Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương - Ảnh: nhandan.vn
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu dự Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương - Ảnh: nhandan.vn

Ý nghĩa của chỉ đạo ấy cần được đặt vào bối cảnh nhiều biến đổi đồng thời. Công nghệ số làm thay đổi hình thức tồn tại của tác phẩm; nền tảng phân phối làm thay đổi quan hệ giữa người sáng tạo với công chúng; trí tuệ nhân tạo làm xuất hiện câu hỏi mới về tác giả, tính nguyên gốc và lao động nghệ thuật; thị trường văn hóa mở rộng đồng thời tạo ra sức ép thương mại hóa; sự giao thoa giữa nghệ thuật và các ngành công nghiệp sáng tạo khiến ranh giới truyền thống giữa cái hàn lâm và cái đại chúng trở nên linh hoạt. Tình hình đó đòi hỏi lý luận không chỉ giải thích những thành tựu đã được thừa nhận mà còn có khả năng nhận diện giá trị mới, thảo luận những vấn đề chưa có sự đồng thuận và dự báo hệ quả lâu dài của thay đổi công nghệ đối với đời sống tinh thần.

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam khẳng định yêu cầu văn hóa đi trước soi đường, thấm vào từng quyết sách phát triển, đồng thời chỉ rõ tác động của công nghệ và cạnh tranh giá trị trong môi trường toàn cầu đối với hệ giá trị, chuẩn mực ứng xử và môi trường văn hóa.[2] Tại hội nghị quán triệt Nghị quyết số 79 và Nghị quyết số 80 ngày 25/02/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục đặt vấn đề triển khai các nghị quyết như một nhiệm vụ chuyển hóa nhận thức thành hành động phát triển.[3] Đặt các định hướng ấy cạnh bài phát biểu ngày 29/10/2026, có thể thấy yêu cầu đổi mới lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật không tách rời đổi mới tư duy lãnh đạo, hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng phát triển văn hóa.

1. Nhận diện những biến đổi của đời sống nghệ thuật và yêu cầu đổi mới tư duy lý luận
Lý luận văn học, nghệ thuật trước hết là hoạt động xây dựng khái niệm, phạm trù và phương pháp nhằm nhận diện bản chất, quy luật, giá trị và những điều kiện xã hội của quá trình sáng tạo, tiếp nhận tác phẩm. Phê bình văn học, nghệ thuật là sự vận dụng tri thức, kinh nghiệm thẩm mỹ và phương pháp phân tích để diễn giải, đối thoại và đánh giá những hiện tượng cụ thể. Hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ nhưng không đồng nhất: lý luận tạo cơ sở cho cách nhìn và công cụ phân tích, còn phê bình thử thách các khái niệm ấy trong sự phong phú của thực tiễn. Khi văn học, nghệ thuật biến đổi nhanh, khoảng cách giữa lý luận và phê bình, giữa nghiên cứu và sáng tác có thể ngày càng lớn nếu thiếu cơ chế trao đổi thường xuyên.

Ở nhiều giai đoạn, nghiên cứu nghệ thuật thường thiên về việc xác định đặc điểm của tác phẩm, chủ đề, hình tượng, phong cách, thể loại và giá trị tư tưởng, thẩm mỹ. Những cách tiếp cận ấy vẫn cần thiết, bởi không thể đánh giá nghệ thuật nếu bỏ qua hình thức biểu đạt và khả năng tác động đến cảm xúc, nhận thức của công chúng. Tuy nhiên, tác phẩm trong môi trường số không chỉ tồn tại như một văn bản hay một vật thể hoàn chỉnh. Nó có thể được phân mảnh thành các đoạn video, bản phối lại, ảnh động, phiên bản tương tác; được chia sẻ và bình luận liên tục; được thuật toán đề xuất tới những nhóm công chúng khác nhau. Vòng đời tác phẩm vì thế gắn với những quá trình xã hội – công nghệ mà lý luận truyền thống chưa luôn dành sự quan tâm tương xứng.

Từ góc độ xã hội học nghệ thuật, Pierre Bourdieu trong The Field of Cultural Production: Essays on Art and Literature ( Lĩnh vực sản xuất văn hóa: Các tiểu luận về nghệ thuật và văn học) đã phân tích tác phẩm trong mối quan hệ với trường sản xuất văn hóa, những chủ thể, thiết chế và tương quan quyền lực tham gia xác lập giá trị nghệ thuật.[4] Cách tiếp cận này gợi ý rằng việc nghiên cứu một tác phẩm không thể chỉ nhìn vào nội dung hoặc tài năng cá nhân tác giả, mà cần xem xét cả điều kiện sản xuất, cơ chế phân phối, sự thừa nhận của giới chuyên môn, thị trường và hệ thống trung gian. Đối với Việt Nam, điều đó đặc biệt hữu ích trong phân tích sự phát triển của điện ảnh, âm nhạc đại chúng, xuất bản số, nghệ thuật biểu diễn và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới.

Henry Jenkins, trong Convergence Culture: Where Old and New Media Collide (Văn hóa hội tụ: Sự giao thoa giữa truyền thông cũ và mới) , nêu bật sự hội tụ truyền thông và sự nổi lên của văn hóa tham gia, nơi ranh giới giữa nhà sản xuất nội dung và người tiêu dùng trở nên linh hoạt hơn.[5] Ông phân tích sự dịch chuyển từ vị thế công chúng chỉ tiếp nhận sang vị thế công chúng có thể tương tác, chia sẻ, tham gia kiến tạo và lan tỏa ý nghĩa.[6] Điều này giúp lý giải vì sao một sản phẩm âm nhạc hiện nay có thể trở thành hiện tượng xã hội không chỉ qua giai điệu hoặc lời ca mà còn qua các bản biểu diễn lại, video phản hồi, bình luận cộng đồng và sự liên kết giữa nội dung với ký ức văn hóa địa phương. Nếu chỉ đo hiệu quả bằng lượt xem hoặc chỉ đánh giá theo khuôn mẫu thể loại cũ, nghiên cứu sẽ bỏ qua nhiều tầng ý nghĩa của quá trình tiếp nhận.

Trường hợp MV Bắc Bling phát hành tháng 3/2025 là một ví dụ đáng phân tích. Sản phẩm kết hợp chất liệu văn hóa Kinh Bắc, không gian di sản, nhân vật nghệ thuật dân gian với nhịp điệu và hình thức thể hiện đương đại; đồng thời tạo ra hiệu ứng lan tỏa mạnh trên nền tảng số.[7] Điều đáng quan tâm về lý luận không chỉ là sản phẩm thành công trong quảng bá địa phương, mà còn là cách thức ký ức cộng đồng, biểu tượng di sản và ngôn ngữ văn hóa đại chúng được tái cấu trúc trong cùng một hình thức thẩm mỹ. Việc đánh giá cần đồng thời trả lời: các thành tố truyền thống được chuyển hóa đến mức nào; sáng tạo mới có bảo toàn ý nghĩa cốt lõi của di sản không; công chúng tham gia diễn giải ra sao; và lợi ích kinh tế – xã hội được phân phối thế nào giữa nghệ sĩ, cộng đồng và các chủ thể liên quan.

Phản ứng trước Bắc Bling cũng cho thấy phê bình cần vượt ra ngoài cách đối lập giản đơn giữa truyền thống và hiện đại. Không thể mặc nhiên xem mọi sự kết hợp chất liệu dân gian với nhạc điện tử là làm mới thành công, cũng không thể chỉ vì sử dụng kỹ thuật biểu đạt mới mà kết luận sản phẩm làm phai nhạt bản sắc. Vấn đề nằm ở trình độ xử lý ngôn ngữ nghệ thuật, sự hiểu biết văn hóa gốc, tính sáng tạo và năng lực tạo ra đối thoại có chiều sâu với công chúng. Những tư liệu về quá trình thực hiện, cách lựa chọn hình ảnh, âm nhạc, biểu tượng, cũng như các tranh luận xung quanh sản phẩm là nguồn dữ liệu cần được lưu giữ cho nghiên cứu lâu dài.[8]

Trường hợp này đồng thời nhắc nhở rằng phê bình cần vượt qua cả hai thái cực: đồng nhất việc sử dụng biểu tượng dân tộc với thành công nghệ thuật, hoặc phủ nhận mọi thử nghiệm vì khác lạ với hình thức truyền thống. Những tranh luận liên quan đến cách diễn giải biểu tượng, tính nguyên gốc của ý tưởng thị giác và quyền đối với tác phẩm mỹ thuật được sử dụng trong sản phẩm cần được phân tích bằng chứng cứ, trong sự phân biệt giữa nhận xét thẩm mỹ, chuẩn mực nghề nghiệp và kết luận pháp lý. Từ một hiện tượng cụ thể, lý luận có thể đặt ra những câu hỏi rộng hơn: khi nào sự tái tạo chất liệu di sản thực sự tạo nên giá trị mới; công chúng tham gia kiến tạo ý nghĩa đến đâu; và cơ chế nào bảo đảm sự tôn trọng đối với chủ thể văn hóa, tác giả cùng các bên nắm giữ quyền? Chính sự kết hợp giữa năng lực thưởng thức cái mới và trách nhiệm kiểm chứng đó làm nên chiều sâu của phê bình trong kỷ nguyên số.[9].

Một trường hợp khác cho thấy rõ hơn sự vận động của các hình thức biểu đạt và nhu cầu đổi mới công cụ phê bình là MV Come My Way (Đến bên anh) của Sơn Tùng M-TP, ra mắt ngày 28/5/2026 với sự tham gia của rapper Tyga. Trên nền pop, hip-hop và Afrobeats mang tính quốc tế, sản phẩm đưa hình tượng chim Lạc vào không gian đô thị Los Angeles, đồng thời sử dụng chất liệu từ mặt nạ Xuân Phả, di sản Tràng An và mỹ thuật Việt Nam. Ở đây, di sản không xuất hiện đơn thuần như tư liệu minh họa, mà được tổ chức lại thành ngôn ngữ biểu tượng và trải nghiệm thị giác của văn hóa đại chúng. Điều đáng nghiên cứu không chỉ là mức độ lan tỏa của một MV, mà là cách một nghệ sĩ và ê-kíp sáng tạo thương lượng giữa ký ức văn hóa, ngôn ngữ nghệ thuật đương đại và thị trường truyền thông xuyên quốc gia.[10]

Điện ảnh cũng cung cấp những ví dụ quan trọng. Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối, công chiếu năm 2025, lựa chọn đề tài chiến tranh và lịch sử, kết hợp cách kể chuyện điện ảnh đương đại với công nghệ hình ảnh và âm thanh để kiến tạo trải nghiệm về ký ức chiến tranh.[11]Trong khi đó, Mưa đỏ cho thấy khả năng một tác phẩm đề tài lịch sử – chiến tranh thu hút sự quan tâm rộng rãi của khán giả; theo số liệu được báo chí dẫn từ Box Office Vietnam, phim đạt doanh thu gần 714 tỷ đồng .[12] Hai trường hợp đặt ra vấn đề về mối quan hệ giữa tính chân thực lịch sử, quyền hư cấu nghệ thuật, mỹ học điện ảnh, cảm xúc cộng đồng, truyền thông số và thị trường. Không nên đồng nhất doanh thu với phẩm chất nghệ thuật, nhưng cũng không nên bỏ qua năng lực tiếp cận công chúng như một chiều cạnh của đời sống tác phẩm.

Những hiện tượng ấy cho thấy lý luận, phê bình phải kết hợp nhiều cấp độ phân tích: cấu trúc và ngôn ngữ tác phẩm; điều kiện lịch sử – văn hóa; hành vi của cộng đồng tiếp nhận; những cơ chế của thị trường và nền tảng; cùng các hệ quả về giáo dục thẩm mỹ, ký ức và bản sắc. Phương pháp liên ngành trở thành yêu cầu tự nhiên, kết nối mỹ học, nghiên cứu văn học, xã hội học, nhân học, truyền thông, kinh tế sáng tạo và nghiên cứu dữ liệu. Tuy nhiên, liên ngành không có nghĩa làm loãng chuyên môn: mỗi sự vay mượn công cụ đều phải được giải thích về tính thích hợp, giới hạn và độ tin cậy.

Thách thức lớn hơn xuất hiện khi trí tuệ nhân tạo tham gia các công đoạn sáng tạo. Một sản phẩm có thể được tạo từ lời nhắc, dữ liệu huấn luyện, sự lựa chọn của con người và các vòng chỉnh sửa bằng mô hình thuật toán. Khái niệm tác giả, bản gốc, kỹ năng biểu đạt, sự sáng tạo và quyền sở hữu vì thế cần được xem xét lại trên cơ sở pháp lý và mỹ học. Báo cáo MONDIACULT 2025 của UNESCO nhận diện đồng thời cơ hội mở rộng sáng tạo, tiếp cận văn hóa với nguy cơ sử dụng tài sản trí tuệ trái phép, làm giảm giá trị lao động sáng tạo, gia tăng thiên lệch thuật toán và đe dọa đa dạng văn hóa.[13] Đây là những câu hỏi không thể giải quyết bằng thái độ tán dương công nghệ vô điều kiện hoặc phủ định công nghệ giản đơn.

Vì thế, bước đổi mới đầu tiên của tư duy lý luận là thừa nhận tính mở của đời sống nghệ thuật và đặt câu hỏi đúng trước khi đi đến phán xét. Không phải mọi hiện tượng mới đều có giá trị bền vững, nhưng mọi hiện tượng có tác động xã hội đáng kể đều xứng đáng được nghiên cứu bằng phương pháp phù hợp. Chức năng phát hiện và dự báo mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh đối với công tác lý luận cũng cần được vận dụng ở đây: từ những biến đổi riêng lẻ của tác phẩm và công chúng, nhận diện những thay đổi có tính cấu trúc trong môi trường văn học, nghệ thuật, từ đó góp phần hình thành khái niệm, phương pháp và chuẩn mực đánh giá mới.

2. Khẳng định chức năng định hướng giá trị, phát triển con người và sức mạnh mềm của lý luận, phê bình
Đổi mới lý luận, phê bình không chỉ nhằm làm giàu công cụ học thuật. Vấn đề cơ bản hơn là làm rõ chức năng xã hội của tri thức nghệ thuật: góp phần nâng cao khả năng nhận biết giá trị, khuyến khích sáng tạo có trách nhiệm, phát triển năng lực thẩm mỹ và bồi dưỡng nhân cách. Khi Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt lý luận, phê bình trong quan hệ với “định hướng sáng tạo, xây dựng nhân cách và sức mạnh mềm quốc gia”, yêu cầu ấy cần được hiểu trong một chỉnh thể: phát triển nghệ thuật không chỉ là gia tăng sản phẩm, mà còn là nâng cao chất lượng quan hệ giữa nghệ thuật với con người và xã hội.[14].

Trong môi trường truyền thông có tốc độ lan tỏa rất nhanh, sự chú ý của công chúng trở thành một nguồn lực có giá trị kinh tế. Tác phẩm có thể thu hút lượng truy cập lớn nhờ thuật toán, chiến dịch truyền thông, tranh cãi hoặc hiệu ứng cộng đồng. Nhưng mức độ được chú ý không tự nó chứng minh chiều sâu tư tưởng, sự tinh tế nghệ thuật hay đóng góp lâu dài cho đời sống thẩm mỹ. Ngược lại, những công trình có giá trị lớn vẫn có thể tiếp cận công chúng chậm, cần sự giới thiệu, giải thích và hỗ trợ của thiết chế giáo dục, báo chí, xuất bản, bảo tàng hoặc không gian nghệ thuật. Phê bình cần nhận diện sự khác biệt giữa giá trị thẩm mỹ, mức độ phổ biến và lợi ích thương mại, đồng thời phân tích mối quan hệ thực tế giữa chúng.

Một nền phê bình có chất lượng không phải là nơi chỉ đưa ra lời tán dương hay phủ định, mà là môi trường diễn giải bằng lý lẽ và bằng chứng. Phê bình phải bảo vệ tính độc lập của đánh giá khoa học trước áp lực của quan hệ lợi ích, tâm lý đám đông và sự hấp dẫn của chỉ số tương tác. Sự độc lập này cần đi cùng trách nhiệm giải thích tiêu chí: vì sao một sáng tạo được đánh giá là mới; chất lượng hình thức được xác lập bằng những căn cứ nào; tác phẩm đối thoại ra sao với truyền thống; khả năng tác động đến công chúng có được chứng minh không. Những câu hỏi như vậy giúp phê bình có sức thuyết phục và đóng vai trò trung gian giữa nghệ sĩ, thiết chế văn hóa với xã hội.

Định hướng giá trị cũng cần được hiểu rộng hơn cách phân loại tác phẩm theo một số chủ đề hoặc thông điệp được thể hiện trực tiếp. Nghệ thuật có đặc trưng riêng trong nhận thức và biểu đạt đời sống: khả năng biểu tượng, đa nghĩa, hư cấu, đối thoại, phản tư và tạo ra trải nghiệm cảm xúc. Một tác phẩm có giá trị nhân văn có thể chạm đến con người thông qua những xung đột phức tạp, những câu hỏi khó và cả những khoảng lặng chưa có đáp án giản đơn. Nếu phê bình chỉ tìm kiếm một kết luận có sẵn, nghệ thuật dễ bị giản lược thành minh họa cho thông điệp ngoài nghệ thuật, làm suy giảm khả năng khám phá đời sống của sáng tạo.

Vì vậy, cần nhận diện sự thống nhất nhưng không đồng nhất giữa trách nhiệm xã hội và tự do sáng tạo. Trách nhiệm xã hội không có nghĩa lặp lại khuôn mẫu; tự do sáng tạo cũng không loại trừ nghĩa vụ tôn trọng sự thật lịch sử, quyền của chủ thể văn hóa và các giá trị nhân văn. Lý luận, phê bình có nhiệm vụ giúp xã hội thảo luận công khai và có căn cứ về những giới hạn, khả năng và lựa chọn ấy. Chính môi trường đối thoại khoa học giúp phân biệt đổi mới nghệ thuật với chạy theo hiệu ứng nhất thời, phân biệt phá cách có chiều sâu với gây sốc, đồng thời mở rộng sự đồng cảm giữa những nhóm công chúng có kinh nghiệm và thị hiếu khác nhau.

Trong trường hợp các tác phẩm khai thác lịch sử, chẳng hạn Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối hay Mưa đỏ, giá trị cần xem xét không chỉ là mức độ tái hiện một sự kiện. Phê bình còn cần phân tích cách tác phẩm kiến tạo góc nhìn về ký ức chiến tranh, phẩm giá, mất mát, sự hy sinh và khát vọng hòa bình; những lựa chọn về nhân vật, nhịp điệu, âm thanh, hình ảnh; cũng như cảm nhận của các thế hệ khán giả. Nghiên cứu công chúng bằng phỏng vấn sâu, nhóm thảo luận và phân tích diễn ngôn có thể bổ sung cho đánh giá chuyên môn, giúp nhận diện những tác động mà số liệu phòng vé không phản ánh.

Một ví dụ khác là sự tham gia của cộng đồng trong các sản phẩm sử dụng di sản. Khi làn điệu dân ca, hình ảnh làng nghề hoặc nghi lễ truyền thống được đưa vào sản phẩm đương đại, chủ thể văn hóa địa phương không nên chỉ hiện diện như nguồn chất liệu được khai thác. Họ cần có cơ hội tham gia giải thích, lựa chọn cách biểu đạt, thụ hưởng thành quả và đối thoại về những biến đổi của di sản. Lý luận, phê bình theo hướng nhân học và đạo đức văn hóa có thể làm rõ những quan hệ quyền lực, đại diện và phân phối lợi ích đó. Đây là một chiều cạnh cần thiết nếu muốn kết nối bảo tồn di sản với sáng tạo và phát triển công nghiệp văn hóa một cách bền vững.

Nghị quyết 80-NQ/TW đặt việc phát triển con người toàn diện, môi trường văn hóa lành mạnh và năng lực sáng tạo trong định hướng phát triển quốc gia.[15] Theo đó, nhiệm vụ của lý luận, phê bình còn là tham gia kiến tạo năng lực tiếp nhận nghệ thuật. Một công chúng có khả năng đọc hình ảnh, hiểu ngôn ngữ điện ảnh, đối thoại với tác phẩm văn học, nhận biết thao tác của truyền thông và phân biệt nội dung do AI tạo ra sẽ có năng lực lựa chọn chủ động hơn. Nâng cao dân trí thẩm mỹ trong môi trường số vì thế cần được xem là thành tố của giáo dục văn hóa, không chỉ là công việc riêng của nhà trường hoặc giới phê bình chuyên nghiệp.

Ở đây có thể kết nối với tinh thần phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành giáo dục ngày 5/9/2025: phát triển con người và chất lượng giáo dục phải đáp ứng yêu cầu của đất nước trong giai đoạn mới.[16] Đối với giáo dục nghệ thuật, điều này gợi ra nhu cầu đổi mới chương trình đào tạo từ việc học thuộc lịch sử trường phái và tiêu chí đánh giá sang khả năng quan sát, phân tích, thực hành, tranh luận và sáng tạo. Sinh viên các ngành văn học, nghệ thuật, truyền thông, thiết kế cần được trang bị không chỉ kỹ năng nghề nghiệp mà cả đạo đức sáng tạo số, tri thức về bản quyền và khả năng suy nghĩ phê phán trước nội dung thuật toán đề xuất.

Sức mạnh mềm quốc gia cũng không thể được đo giản đơn bằng số lượng lượt xem hoặc các sự kiện nghệ thuật quốc tế. Năng lực hấp dẫn lâu dài hình thành khi tác phẩm, nghệ sĩ và thể chế văn hóa cùng tạo ra những giá trị được nhận diện, tin cậy và tự nguyện tiếp nhận. Phê bình có vai trò làm rõ đặc sắc của sáng tạo Việt Nam, đưa tác phẩm vào những đối thoại có tầm quốc tế và đồng thời tiếp nhận thành tựu thế giới một cách có chọn lọc. Một nền phê bình nghiêm túc, đa ngữ, có khả năng giao tiếp học thuật quốc tế cũng là một bộ phận của hạ tầng sức mạnh mềm, bởi nó cung cấp ngôn ngữ để thế giới hiểu sâu hơn nền nghệ thuật Việt Nam.

Nhiệm vụ đó càng cấp thiết khi công chúng trẻ tiếp cận nghệ thuật chủ yếu qua môi trường số. Không thể đòi hỏi họ trở về hoàn toàn với cách tiếp nhận truyền thống; điều cần làm là đưa tri thức thẩm mỹ đến đúng môi trường nơi công chúng đang hiện diện. Bài phê bình dài, chuyên luận học thuật vẫn cần thiết, nhưng đồng thời phải có podcast, bài giảng mở, video giải thích, cơ sở dữ liệu tác phẩm, tọa đàm tương tác và hình thức trình bày phù hợp với các nền tảng. Điều quan trọng là thay đổi phương thức truyền đạt mà không đánh đổi tiêu chuẩn tri thức, tính chính xác và chiều sâu phân tích.

Từ đây có thể thấy mục tiêu sau cùng không phải là tạo ra một nền phê bình có quyền quyết định thay công chúng nên yêu thích điều gì. Mục tiêu là hình thành môi trường đối thoại, trong đó công chúng có đủ tri thức và khả năng độc lập để đánh giá; người sáng tạo có phản hồi có chất lượng; cơ quan quản lý có thêm bằng chứng để hoạch định chính sách; còn các giá trị nhân văn được thảo luận bằng tinh thần khoa học. Khi được hiểu như vậy, lý luận, phê bình vừa là hoạt động học thuật chuyên sâu, vừa là một thiết chế kiến tạo văn hóa tham gia.

3. Xây dựng hệ sinh thái lý luận, phê bình trong kỷ nguyên số: từ thiết chế, dữ liệu đến con người
Muốn lý luận, phê bình thực hiện những chức năng trên, không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực của một số cá nhân. Cần xây dựng hệ sinh thái gồm cơ quan nghiên cứu, trường đại học, hội nghề nghiệp, cơ quan báo chí, nhà xuất bản, bảo tàng, không gian nghệ thuật, doanh nghiệp sáng tạo, nền tảng công nghệ và cộng đồng công chúng, được liên kết bằng cơ chế chia sẻ dữ liệu, trao đổi học thuật và trách nhiệm chất lượng. Khái niệm hệ sinh thái nhấn mạnh tính tương tác: một hoạt động nghiên cứu tốt cần có tác phẩm, tư liệu, người phản biện và môi trường công bố; một hoạt động phê bình hiệu quả cần có khả năng tiếp cận công chúng và tạo phản hồi cho đời sống sáng tạo.

Điều kiện đầu tiên là đổi mới chương trình nghiên cứu và phương pháp xác định vấn đề. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tại lễ kỷ niệm 30 năm Hội đồng Lý luận Trung ương yêu cầu từ vướng mắc cụ thể phải nhận diện vấn đề có tính hệ thống, phân biệt nguyên nhân thuộc về nhận thức, thể chế hay tổ chức thực hiện; với các vấn đề lớn, tư vấn cần làm rõ phương án, tác động và rủi ro.[17] Vận dụng vào văn học, nghệ thuật, thay vì chỉ nghiên cứu theo thể loại hoặc giai đoạn lịch sử, cần xây dựng các nhóm vấn đề xuyên suốt: nghệ thuật và thuật toán, quyền tác giả trong môi trường AI, sự dịch chuyển của công chúng, kinh tế của lao động sáng tạo, di sản và tái tạo đương đại, mỹ học của trải nghiệm tương tác, không gian nghệ thuật công cộng và tác động xã hội của sản phẩm văn hóa.

Điều kiện thứ hai là xây dựng hạ tầng dữ liệu nghiên cứu đáng tin cậy. Việt Nam cần các kho tư liệu số về tác phẩm, phê bình, lịch sử tiếp nhận, nghề nghiệp sáng tạo và thông tin thị trường được chuẩn hóa metadata, xác định quyền truy cập và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Dữ liệu số phải cho phép đối chiếu nguồn, truy xuất phiên bản và kiểm tra tính xác thực. Công nghệ có thể hỗ trợ lập thư mục, tìm kiếm ngữ nghĩa, nhận dạng chủ đề hoặc mô tả hình thức tác phẩm, nhưng kết luận học thuật không được phó mặc cho mô hình tự động. Cần có quy trình kiểm chứng, công bố giới hạn dữ liệu và ghi rõ việc sử dụng công cụ AI trong nghiên cứu.

Điều kiện thứ ba là phát triển đội ngũ nghiên cứu liên ngành có năng lực phương pháp. Nhà nghiên cứu mỹ học cần hiểu logic phân phối nền tảng; chuyên gia truyền thông số cần có tri thức lịch sử văn hóa; người nghiên cứu chính sách cần hiểu đặc thù hoạt động nghệ thuật; người làm phân tích dữ liệu cần được hướng dẫn về đạo đức sử dụng tư liệu văn hóa. Điều đó đòi hỏi các chương trình đào tạo và bồi dưỡng kết hợp lý luận, phân tích tác phẩm, nghiên cứu định tính, xử lý dữ liệu và kỹ năng công bố quốc tế. Một số nhóm nghiên cứu có thể hình thành theo mô hình phòng thí nghiệm văn hóa số hoặc trung tâm nghiên cứu liên ngành, nhưng phải xác định rõ sản phẩm học thuật và trách nhiệm khoa học.

Điều kiện thứ tư là tạo lập môi trường tranh luận khoa học lành mạnh. Trong bài phát biểu ngày 29/10/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu “tôn trọng ý kiến khác nhau có căn cứ, tạo điều kiện tranh luận khoa học thẳng thắn”; đồng thời nhấn mạnh nhà khoa học cần sẵn sàng điều chỉnh khi có chứng cứ mới.[18) Đó là nguyên tắc đặc biệt quan trọng đối với phê bình nghệ thuật, nơi khác biệt về thị hiếu, trường phái và hệ quy chiếu thẩm mỹ là điều bình thường. Nên tổ chức những diễn đàn phản biện có điều phối, khuyến khích việc công bố tiêu chí và tư liệu, tránh quy chụp động cơ, tấn công cá nhân hoặc biến tranh luận học thuật thành sự đối đầu trên mạng xã hội.

Tính độc lập của phê bình còn liên quan đến cơ chế tài trợ và công bố. Nếu nhà phê bình phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn lực truyền thông của đơn vị sản xuất hoặc vào thuật toán thu hút lượt xem, nguy cơ xung đột lợi ích sẽ tăng. Các tạp chí, diễn đàn học thuật và chương trình tài trợ nghiên cứu cần có quy định minh bạch về hỗ trợ tài chính, công khai quan hệ lợi ích, quy trình phản biện và quyền được đưa ra đánh giá độc lập. Đồng thời, cần có quỹ hỗ trợ dịch thuật chuyên luận, sách lý luận – phê bình, công trình tư liệu và những nghiên cứu dài hạn mà thị trường khó tự bảo đảm.

Điều kiện thứ năm là mở rộng kết nối nghiên cứu với thực tiễn sáng tác. Một trung tâm lý luận, phê bình sẽ khó phát huy tác dụng nếu hoạt động xa rời phòng tập của nghệ sĩ, trường quay, phòng biên tập, xưởng thiết kế hay không gian diễn xướng cộng đồng. Cần tạo chương trình nghiên cứu thực địa dài hạn, đối thoại nghệ sĩ – nhà phê bình – nhà nghiên cứu; phối hợp xây dựng hồ sơ trường hợp điển hình và tổng kết quá trình sáng tạo ngay từ khâu ý tưởng đến khi tác phẩm được tiếp nhận. Phương thức này vừa tạo ra tư liệu quý, vừa giúp giới nghiên cứu hiểu những điều kiện vật chất, kỹ thuật và rủi ro mà nghệ sĩ đối diện.

Một vấn đề cần quan tâm là sự phát triển của các công cụ AI tạo sinh trong môi trường nghệ thuật và học thuật. UNESCO tại MONDIACULT 2025 đã đưa văn hóa và trí tuệ nhân tạo thành một chủ đề riêng, nhấn mạnh bảo vệ đa dạng văn hóa, quyền lợi người sáng tạo và tiếp cận công nghệ công bằng.[19] Việt Nam cần xây dựng hướng dẫn đạo đức sử dụng AI trong nghiên cứu, phê bình và đào tạo nghệ thuật, bao gồm nguyên tắc ghi nhận đóng góp của con người, minh bạch nguồn dữ liệu, tôn trọng quyền tác giả và trách nhiệm giải thích kết luận. Những công cụ tự động có thể hỗ trợ phân tích, song không thay thế kinh nghiệm nghệ thuật, năng lực phán đoán và trách nhiệm của chủ thể nghiên cứu.

Điều kiện thứ sáu là hoàn thiện quan hệ giữa nghiên cứu, tham mưu và thực thi chính sách. Công trình lý luận cần có không gian cho tìm tòi cơ bản, không bị áp lực phải lập tức chuyển thành đề xuất quản lý. Tuy nhiên, những phát hiện có ý nghĩa thực tiễn cũng cần cơ chế chuyển tiếp tới cơ quan xây dựng chính sách, hội nghề nghiệp và cơ sở đào tạo. Phát biểu tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh hồi tháng 8/2026,  Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh yêu cầu nâng tầm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, tư vấn chiến lược và đo lường chất lượng bằng tính mới, tính đúng, tính kịp thời, sức thuyết phục và mức độ sử dụng.[20] Đây là một gợi ý cho việc xây dựng thước đo phù hợp hơn đối với nhiệm vụ nghiên cứu lý luận nghệ thuật.

Cũng cần phân biệt các cấp độ kết quả của một công trình. Nghiên cứu cơ bản có thể tạo ra khái niệm, phương pháp, hệ tư liệu hoặc cách giải thích mới. Nghiên cứu ứng dụng có thể tạo ra khuyến nghị đối với quản trị, giáo dục và thị trường. Hoạt động phê bình có thể làm thay đổi chất lượng tranh luận xã hội, phát triển công chúng hoặc giúp một tác phẩm được hiểu sâu sắc hơn. Những sản phẩm ấy không thể quy đổi về cùng một chỉ số số lượng bài viết hay lượt truy cập. Hệ thống đánh giá cần có chuyên gia phù hợp từng hướng nghiên cứu, sử dụng các chỉ báo định lượng với thẩm định định tính và xem xét tác động theo khoảng thời gian đủ dài.

Từ góc độ tổ chức, có thể hình thành mạng lưới quốc gia về nghiên cứu lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trong môi trường số, trên cơ sở liên kết các cơ sở hiện có thay vì nhất thiết lập thêm bộ máy. Mạng lưới này có thể cùng triển khai một số chương trình trọng điểm: bản đồ tri thức phê bình Việt Nam; cơ sở dữ liệu tác phẩm và tiếp nhận; nghiên cứu hệ sinh thái sáng tạo số; khảo sát công chúng theo vùng và thế hệ; diễn đàn về mỹ học, AI và đạo đức sáng tạo; chương trình dịch thuật, công bố quốc tế về nghệ thuật Việt Nam. Mỗi chương trình cần có cơ quan đầu mối, dữ liệu gốc, mục tiêu và cơ chế đánh giá rõ ràng.

Một hướng hoạt động quan trọng khác là đưa lý luận đến gần công chúng, nhất là giới trẻ, mà không đơn giản hóa những vấn đề khoa học. Các tạp chí chuyên ngành có thể phối hợp trường đại học, bảo tàng, nhà hát và đơn vị sản xuất để thực hiện chuỗi thảo luận tác phẩm theo phương thức kết hợp trực tiếp và trực tuyến. Phát triển nguồn học liệu mở về phương pháp đọc tác phẩm, lịch sử thể loại, phân tích hình ảnh, âm thanh và nhận biết nội dung do AI tạo ra. Đối với vùng sâu, vùng xa, số hóa các tư liệu và triển khai chương trình giáo dục thẩm mỹ trực tuyến cần gắn với quyền tiếp cận công nghệ, ngôn ngữ và điều kiện thực tế của người học.

Nhìn rộng hơn, hệ sinh thái lý luận, phê bình cần được đặt vào chính hệ sinh thái phát triển văn hóa. Nó tương tác với thị trường nhưng không bị hòa tan trong thị trường; phục vụ định hướng giá trị nhưng không đánh mất tính độc lập khoa học; tiếp nhận công nghệ nhưng không từ bỏ vai trò chủ thể con người; trân trọng di sản nhưng không khước từ sáng tạo đương đại; thúc đẩy hội nhập nhưng vẫn bồi đắp khả năng tự diễn giải và giới thiệu giá trị Việt Nam. Những quan hệ ấy cần được giải quyết bằng cơ chế cụ thể và một văn hóa đối thoại trưởng thành, không thể chỉ bằng lời kêu gọi chung.

Trong triển khai, có thể ưu tiên giai đoạn đầu với ba kết quả có thể quan sát: một tập hợp dữ liệu và hồ sơ trường hợp được chuẩn hóa, cho phép kiểm chứng; một mạng lưới học thuật có quy chế tranh luận, phản biện và công bố minh bạch; một số chương trình thí điểm kết nối nghiên cứu – đào tạo – sáng tạo – công chúng ở các địa phương hoặc cơ sở văn hóa. Sau đó tiến hành đánh giá độc lập về tính hữu ích của tư liệu, chất lượng đối thoại học thuật, năng lực đào tạo mới và mức độ kết nối với hoạch định chính sách. Cách triển khai từng bước giúp hạn chế nguy cơ xây dựng các thiết chế hình thức, đồng thời tạo không gian điều chỉnh dựa trên bằng chứng.

Sau cùng, yêu cầu đổi mới lý luận, phê bình là yêu cầu đổi mới văn hóa nghiên cứu. Điều cần tạo ra không chỉ là nhiều công trình hơn, mà là những công trình dám đi vào vấn đề khó, trình bày rõ phương pháp, tôn trọng dữ liệu, chấp nhận phản biện và có khả năng đóng góp tri thức mới. Khi các chủ thể của hệ sinh thái cùng cam kết với giá trị khoa học và trách nhiệm xã hội, lý luận, phê bình mới có thể vừa giữ được chiều sâu chuyên môn, vừa có năng lực đi trước, nhận diện và đồng hành với đời sống sáng tạo đang biến đổi nhanh chóng.

Kết luận
Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 30 năm thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương đã xác lập một yêu cầu có tính phương pháp luận: lý luận phải khởi đi từ thực tiễn, đủ năng lực dự báo, có bản lĩnh khoa học và được đánh giá bằng đóng góp mới đối với sự phát triển của đất nước. Vận dụng vào lĩnh vực văn học, nghệ thuật, tinh thần ấy đòi hỏi chuyển từ cách nghiên cứu tương đối khép kín sang hệ sinh thái tri thức mở, liên ngành, được hỗ trợ bởi dữ liệu, công nghệ và những thiết chế đối thoại có trách nhiệm.

Trong kỷ nguyên số, văn học, nghệ thuật không mất đi những giá trị cốt lõi của mình, nhưng điều kiện tồn tại và lan tỏa giá trị đã biến đổi sâu sắc. Vì thế, lý luận, phê bình cần giữ vững khả năng nhận diện giá trị thẩm mỹ, tư tưởng và nhân văn, đồng thời học cách giải thích những hình thức sáng tạo mới, những quan hệ mới giữa nghệ sĩ với công chúng, giữa tác phẩm với nền tảng, giữa di sản với thị trường và giữa trí tuệ con người với công cụ trí tuệ nhân tạo. Đổi mới không có nghĩa phủ định di sản học thuật đã có, mà là phát triển các công cụ và năng lực đối thoại để những giá trị tích lũy tiếp tục có sức sống trong hoàn cảnh mới.

Từ đổi mới tư duy đến xây dựng hệ sinh thái lý luận, phê bình là một quá trình cần đầu tư lâu dài, sự phối hợp của nhiều chủ thể và những tiêu chí đánh giá thực chất. Thành quả cuối cùng không chỉ là sự phong phú của công trình khoa học, mà còn là chất lượng đời sống sáng tạo, năng lực thẩm mỹ của xã hội, sự phát triển toàn diện của con người và khả năng văn hóa Việt Nam tham gia chủ động, tự tin vào những cuộc đối thoại của thời đại. Khi lý luận thực sự đồng hành với sáng tạo và được kiểm chứng trong cuộc sống, nó không chỉ giải thích nghệ thuật của hôm nay mà còn góp phần mở đường cho những giá trị văn hóa của tương lai.

_____________________________

Tài liệu tham khảo
 1, 17,18. Tô Lâm .(2026). Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 30 năm Ngày thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương (toàn văn do tác giả đối chiếu với văn bản công bố và bản trích dẫn được cung cấp).  Cổng Thông tin điện tử Chính phủ . https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-le-ky-niem-30-nam-ngay-thanh-lap-hoi-dong-ly-luan-trung-uong-102261029144055417.htm
2, 15. Bộ Chính trị .(2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm 
3. Tô Lâm .(2026). Toàn văn phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị . Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-trien-khai-thuc-hien-nghi-quyet-so-79-nq-tw-va-nghi-quyet-so-80-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-119260225112703831.htm
4. Pierre Bourdieu .(1993). The Field of Cultural Production: Essays on Art and Literature ( Lĩnh vực sản xuất văn hóa: Các tiểu luận về nghệ thuật và văn học). Columbia University Press, New York. https://cup.columbia.edu/book/the-field-of-cultural-production/9780231082860/
5. Henry Jenkins .(2006). Convergence Culture: Where Old and New Media Collide (Văn hóa hội tụ: Sự giao thoa giữa truyền thông cũ và mới). New York University Press, New York.https://nyupress.org/9780814742815/convergence-culture/
6. Henry Jenkins .(2006) .Welcome to Convergence Culture (Chào mừng đến với Văn hóa hội tụ). Bài giới thiệu của tác giả. https://henryjenkins.org/blog/2006/06/welcome_to_convergence_culture.html
7. VTV. (2025). Sức nóng của MV Bắc Bling gợi mở quảng bá văn hóa du lịch qua MV ca nhạc. https://vtv.vn/van-hoa-giai-tri/suc-nong-cua-mv-bac-bling-goi-mo-quang-ba-van-hoa-du-lich-qua-mv-ca-nhac-20250306132209989.htm
8. VnExpress .(2025). MV Bắc Bling cách tân văn hóa quan họ. https://vnexpress.net/mv-bac-bling-cach-tan-van-hoa-quan-ho-4859872.html
9.Tuổi Trẻ Cười .(2026). Sơn Tùng M-TP tung MV Come My Way mới sau ồn ào sao chép mỹ thuật . https://cuoi.tuoitre.vn/son-tung-m-tp-tung-mv-come-my-way-moi-sau-on-ao-sao-chep-my-thuat-100260713112731599.htm. Những phản ánh trong bài báo được nhắc đến như tranh luận công khai, không coi là kết luận pháp lý.
10. VTV .(2026). Sơn Tùng M-TP gây ấn tượng với MV Come My Way hợp tác cùng Tyga. https://vtv.vn/son-tung-m-tp-gay-an-tuong-voi-mv-come-my-way-hop-tac-cung-tyga-100260528211244223.htm

Xem thêm: Bùi Hoài Sơn. (2026). Come My Way của Sơn Tùng M-TP: Khi một MV trở thành lời mời thế giới đến với Việt Nam.VietNamNet. https://vietnamnet.vn/come-my-way-cua-son-tung-mtp-tro-thanh-loi-moi-the-gioi-den-voi-viet-nam-2520878.html
11. Trung tâm Văn hóa – Điện ảnh thành phố Đà Nẵng .(2025), Phim Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối, . https://ttvhda.danang.gov.vn/tin-tuc/phim-dia-dao-mat-troi-trong-bonh-toi.html
12. Báo điện tử VOV (2025). Mưa đỏ" chính thức rời rạp với doanh thu kỷ lục gần 714 tỷ đồng. https://https://vov.vn/van-hoa/san-khau-dien-anh/mua-do-chinh-thuc-roi-rap-voi-doanh-thu-ky-luc-gan-714-ty-dong-post1233627.vov
13. UNESCO. (2026). MONDIACULT 2025 Narrative Report, mục 8 “Artificial intelligence and culture” (Trí tuệ nhân tạo và văn hóa). https://www.unesco.org/sites/default/files/medias/fichiers/2026/02/Report%20MONDIACULT%202025%20%26%20Annexes%20Dec.%202025%20FW.pdf
14. Bộ Chính trị .(2026).Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ .  https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm 
16. Tô Lâm .(2025). Toàn văn phát biểu tại Lễ kỷ niệm 80 năm truyền thống ngành Giáo dục và khai giảng năm học 2025–2026. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-le-ky-niem-80-nam-truyen-thong-nganh-giao-duc-va-khai-giang-nam-hoc-moi-2025-2026-119250905110724458.htm
19. UNESCO (2025), MONDIACULT 2025 Provisional Programme, chủ đề “Culture and Artificial Intelligence' (Văn hóa và Trí tuệ nhân tạo). https://www.unesco.org/sites/default/files/medias/fichiers/2025/09/20250919_MONDIACULT%202025_Provisional%20Programme%20%281%29.pdf.
20 .Tô Lâm .(2026).  Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phải là hình mẫu về xây dựng Đảng, kỷ luật, liêm chính học thuật,.https://media.chinhphu.vn/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-hoc-vien-chinh-tri-quoc-gia-ho-chi-minh-phai-la-hinh-mau-ve-xay-dung-dang-ky-luat-liem-chinh-hoc-thuat-102260820194159699.htm