Hiện tượng chồng chéo nội dung giữa các thuật ngữ, khái niệm

Một số thuật ngữ, khái niệm không được đề cập và giải thích trong Luật Di sản văn hóa, nhưng được trình bày trong các văn bản, nguồn tài liệu khác. Dưới đây, bài viết phân tích hai khái niệm “bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể” và “bảo tồn di tích”, chứng minh sự bất cập và chồng chéo về nội dung của các khái niệm.

Theo Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: “Bảo vệ là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này” (UNESCO, 2003). Quan điểm “bảo vệ” theo Công ước (2003) thể hiện rõ những bất cập, mâu thuẫn không phân biệt được ranh giới các hoạt động bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, cụ thể như sau: khái niệm “bảo vệ” được liệt kê bao gồm hàng loạt hoạt động như: nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao… khiến nội dung “bảo vệ” bị dàn trải bao trùm gần như toàn bộ hoạt động quản lý di sản phi vật thể. Đồng thời có sự chồng chéo và thiếu chặt chẽ về mặt logic học thuật. Việc dùng “bảo vệ” để giải thích cho chính “bảo vệ” tạo nên lỗi định nghĩa lặp lại, làm khái niệm thiếu tính khái quát. Nội dung chồng chéo giữa “bảo vệ”, “bảo tồn” và “phát huy”, trong khi đây là những hoạt động có mục tiêu và chức năng khác nhau. Ngoài ra, cách liệt kê quá nhiều biện pháp như nghiên cứu, giáo dục, chuyển giao, phục hồi khiến trọng tâm khái niệm bị dàn trải, khó xác định bản chất cốt lõi của hoạt động bảo vệ. Khái niệm cũng chưa nhấn mạnh đầy đủ vai trò của cộng đồng chủ thể sáng tạo truyền dạy, duy trì di sản văn hóa phi vật thể.

 Trong TCVN 10382: 2024 đưa ra khái niệm “bảo tồn di tích”: “là hoạt động nghiên cứu, quản lý, bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục hồi nhằm bảo đảm tính toàn vẹn, tính xác thực và sự tồn tại lâu dài, ổn định của di tích” (Tiêu chuẩn quốc gia, 2024, tr.10). Như vậy, việc đặt “nghiên cứu” và “quản lý” ngang hàng với các biện pháp kỹ thuật bảo tồn làm cho cấu trúc khái niệm thiếu tính hệ thống. “Nghiên cứu” và “quản lý” là các hoạt động mang tính nền tảng, định hướng và điều phối, trong khi “bảo vệ”, “bảo quản”, “tu bổ”, “phục hồi” chủ yếu là các biện pháp kỹ thuật tác động trực tiếp lên di tích. Khi xếp cùng một cấp độ trong khái niệm, các yếu tố có tính chất khác nhau bị đặt ngang hàng, dẫn đến sự chồng chéo chức năng của các hoạt động, ảnh hưởng làm suy giảm hiệu quả bảo tồn bền vững di sản văn hóa.

Qua phân tích hai khái niệm trên cho thấy sự chồng chéo nội hàm các khái niệm và nội dung hoạt động. Bảo tồn di tích bao gồm các hoạt động nghiên cứu, quản lý, bảo vệ, bảo quản, tu bổ, phục hồi…; khái niệm “bảo vệ” bao gồm các hoạt động như: nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao… như vậy, trong “bảo vệ” có “bảo tồn” và trong “bảo tồn” lại có “bảo vệ”… sự chồng chéo, bất cập này gây không ít khó khăn, thậm chí hiểu sai lệch trong việc phân định chức năng, nội dung các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực di sản văn hóa. Do đó đòi hỏi phải có hệ thống khái niệm logic, khoa học, tường minh về nội hàm và có tính nhận diện khắc phục tình trạng bất cập trên.

Đề xuất và nhận diện một số khái niệm cơ bản

Các hoạt động như quản lý, bảo vệ, bảo tồn di sản văn hóa suy đến cùng đều nhằm mục đích giữ gìn và phát huy hiệu quả nhất giá trị di sản văn hóa, nội dung các hoạt động có sự giao thoa, đan xen ở mức độ nhất định. Vì vậy, không có sự phân định rõ ràng, chính xác tuyệt đối các hoạt động này, nhưng cần thiết phải có sự phân định đủ để nhận diện được nội hàm các khái niệm, nhằm đảm bảo tính hệ thống, logic, khoa học, tránh sử dụng chồng chéo nội hàm các khái niệm như phân tích trên. Dưới đây là một số khái niệm cơ bản được đề xuất, phân định và nhận diện nội hàm, nội dung các hoạt động.

Di sản văn hóa

Theo Điều 1 Luật Di sản văn hóa 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009): “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Theo quan điểm này di sản văn hóa không có giá trị thẩm mỹ, không bao hàm được giá trị thẩm mỹ của di sản văn hóa vật thể như quy định trong luật hiện hành. Trong khi Luật Di sản văn hóa năm 2024, chưa đưa ra khái niệm di sản văn hóa rõ ràng như phân tích trên. Vì vậy, bài viết này đề xuất khái niệm di sản văn hóa như sau: “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, do con người sáng tạo trong tiến trình lịch sử, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. So với khái niệm trong Luật Di sản văn hóa năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), khái niệm này bổ sung thêm giá trị thẩm mỹ, làm rõ chủ thể sáng tạo, bao quát được các giá trị của di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, có tính phổ biến trong tiếp cận di sản văn hóa không chỉ ở Việt Nam và của Việt Nam, mà bàn về di sản văn hóa nói chung do con người sáng tạo trong tiến trình lịch sử. Bên cạnh đó, tiếp cận từ góc nhìn Luật Di sản văn hóa, đề xuất khái niệm như sau: “Di sản văn hóa là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ, do con người sáng tạo trong tiến trình lịch sử, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Với cách tiếp cận này xác định di sản văn hóa được lưu truyền qua các thế hệ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thay từ “ở” bằng từ “của” giúp phạm vi mở rộng hơn, đó là lưu truyền qua các thế hệ của Việt Nam ở cả trong nước và ngoài nước, chứ không chỉ ở trong nước. Căn cứ hình thái tồn tại và đặc điểm của di sản có thể phân chia thành hai loại hình là di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể.

Quản lý di sản văn hóa

Hiện nay có nhiều quan điểm về quản lý di sản, nhưng về cơ bản có thể hiểu khái niệm quản lý di sản như sau: “Quản lý di sản văn hóa là quá trình tổ chức, điều hành, phối hợp và giám sát của các chủ thể quản lý (Nhà nước, cộng đồng, các tổ chức xã hội...) trong lĩnh vực di sản văn hóa thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, cơ sở khoa học và huy động nguồn lực xã hội, nhằm bảo vệ, bảo tồn, khai thác hợp lý và phát huy giá trị di sản văn hóa, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế”. Khái niệm này được hiểu theo nghĩa rộng, quản lý theo mô hình đa chủ thể có sự phối hợp trong các hoạt động quản lý. Nội dung các hoạt động quản lý cơ bản bao gồm: “Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa; Ban hành và thực thi pháp luật, chính sách về di sản văn hóa; Tổ chức các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản; Huy động nguồn lực bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến trong việc bảo vệ , bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa; Hợp tác quốc tế trong quản lý di sản; Thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý di sản văn hóa”.

Bảo vệ di sản văn hóa

Trong TCVN 10382: 2024 có nêu khái niệm “Bảo vệ di sản văn hóa là hoạt động thiết lập các biện pháp quản lý và nguyên tắc khoa học nhằm ngăn ngừa nguy cơ huỷ hoại di sản văn hóa do tác động của tự nhiên, con người và xã hội” (Tiêu chuẩn quốc gia, 2024, tr.5). Việc sử dụng cụm từ “thiết lập các biện pháp quản lý và nguyên tắc khoa học” khiến người đọc sẽ hiểu khái niệm thiên về khâu xây dựng cơ chế hơn là các hoạt động thực tiễn bảo vệ di sản văn hóa. Trong khi đó, bảo vệ di sản văn hóa không chỉ dừng ở việc thiết lập mà còn bao gồm thực hiện, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. Vì vậy, để làm rõ hơn hoạt động bảo vệ gắn với thực tiễn, không chỉ dừng ở mức thiết lập các biện pháp quản lý, bài viết đề xuất khái niệm: “Bảo vệ di sản văn hóa là hoạt động nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các nguy cơ tác động tiêu cực từ tự nhiên, con người và xã hội đối với di sản văn hóa, bảo đảm di sản không bị hư hại, biến dạng, mai một hoặc mất giá trị”.

Bảo vệ di sản văn hóa là một bộ phận quan trọng trong hệ thống quản lý di sản văn hóa, mang tính chất phòng ngừa và bảo đảm an toàn cho sự tồn tại của di sản văn hóa trước các nguy cơ làm mai một, hủy hoại, biến dạng di sản. Do đó, bảo vệ không đồng nhất với bảo tồn. Bảo vệ thiên về phòng ngừa và kiểm soát nguy cơ xâm hại di sản, trong khi bảo tồn hướng tới duy trì sự tồn tại bền vững của di sản. Nội dung hoạt động bảo vệ di sản văn hóa cơ bản bao gồm:

Một là, hoạt động bảo vệ di sản văn hóa vật thể

Kiểm kê di sản văn hóa: hoạt động nhận diện, đánh giá hiện trạng, nguy cơ hủy hoại, xác lập cơ sở pháp lý và lập danh mục, hồ sơ khoa học di sản văn hóa.

Phòng ngừa, ngăn chặn hành vi xâm hại di sản văn hóa: chống lấn chiếm đất di tích; ngăn phá dỡ, xây dựng trái phép; chống trộm cắp, buôn bán, di vật, cổ vật trái phép; kiểm soát khai thác tài nguyên làm ảnh hưởng di tích; xử lý vi phạm pháp luật về di sản.

Bảo vệ hiện trạng của di sản: thực hiện các biện pháp bảo vệ cảnh quan văn hóa; tránh tác động làm biến dạng di tích; kiểm tra, giám sát hoạt động tu sửa, tu bổ, tôn tạo không đúng quy định.

Bảo vệ an toàn vật chất cho di sản văn hóa: phòng cháy chữa cháy; chống xuống cấp; chống mối mọt, ẩm mốc; bảo vệ hiện vật trong bảo tàng; kiểm soát môi trường bảo quản.

Hai là, hoạt động bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể

Kiểm kê di sản văn hóa: hoạt động nhận diện di sản, xác định giá trị, đánh giá hiện trạng, nguy cơ mai một, lập danh mục, hồ sơ khoa học di sản văn hóa.

Bảo vệ chủ thể di sản văn hóa: tôn trọng cộng đồng; bảo vệ quyền lợi nghệ nhân; hỗ trợ người thực hành di sản; khuyến khích cộng đồng duy trì sinh hoạt văn hóa truyền thống.

Ngăn chặn nguy cơ mai một và biến dạng di sản văn hóa: chống thất truyền nghề truyền thống; ngăn chặn thương mại hóa; hạn chế sân khấu hóa làm sai lệch giá trị; bảo vệ bản sắc văn hóa truyền thống.

Bảo vệ môi trường tồn tại của di sản văn hóa: giữ gìn không gian văn hóa; bảo vệ môi trường diễn xướng - trình diễn; duy trì môi trường sinh hoạt cộng đồng; gắn bảo vệ di sản với đời sống xã hội của cộng đồng.

Ba là, bảo tồn di sản văn hóa

Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động mang tính chuyên môn sâu, nhằm duy trì sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa, khác với bảo vệ mang tính phòng ngừa, ngăn chặn, thì bảo tồn nhấn mạnh cả việc duy trì trạng thái hiện hữu và phục hồi những di sản đã bị suy giảm hoặc mai một. Trong Điều 3, Luật Di sản văn hóa năm 2024, có giải thích: “Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại lâu dài, ổn định của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có của di sản văn hóa”. Tuy nhiên, để nhận diện rõ hơn khái niệm “bảo tồn “ và “bảo vệ” di sản văn hóa, có thể hiểu: “Bảo tồn di sản văn hóa là hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi, truyền dạy, tư liệu hóa di sản văn hóa, nhằm đảm bảo tính xác thực, tính toàn vẹn và sự tồn tại bền vững của di sản văn hóa trong đời sống xã hội”. Các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, bên cạnh những yếu tố tương đồng cũng có những điểm khác biệt nhất định.

Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa vật thể gồm: bảo quản di sản; tu bổ di sản; phục hồi di sản; tư liệu hóa di sản.

Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể gồm: duy trì thực hành và truyền dạy; chính sách đối với nghệ nhân và cộng đồng chủ thể di sản; bảo vệ môi trường văn hóa, không gian thực hành di sản; phục hồi di sản; tư liệu hóa di sản.

4. Kết luận

Bài viết đã hệ thống hóa và làm rõ những khoảng trống lý luận cũng như sự chồng chéo trong cách hiểu các thuật ngữ chuyên ngành lĩnh vực di sản văn hóa hiện nay. Qua nghiên cứu cho thấy một số khái niệm như quản lý, bảo vệ, bảo tồn di sản văn hóa vẫn còn tồn tại sự giao thoa, chồng lấn hoặc chưa được phân định rõ về nội hàm và phạm vi áp dụng. Các khái niệm tồn tại trong mối quan hệ bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau, cùng hướng đến mục tiêu chung là gìn giữ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Việc đề xuất phân loại chỉ nhằm mục đích nhận diện tương đối chức năng và trọng tâm của từng khái niệm, chứ không thể tạo ra những ranh giới tuyệt đối, cố định. Do đó, việc hệ thống hóa và nhận diện được nội hàm các khái niệm cốt lõi trong lĩnh vực di sản văn hóa không chỉ là nền tảng vững chắc cho công tác nghiên cứu, mà còn góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam trong thực tiễn bối cảnh hội nhập và phát triển bền vững hiện nay.

____________________

Tài liệu tham khảo

1. Quốc hội. (2001). Luật Di sản văn hóa. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

2. Quốc hội. (2024). Luật Di sản văn hóa. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

3. Tiêu chuẩn quốc gia (2024), TCVN 10382:2024 - Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữ và định nghĩa chung.

4. UNESCO. (1972). Convention Concerning the Protection of the World Cultural and Natural Heritage (Công ước về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới). Paris.

5. UNESCO. (2003). Convention for the Safeguarding of the Intangible Cultural Heritage (Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể). Paris.

Ngày Tòa soạn nhận bài: 1/6/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 15/6/2026; Ngày duyệt đăng: 28/6/2026.

PGS, TS, NGUYỄN SỸ TOẢN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7/2026