnamese and American Writers (Phía bên kia góc trời: Văn xuôi hư cấu hậu chiến của những nhà văn Việt Nam và Hoa Kỳ”) (1995) và được nhận Giải thưởng Paterson năm 1998… Từ sau đó, ông trở thành một biên tập viên chủ chốt cho series “Voices from Vietnam” (Những tiếng nói từ Việt Nam) của Nhà xuất bản Curbstone. Hằng năm, ông kết nối, giới thiệu, đề cử những tác phẩm văn chương Việt Nam hiện đại nổi trội cho đội ngũ dịch giả của Curbstone chuyển ngữ sang tiếng Anh và đã xuất bản được các tập sách chọn lọc nhưbộ tiểu thuyết The Stars, the Earth, the River (Những ngôi sao, trái đất, dòng sông) của Lê Minh Khuê (1997), tiểu thuyết Behind the red mist (Trong sương hồng hiện ra) của Hồ Anh Thái (1998); tiểu thuyết Against the Flood (Ngược dòng nước lũ) của Ma Văn Kháng (2000), tiểu thuyết Past Continuous (Thời gian của người) của Nguyễn Khải (2001), tuyển tập truyện ngắn đương đại Love after war (Tình yêu sau chiến tranh) của nhiều tác giả do Wayne Karlin, Hồ Anh Thái và Lê Minh Khuê biên soạn (2003), tập truyện The Cemetery of Chua Village and Other Stories (Nghĩa địa xóm Chùa) của Đoàn Lê (2005), tiểu thuyết An Insignificant Family (Gia đình bé mọn) của Dạ Ngân (2009), tiểu thuyết The Women on the Island (Những người đàn bà trên đảo) của Hồ Anh Thái (2010), tiểu thuyết Apocalypse Hotel (Cõi người rung chuông tận thế) của Hồ Anh Thái (2012), hồi ký In Whose Eyes (Chuyện nghề của Thủy) của đạo diễn Trần Văn Thủy (2016)… Tất cả các tác phẩm trên đều được công chúng Mỹ đón nhận và có những phản hồi rất tích cực. Từ danh mục các tác phẩm do Wayne Karlin tuyển chọn, biên tập, dịch thuật và giới thiệu trong series Voices from Vietnam, có thể nhận thấy đây không phải là một hoạt động dịch thuật mang tính ngẫu nhiên, mà phản ánh một định hướng học thuật và nghiên cứu văn hóa có ý thức. Trước hết, các tác phẩm được lựa chọn chủ yếu thuộc giai đoạn hậu chiến và thời kỳ Đổi mới, tiêu biểu như sáng tác của Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái, Ma Văn Kháng hay Nguyễn Khải. Đây là những cây bút có khả năng phản ánh sâu sắc đời sống xã hội Việt Nam trong quá trình chuyển đổi, đồng thời mang lại những trải nghiệm mang tính phổ quát về con người, ký ức và biến động lịch sử. Ở cấp độ sâu hơn, sự lựa chọn của Wayne Karlin có thể được hiểu như một hành vi “tái viết”. Tái viết trong lý thuyết dịch thuật của André Lefevere (2017), không chỉ chuyển tải văn bản mà còn tham gia định hình cách một nền văn học được tiếp nhận trong hệ thống văn học thế giới. André Lefevere, trong lời nói đầu cuốn sách viết về dịch thuật của mình đã đưa ra nhận định: “Việc viết lại/ tái viết có thể giới thiệu những khái niệm mới, thể loại mới, thủ pháp mới, và lịch sử dịch thuật cũng gắn liền với lịch sử đổi mới văn học, với sức mạnh định hình của nền văn hóa này lên nền văn hóa khác”. Việc ưu tiên dịch các tác phẩm văn học Việt Nam này cho thấy Karlin hướng tới việc xây dựng một hình ảnh Việt Nam không bị quy giản trong diễn ngôn chiến tranh, mà được tái hiện/ rewriting như một xã hội hậu chiến đa chiều, đang vận động và biến đổi.
Dịch giả Kevin Bowen (sinh 1947), từng tham chiến ở Việt Nam những năm 1968-1969. Trong những ngày đầu thành lập Trung tâm William Joiner, ông cùng David Hunt, Ngô Vĩnh Hải, Nguyễn Bá Chung dịch tiểu thuyết Thời xa vắng (A Time Far Past) của Lê Lựu (1997) tạo được tiếng vang lớn. Không chỉ dừng lại ở cấp độ chuyển ngữ văn bản mà nhóm dịch Thời xa vắng dường như đã phát triển việc dịch thuật này thành một dự án dịch thuật (translation project) mang tính hệ thống. Về vấn đề này, nhà nghiên cứu Antoine Berman cho rằng “mỗi dịch giả đều vận hành trong một dự án dịch thuật mỗi dịch giả sẽ phát triển dự án dịch thuật riêng của mình và dự án này không thể là khuôn khổ bắt buộc cho việc phân tích văn bản… Dựa trên dự án dịch thuật của nhà nghiên cứu, kết quả tổng quát cho thấy dịch giả đã thành công trong việc truyển tải nội dung và hình thức của bản gốc đến bản dịch, có tính đến các yếu tố văn hóa” (Seyed Mohammad Moghadas, 2014, tr.374). Việc Kevin Bowen cùng các cộng sự người Việt Nam dịch tiểu thuyết Thời xa vắng có thể xem như là một “dự án dịch thuật” quan trọng không? Đây là một trong những tác phẩm văn xuôi Đổi mới đầu tiên được chuyển ngữ và tiếp nhận rộng rãi trong môi trường học thuật Mỹ. Thành công của bản dịch này không chỉ nằm ở giá trị văn học nội tại của tác phẩm, mà còn ở việc nó mở ra khả năng tiếp nhận văn học Việt Nam như một diễn ngôn xã hội - lịch sử phức hợp, phản ánh những chuyển động nội tại của xã hội Việt Nam thời hậu chiến. Như một số nghiên cứu về dịch thuật văn học Việt Nam tại Mỹ đã chỉ ra, những bản dịch đầu tiên này đóng vai trò “thiết lập điểm tựa tiếp nhận” (receptional foundation) cho độc giả quốc tế đối với văn học Việt Nam đương đại. Như vậy có thể thấy, vai trò đặc biệt quan trọng của Giáo sư, nhà thơ, dịch giả Kevin Bowen trên tư cách Giám đốc Trung tâm William Joiner (nay là Viện William Joiner) trong việc tổ chức gặp gỡ các đoàn nhà văn Việt - Mỹ; tổ chức biên soạn, tuyển chọn, giới thiệu, dịch in hàng chục tác giả, tác phẩm văn học Việt Nam nổi tiếng sang tiếng Anh (kể cả song ngữ Anh - Việt) kể từ trung đại đến hiện đại và đương đại, văn xuôi, thơ ca và bình luận. Ghi nhận những đóng góp quan trọng của Kevin Bowen, Nhà xuất bản Tri Thức và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh đã trao Giải thưởng (2011) và được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị (2024)…
Giáo sư, nhà thơ, dịch giả Bruce Weigl sinh năm 1949 cũng từng tham chiến tại Việt Nam những năm 1967-1969, đã in ấn và công bố được hơn 20 cuốn sách thơ Việt bằng tiếng Anh. Trong đó, công trình thơ song ngữ đầu tiên được tuyển dịch và in chính là Poems from Captured Documents (Thơ từ những tài liệu bị bắt giữ) gồm những bài thơ của nhiều tác giả được bộ đội Việt Nam sáng tác và ghi chép lại (1994) do ông và Thanh Nguyễn phối hợp chuyển ngữ. Tiếp theo đã dịch và in tập thơ song ngữ The Secret of Hoa Sen (Bí mật hoa sen) (2014) của Nguyễn Phan Quế Mai, đã xuất bản tập thơ The beginning of Water (Sự bắt đầu của nước) của Trần Lê Khánh (2021) và đang chuẩn bị xuất bản tập The Sum of Now (Ngàn bài thơ khác) cũng của Trần Lê Khánh... Với những đóng góp xuất sắc trong hoạt động sáng tác và dịch văn học Việt Nam, Bruce Weigl đã được Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật” (2010) và được Nhà nước Việt Nam trao tặng Huân chương Hữu nghị (2024).
Nhà khoa học, Giáo sư Tiến sĩ Peter Zinoman sinh năm 1965, hiện giảng dạy tại Khoa Sử học của Trường Đại học Berkeley. Ông học, nghiên cứu về lịch sử Việt Nam từ năm 1987 và xuất bản các chuyên khảo The Colonial Bastille: A History of Imprisonment in Vietnam, 1862-1940 (Ngục Bastille thuộc địa: Lịch sử tù đày ở Việt Nam, 1862 - 1940) (2001) và chuyên khảo Vietnamese colonial republican: The political vision of Vu Trong Phung (Một người cộng hòa Việt Nam thời thuộc địa: Tầm nhìn chính trị của Vũ Trọng Phụng) (2014)… Đặc biệt, Peter Zinoman và vợ là Nguyễn Nguyệt Cầm đã góp công sưu tầm tản văn, ký, truyện ngắn và dịch in tiểu thuyết hoạt kê Dumb Luck (Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng năm 2002 được độc giả đánh giá cao. Với nền tảng nghiên cứu sâu về lịch sử Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn thuộc địa, Peter Zinoman đã tiếp cận để dịch và hiểu Số đỏ không đơn thuần như một văn bản văn học, mà như một “tư liệu văn hóa” phản ánh những mâu thuẫn hiện đại hóa, sự lai ghép văn hóa và những nghịch lý của xã hội đô thị Việt Nam đầu thế kỷ XX. Việc Peter Zinoman kết hợp với người vợ Nguyệt Cầm - một cộng sự am hiểu sâu sắc ngôn ngữ và văn hóa Việt - cũng phản ánh mô hình đồng dịch thuật giúp cân bằng giữa tính chính xác văn hóa và khả năng tiếp nhận của độc giả quốc tế. Ông đã được Nhà xuất bản Tri thức và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh trao Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh năm 2016.
Nhiều tác giả, tác phẩm văn học khác cũng được dịch in ở Mỹ như tập thơ song ngữ Distant road (Đường xa) của Nguyễn Duy (1989) do Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung dịch; tập thơ 6 Vietnamese poets (Sáu nhà thơ Việt Nam) gồm Ý Nhi, Nguyễn Khoa Điềm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Đức Mậu, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật (2002) do Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung dịch; tập phóng sự The Industry of Marrying European (Kỹ nghệ lấy Tây) của Vũ Trọng Phụng (2003) do Thúy Trần và Peter Zinoman dịch; tập truyện ngắn Crossing the River: Short fiction by Nguyen Huy Thiep (Sang sông: Tuyển truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp) (2003) do Nguyệt Cầm và Dana Sachs dịch; tập thơ The time tree (Cây thời gian) của Hữu Thỉnh (2003) do George Evans và Nguyễn Quý Đức dịch; tập thơ Green rice (Cốm non) của Lâm Thị Mỹ Dạ (2005) do Martha Collins và Đinh Từ Bích Thúy dịch, nhật ký Last night I dreamed of peace (Đêm qua tôi mơ thấy hòa bình) của Đặng Thùy Trâm (2007) do dịch giả Mỹ gốc Việt Andrew X. Pham dịch… (Hà Mạnh Quân, 2022, tr.8).
Thực tế ở Mỹ có số lượng Việt kiều lớn, người gốc Việt và đội ngũ dịch giả người Việt hùng hậu dịch văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại và đương đại sang tiếng Anh, trong đó có nhiều người thuần thục dịch cả hai chiều Việt - Anh và Anh - Việt. Có thể kể đến một số dịch giả tiêu biểu người Việt ở Mỹ như Huỳnh Sanh Thông (1926-2008), Nguyễn Bá Chung (1949), Hà Mạnh Quân (1979, Nguyễn Thị Thanh (Kim Thanh, Thanh Nguyễn), Nguyễn Nguyệt Cầm, Thúy Tranviet, Nguyen Do, Nguyễn Bình, Viet Thanh Nguyen (Bùi Như Hải, 2021)… Trong số này có nhiều vị công tác chặt chẽ với dịch giả Mỹ để dịch văn học Việt Nam sang tiếng Anh và in ở Mỹ với chất lượng cao. Thêm nữa, cần đặc biệt lưu ý rằng tất cả sáng tác văn học, nghiên cứu của người Việt và về Việt Nam ở Mỹ quốc cũng chính là một phần di sản quan trọng của hoạt động dịch thuật, quảng bá văn học Việt Nam và Việt Nam học trên đất Mỹ. Với thế mạnh của tiếng Anh và hợp tác, phát huy thế mạnh Việt kiều và người bản địa, hy vọng hoạt động dịch thuật, quảng bá văn học Việt Nam ở Mỹ sẽ có bước tiến vững chắc.
4. Kết luận
Dịch thuật văn học Việt Nam do các nhà Việt học Mỹ thực hiện không chỉ góp phần lan tỏa tác phẩm mà còn mở rộng không gian tri thức về con người, văn hóa và lịch sử Việt. Trong thời đại giao lưu, hội nhập và nâng cấp các mối quan hệ ngoại giao và các vùng địa - văn hóa thì nhiệm vụ dịch văn học Việt Nam ra nước ngoài ngày càng cần thiết. Trong đội ngũ các nhà Việt Nam học tham gia hoạt động dịch thuật có cả người bản xứ, Việt kiều và người gốc Việt (kể cả người Việt trực tiếp sáng tác bằng tiếng người bản xứ), cùng hợp tác, thúc đẩy sự nghiệp dịch thuật, quảng bá văn học lên tầm cao mới.
Hướng tới kỷ nguyên mới, người Việt Nam không chỉ tiếp nhận tinh hoa văn học thế giới mà còn phấn đấu cân bằng, phát triển ngành dịch thuật, quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới. So với các nền văn học trong khu vực Đông Á (Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc…), số lượng các tác gia, tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra nước ngoài còn rất khiêm tốn. Điều này cho thấy vai trò và gánh nặng đang đặt lên vai các nhà Việt học, nhất là khi chưa có chiến lược quốc gia về dịch văn học có hệ thống. Hướng tới phát triển ngành Việt Nam học và nhà Việt Nam học tham gia vào hoạt động dịch thuật, quảng bá văn học Việt Nam ra nước ngoài, Nhà nước cần sớm có chủ trương, chính sách, kế hoạch cụ thể: mở rộng hợp tác, xây dựng ngành Việt Nam học khu vực và quốc tế; tập trung đào tạo, bồi dưỡng các nhà Việt Nam học có năng lực dịch thuật tiếng Việt tầm cao; xác định nguồn kinh phí phù hợp cho hoạt động quảng bá, xuất bản sách dịch văn học Việt Nam ở nước ngoài (1).
_________________________
1. Bài viết là sản phẩm của nhiệm vụ khoa học cấp Bộ, mã số nhiệm vụ: KHXH/NV/2025-71.
Tài liệu tham khảo
1. André Lefevere. (2017). Translation, Rewriting, And The Manipulation Of Literary Fame (Dịch thuật, viết lại và sự tác động sự tác động của thị hiếu văn học). Routledge - Taylor & Francis Group - London and New York.
2. Bùi Như Hải. (2021, 12 tháng 2). Vấn đề dịch thuật và giới thiệu, quảng bá Văn học Việt Nam tại Hoa Kỳ. Tạp chí điện tử Văn hóa và Phát triển. https://vanhoavaphattrien.vn/van-de-dich-thuat-va-gioi-thieu-quang-ba-van-hocviet-nam-tai-hoa-ky-a9311.html
3. Bùi Như Hải. (2025, 12 tháng 2). Trung tâm William Joiner - Nhịp cầu nối giao lưu, quảng bá văn học Việt Nam tại Mỹ. Tạp chí Sông Hương. http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p0/c57/n31940/Trung-tam-William-Joiner-Nhip-cau-noi-giao-luu-quangba-van-hoc-Viet-Nam-tai-My.html.
4. Hà Mạnh Quân. (2022, 22 tháng 5). Tìm chỗ đứng cho văn học Việt Nam trên đất Mỹ. Báo Văn nghệ. Số 20.
5. Nguyễn Phương Thảo. (2025, 18 tháng 4). Quá trình hội nhập quốc tế và những tác động đối với nền văn học, nghệ thuật Việt Nam sau khi đất nước thống nhất và thực hiện công cuộc đổi mới, tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia “50 năm nền văn học, nghệ thuật Việt Nam sau ngày đất nước thống nhất (1975-2025) - Những vấn đề đặt ra và định hướng phát triển” do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức tại Hà Nội.
6. Seyed Mohammad Moghadas. (2014). Translation Criticism and Berman’s Translation Project (Phê bình dịch thuật và dự án dịch thuật của Berman). International Journal of English and Education. Vol. 3, Issue: 4, October.
Ngày Tòa soạn nhận bài: 3/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 13/5/2026; Ngày duyệt bài: 25/5/2026.
TS NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
Nguồn: Tạp chí VHNT số 645, tháng 6-2026