Biến đổi văn hóa dân gian các làng Mọc dưới tác động của đô thị hóa

Đô thị hóa không chỉ là quá trình tăng quy mô dân số và mở rộng diện tích đô thị mà còn bao gồm cả những thay đổi về phân bố dân cư, cơ cấu dân số, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và lối sống, văn hóa, tổ chức không gian môi trường sống (Lê Huỳnh, tr.16).

Đô thị hóa làm biến đổi không gian xã hội các làng Mọc

Không gian Kẻ Mọc hiện mang đặc trưng mô hình “phố trong làng, làng trong phố”, phản ánh quá trình đô thị hóa mạnh mẽ của khu vực Thanh Xuân. Quá trình này làm biến đổi cấu trúc làng truyền thống: có yếu tố được bảo lưu nhưng cũng nhiều yếu tố dần mất đi.

Đô thị hóa ở các làng Mọc bắt đầu từ những năm 60 của thế kỷ XX bằng việc xây dựng các khu tập thể Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Thượng Đình và các cụm công nghiệp liên khu Cơ khí - Cao - Xà - Lá thay thế cho các làng xã nông nghiệp. Sau khi quận Thanh Xuân được thành lập (1996) tốc độ đô thị hóa ở đây diễn ra mạnh hơn. Đất nông nghiệp được chuyển đổi thành đất ở, khu đô thị và dịch vụ; những ngôi nhà cao tầng dần thay thế cho những ngôi nhà ngói ba gian. Sự xuất hiện của các khu đô thị mới và hạ tầng giao thông hiện đại từng bước làm biến đổi diện mạo của các làng Mọc. Không gian truyền thống như đình, chùa, giếng làng bị thu hẹp; ruộng, đồng, ao hồ, vườn rau bên sông Tô được thay thế bằng các khu nhà chọc trời, đường bộ đô thị, đường sắt trên cao. Các làng Mọc xưa có không gian liền nhau, nay bị ngăn cách bởi các trục đường lớn, các khu đô thị hiện đại.

Đô thị hóa không chỉ làm thay đổi không gian mà còn làm thay đổi cấu trúc xã hội truyền thống. Sự gia tăng dân nhập cư, sinh viên và lao động tự do khiến mật độ dân số tăng cao, phá vỡ tính thuần nhất và khép kín của các làng Mọc. Quan hệ xã hội giữa cư dân cũ và cư dân mới vì thế cũng lỏng lẻo hơn.

Đô thị hóa làm biến đổi nghề nghiệp của cư dân các làng Mọc

Trước kia, cư dân Kẻ Mọc chủ yếu sống bằng nghề nông, kết hợp với thủ công, buôn bán nhỏ và một bộ phận làm việc trong bộ máy hành chính. Quá trình đô thị hóa khiến diện tích đất nông nghiệp dần thu hẹp dần rồi mất hẳn, kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ về cơ cấu nghề nghiệp và sinh kế của người dân. Hiện nay, sinh kế của cư dân các làng Mọc chuyển sang các hoạt động dịch vụ, thương mại và lao động tự do trong môi trường đô thị.

Khi mất tư liệu sản xuất truyền thống, người dân phải thích nghi bằng nhiều hình thức mưu sinh mới, như cho thuê nhà trọ, mở cửa hàng kinh doanh, buôn bán nhỏ, cung cấp các dịch vụ khác. Lực lượng lao động trẻ cũng phải cạnh tranh tìm kiếm cơ hội việc làm trong doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, chạy xe công nghệ...

Quá trình “lên phố” đã khiến nếp sống và cơ cấu nghề nghiệp của cư dân Kẻ Mọc ngày càng hòa nhập với nhịp sống đô thị hiện đại. Tuy nhiên, người dân nơi đây vẫn luôn nỗ lực gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa mang bản sắc của làng quê xưa.

Đô thị hóa làm biến đổi hệ thống di sản văn hóa dân gian các làng Mọc

Quá trình đô thị hóa đã tác động sâu sắc đến văn hóa dân gian các làng Mọc. Sự thu hẹp cấu trúc làng xã và chuyển dịch không gian sinh hoạt cộng đồng buộc các hoạt động văn hóa truyền thống cùng lối sống nông nghiệp phải thích ứng linh hoạt với bối cảnh đô thị hiện đại.

Mặc dù các di tích của năm làng Mọc đều là di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật, cách mạng, song tốc độ đô thị hóa nhanh chóng đã làm không gian di tích bị thu hẹp để xây dựng khu đô thị và chung cư, như trường hợp Văn chỉ, ao Nghè (Giáp Nhất); hay ao Dài (Quan Nhân) cũng “suýt” bị lấp nếu dân làng không kiên quyết giữ lại. Bảy cây cầu đá cổ bắc qua sông Tô cũng bị thay thế bằng cầu bê tông trong quá trình mở đường và kè sông.

Không gian, thời gian thực hành tín ngưỡng, lễ hội cũng có sự thay đổi. Các nghi thức tế lễ, rước kiệu trước đây gắn với không gian nông nghiệp nay chủ yếu diễn ra trong các thiết chế văn hóa đã được quy hoạch. Lễ hội năm làng Mọc xưa chỉ được tổ chức trong những năm được mùa, no đủ và kéo dài cả tháng thì nay được rút gọn từ mồng 9 đến 12 tháng Hai để phù hợp với nhịp sống đô thị, được định kỳ tổ chức 5 năm/ lần luân phiên giữa các làng nhờ điều kiện kinh tế ổn định hơn.

Ngược lại, truyền thống hiếu học của các dòng họ ở Kẻ Mọc vẫn được duy trì và phát triển, tiêu biểu như các dòng họ Nguyễn Đình, Đỗ Đình, Nguyễn Ấn, Nguyễn Hữu… ở các làng Quan Nhân, Giáp Nhất, Cự Chính. Hằng năm, vào mồng 7 tháng Giêng, dòng họ Nguyễn Đình tổ chức họp họ, biểu dương, khen thưởng con em có thành tích học tập tốt ở mọi cấp học.

Tục kết chạ và tinh thần tương thân tương ái giữa năm làng Mọc vẫn được duy trì. Tuy nhiên, tính gắn kết cộng đồng có phần lỏng lẻo hơn do sự gia tăng dân nhập cư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang thương mại, dịch vụ. Sự xuất hiện các khu đô thị mới và lối sống đô thị cũng tạo ra khoảng cách nhất định trong giao lưu, gắn kết giữa các cộng đồng cư dân trong làng (dân gốc và dân nhập cư).

Phiên chợ ngày 27 tháng Chạp vẫn được duy trì nhưng đã có sự thay đổi về bản chất. Trước đây chợ chủ yếu mua bán nông sản thì nay chợ Tết trở thành không gian gặp gỡ, giao lưu và trải nghiệm văn hóa truyền thống. Người dân đến chợ không chỉ để mua sắm mà còn để trò chuyện, thưởng thức những món quà quê, nghe hát xẩm, xin chữ ông đồ. Trẻ em được cha mẹ cho đi chợ để cảm nhận không khí Tết, trải nghiệm văn hóa chợ phiên nhằm bồi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức gìn giữ văn hóa truyền thống của cha ông.

Bảo tồn văn hóa dân gian Kẻ Mọc trước tác động của đô thị hóa

Cấu trúc “Làng trong phố” mang giá trị đặc sắc, tạo nên bản sắc riêng và sức hấp dẫn của Hà Nội/ Kẻ Mọc. Sự kết hợp hài hòa giữa không gian đặc thù, môi trường văn hóa và môi trường sống tạo nên mô hình đô thị hiện đại nhưng vẫn lưu giữ chiều sâu truyền thống. Trong đó, “làng” không chỉ là không gian cư trú mà còn là nơi bảo tồn các thiết chế xã hội, sinh kế, phong tục và đời sống văn hóa cộng đồng; còn “phố” là không gian phát triển của đô thị hiện đại. Hai yếu tố này tồn tại song hành và nâng đỡ nhau trong quá trình phát triển. Ngay trong cấu trúc đô thị vẫn hiện diện các làng truyền thống như những hạt nhân văn hóa duy trì và nuôi dưỡng bản sắc Hà Nội, tạo nên sự giao thoa, hài hòa giữa truyền thống và hiện đại.

Đô thị hóa là quy luật phát triển tất yếu, nhưng không vì thế mà làm mất đi, hoặc đánh đổi bằng mọi giá các giá trị truyền thống. Lịch sử đô thị Hà Nội là lịch sử phát triển từ làng lên phố và trong phố có làng (Phạm Thanh Tùng, 2015). Vậy làm thế nào để bảo tồn được giá trị văn hóa dân gian ở các làng cổ, làng ven đô của Hà Nội trong quá trình đô thị hóa và phát triển? Chúng ta chấp nhận sự thay đổi, chấp nhận cái mới để phù hợp với cuộc sống hiện đại nhưng phải giữ được các thành tố cơ bản cấu trúc nên làng Việt truyền thống. Đó là các di tích vật thể và các di sản văn hóa phi vật thể. Thực tế cho thấy, khi kinh tế khá lên, người trẻ bắt đầu quay lại với văn hóa truyền thống không chỉ để xem mà để cảm và để hiểu. Văn hóa Hà Nội được hình thành từ các làng cổ ven sông, rồi hội tụ, chắt lọc và phát triển trong môi trường đô thị. Vì vậy, nếu văn hóa làng mai một, văn hóa Hà Nội cũng sẽ mất đi một phần gốc rễ. Để giữ được “hồn cốt” đó, trong bối cảnh Hà Nội đẩy mạnh phát triển và hội nhập quốc tế, các cơ quan chức năng và cộng đồng cần chung tay thực hiện những giải pháp khoa học, hiệu quả sau đây:

Bảo tồn không gian văn hóa truyền thống gắn với quy hoạch đô thị. Đưa mục tiêu bảo tồn di sản vào quy hoạch phát triển đô thị nhằm hạn chế tình trạng xâm lấn không gian văn hóa truyền thống. Các đình, chùa, văn chỉ, ao làng, giếng cổ, chợ truyền thống cần được khoanh vùng bảo vệ. Phục hồi một số cảnh quan tiêu biểu đã bị mai một để duy trì đặc trưng không gian làng cổ trong lòng đô thị.

 Bảo tồn nguyên trạng các di tích lịch sử - văn hóa ở năm làng Mọc đã được xếp hạng, hạn chế sử dụng vật liệu hiện đại trong tu bổ di tích để tránh làm mất yếu tố nguyên gốc và giá trị mỹ thuật của di sản.

 Bảo tồn và phục hồi các thực hành văn hóa dân gian. Sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội truyền thống, tục kết chạ, trình diễn dân gian, xin chữ đầu Xuân cần được duy trì thường xuyên, định kỳ. Nghiên cứu phục dựng một số nghi lễ, trò chơi dân gian, diễn xướng cổ truyền đang bị mai một để đảm bảo tính liên tục của di sản.

 Ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn di sản: tiến hành số hóa tư liệu (thần tích, sắc phong, gia phả, kiến trúc, lễ hội) phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và lưu giữ lâu dài. Khai thác các nền tảng số, mạng xã hội để quảng bá di sản văn hóa làng Mọc đến cộng đồng.

 Phát huy vai trò của cộng đồng địa phương: khẳng định người dân các làng Mọc là chủ thể sáng tạo và bảo tồn di sản văn hóa. Tạo điều kiện cho người có uy tín, nghệ nhân dân gian tham gia vào việc truyền dạy phong tục, nghi lễ và tri thức dân gian cho thế hệ trẻ. Đồng thời, nâng cao ý thức và trách nhiệm của cư dân mới trong việc tôn trọng và gìn giữ văn hóa địa phương.

 Đẩy mạnh giáo dục và truyền dạy văn hóa dân gian Kẻ Mọc trong nhà trường và tại địa phương nhằm nâng cao nhận thức của người dân. Duy trì sinh hoạt câu lạc bộ văn hóa dân gian, tổ chức chương trình trải nghiệm lễ hội, giao lưu với nghệ nhân để tăng tính hấp dẫn đối với học sinh.

 Bảo tồn di sản kết hợp phát triển du lịch văn hóa. Văn hóa dân gian Kẻ Mọc rất phong phú và đặc sắc, phù hợp phát triển du lịch văn hóa, tâm linh. Xây dựng các tuyến tham quan gắn với chợ Tết, ẩm thực, di tích và lễ hội truyền thống. Khai thác văn hóa dân gian vào phát triển du lịch cần được quản lý hợp lý, tránh làm mất đi giá trị nguyên bản của di sản.

 Hoàn thiện cơ chế quản lý và hỗ trợ bảo tồn: chính quyền địa phương cần ban hành các chính sách hỗ trợ kinh phí bảo tồn di tích, đãi ngộ nghệ nhân và khuyến khích cộng đồng gìn giữ di sản. Tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý - nhà nghiên cứu - người dân để xây dựng chiến lược bảo tồn lâu dài, phù hợp với bối cảnh đô thị hóa.

4. Kết luận

Kẻ Mọc là một vùng đất cổ, nơi còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa dân gian đặc sắc, mang đặc trưng tiêu biểu của làng ven đô Hà Nội. Quá trình đô thị hóa những năm gần đây đã “biến làng thành phố, biến xã thành phường”, làm biến đổi sâu sắc đến không gian văn hóa, cấu trúc cộng đồng và các các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống tại các làng Mọc. Nhiều thành tố văn hóa vật thể và phi vật thể (ao làng, giếng cổ, lễ hội, tục kết chạ, diễn xướng dân gian) đã phải dịch chuyển để thích ứng với môi trường đô thị hiện đại. Tuy nhiên, sức sống bền bỉ của văn hóa Kẻ Mọc vẫn được khẳng định khi nhiều giá trị cốt lõi tiếp tục được cộng đồng gìn giữ và phát huy trong đời sống đương đại.

Thực tiễn nghiên cứu cho thấy, văn hóa dân gian không phải là thực thể bất biến mà luôn vận động, thích nghi với sự phát triển xã hội. Mô hình “làng trong phố” tại các làng Mọc là minh chứng cho sự giao thoa hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa làng xã và lối sống đô thị. Vì vậy, bảo tồn văn hóa dân gian trong bối cảnh đô thị hóa cần được thực hiện theo hướng bảo tồn động, gắn với phát triển bền vững và đặt cộng đồng địa phương vào vị trí chủ thể. Việc này không chỉ bảo vệ bản sắc riêng của Kẻ Mọc mà còn góp phần gìn giữ chiều sâu văn hóa Thủ đô trong tiến trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

_______________________________

1. Bầu đậu là người cao tuổi, am hiểu nghi lễ, điều hành lễ hội do dân tín nhiệm bầu lên.

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Xuân Ðính. (2004, 22 tháng 4). Làng Quan Nhân. Báo Hà Nội mới https://hanoimoi.vn/lang-quan-nhan-31978.html

2. Bùi Xuân Ðính. (2004, 10 tháng 4). Làng Chính Kinh. Báo Hà Nội mới. https://hanoimoi.vn/lang-chinh-kinh-31410.html

3. Bùi Xuân Ðính. (2006, 10 tháng 10). Làng Phùng Khoang. Báo Hà Nội mới. https://hanoimoi.vn/lang-phung-khoang-109987.html

4. Cục Di sản văn hóa. (2021). Hồ sơ quốc gia Di sản văn hóa phi vật thể: Lễ hội năm làng Mọc.

5. Lê Huỳnh (chủ biên). Chuyên đề học tập Địa lý lớp 10. Nhà xuất bản Giáo dục.

6. Ngô Đức Thịnh. (2007, 26 tháng 2). Văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc. Tạp chí Cộng sản. https://www.tapchicongsan.org.vn/nghien-cu/-/2018/2441/van-hoa-dan-gian-va-van-hoa-dan-toc.aspx.

7. Ngô Trung Hải. (2017). Cấu trúc không gian đô thị thích ứng trong quá tình chuyển hóa không gian đô thị ở Việt Nam (lấy Hà Nội làm ví dụ nghiên cứu). Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Kiến trúc. Viện Kiến trúc quốc gia.

8. Nguyễn Thị Thanh Hòa. (2025). Giáo dục di sản các làng Mọc ven sông Tô: Tiềm năng và giải pháp. Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Giáo dục Hà Nội học qua tiểu vùng vãn hóa Thãng Long - Hà Nội”. Nhà xuất bản Hà Nội.

9. Nguyễn Thừa Hỷ. (2018). Văn hóa đô thị Hà Nội: Từ truyền thống đến hiện đại. Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.

10. Nguyễn Thị Phương Châm, Ðỗ Lan Phương. (2016). Làng ven đô và sự biến đổi văn hóa - Trường hợp làng Xuân Ðỉnh, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

11. Phạm Thanh Tùng. (2015). Làng trong phố. Tạp chí Kiến trúc. Số 12/2015.

12. Phòng Văn hóa - Xã hội phường Thanh Xuân. (2025, ngày 24 tháng 10). Đình Cự Chính - Nơi hội tụ tinh hoa văn hóa và lịch sử thăng trầm của mảnh đất Kẻ Mọc. Trang thông tin điện tử phường Thanh Xuân - thành phố Hà Nội. https://thanhxuan.hanoi.gov.vn/di-tich-lich-su-va-van-hoa/dinh-cu-chinh-noi-hoi-tu-tinh-hoa-van-hoa-va-lich-su-thang-tram-cua-manh-dat-ke-moc-2690251024095625932.htm

13. Sơn Dương. (2023, 10 tháng 4). Đình chùa Giáp Nhất (quận Thanh Xuân). Tạp chí Người Hà Nội online. https://nguoihanoi.vn/dinh-chua-giap-nhat-quan-thanh-xuan-68997.html

14. Sơn Dương. (2023, 6 tháng 5). Đình, chùa Phùng Khoang (Quận Nam Từ Liêm). Tạp chí Người Hà Nội online. https://nguoihanoi.vn/dinh-chua-phung-khoang-quan-nam-tu-liem-71687.html

15. Xuân Xuân. (2023, 25 tháng 2). Di tích Quốc gia: đình Giáp Nhất. Sở Văn hóa, Thể thao thành phố Hà Nội. https://sovhtt.hanoi.gov.vn/di-tich-quoc-gia-dinh-giap-nhat

Ngày Tòa soạn nhận bài: 30/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 8/6/2026; Ngày duyệt đăng: 18/6/2026.

Ths TRẦN XUÂN ĐẠT

Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7/2026