Chỉ có thể nhận diện và cắt nghĩa một cách chính xác thực trạng đời sống lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm qua khi chúng ta đặt nó trong các mối tương quan: 1) sự tác động của bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội Việt Nam sau 1975 và của thế giới đương đại đối với văn học, nghệ thuật; 2) sự vận động tự thân và khả năng thích ứng của văn học, nghệ thuật trước những biến đổi thời cuộc trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế. Dù còn nhiều hạn chế so với trình độ lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật thế giới, nhưng nếu đặt diễn ngôn lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam trước và sau 1975 gần cạnh nhau người đọc sẽ dễ dàng nhận ra nhiều điểm khác biệt. Không còn bị ràng buộc bởi những tín niệm chật hẹp, giáo điều và duy ý chí, tiến trình hiện đại hóa lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật sau 1975 được thúc đẩy một cách mạnh mẽ, cốt lõi của nó là đổi mới, nền tảng của nó là dân chủ, nhân văn và bản sắc dân tộc, phương thức vận hành/ biểu đạt của nó là đề cao đối thoại và ý thức phản tư. Đây chính là những yếu tính quan trọng nhất làm nên khuôn diện đời sống lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật sau 1975, đặc biệt từ Đổi mới (1986) đến nay.
1. Những thành tựu cơ bản
Đội ngũ cầm bút và sự đổi mới nhãn quan/ tư duy học thuật
Trước hết, những thành tựu của lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật 50 năm qua gắn liền với cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế hệ cầm bút. Bên cạnh những nhà lý luận, phê bình văn học lão thành, giàu kinh nghiệm như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Hoàng Trinh, Phương Lựu, Phong Lê, Nguyễn Văn Hạnh, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân… là sự xuất hiện của những cây bút sung sức khi bước vào Đổi mới như Lê Ngọc Trà, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Lã Nguyên, Huỳnh Như Phương, Nguyễn Văn Dân… và được tiếp tục bởi các thế hệ cầm bút trưởng thành trong tiến trình đổi mới văn học. Trong lĩnh vực lý luận, phê bình nghệ thuật cũng xuất hiện nhiều gương mặt đáng chú ý như Thái Bá Vân, Nguyễn Quân, Phan Cẩm Thượng, Trần Trí Trắc… Đội ngũ lý luận, phê bình không chỉ do các nhà lý luận, phê bình đảm nhiệm mà còn có sự đóng góp quý báu của đội ngũ sáng tác. Nhiều cây bút nữ và các cây bút người dân tộc thiểu số, các nhà lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật người Việt sống và viết ở nước ngoài cũng góp phần quan trọng tạo nên sự sôi động của đời sống lý luận, phê bình văn học nghệ thuật đương đại.
Về cơ bản, nền lý luận, phê bình văn học Việt Nam sau 1975 kiên trì quan điểm mỹ học marxist và đường lối văn nghệ của Đảng, đồng thời chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa của dân tộc và nhân loại, mở ra những tương tác mới trong lĩnh vực tinh thần theo tinh thần nhân văn, hiện đại. Vượt qua cái nhìn quan định luận, máy móc, giáo điều, các nhà lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật đã thực hiện bước chuyển trọng tâm nghiên cứu, chú ý khám phá bản chất và quy luật vận động nghệ thuật trong tính đặc thù của nó. Theo đó, lý luận văn nghệ không phải là những nguyên lý cứng nhắc sắm vai áp đặt, “chỉ đạo”, phê bình nghệ thuật không phải là “cái roi” quất cho “con ngựa sáng tác” lồng lên mà lý luận, phê bình phải trở thành một bộ môn khoa học, các nhà lý luận, phê bình phải là người đồng hành với sáng tác vì mục đích phát triển văn học dân tộc. Không gian dân chủ xã hội, tinh thần “nhìn thẳng sự thật”, “nói thẳng sự thật” đã trở thành những tiền đề xã hội quan trọng kích hoạt sự đổi mới nhãn quan thuật học và nỗ lực phiêu lưu tìm kiếm cái mới của các nhà lý luận, phê bình.
Sự thay đổi về tư duy lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật sau 1975 có thể nhận thấy rất rõ qua ba phương diện: 1) văn học, nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội thẩm mỹ đặc biệt tinh tế, ở đó, tư tưởng nghệ thuật của chủ thể sáng tạo thống nhất với tư tưởng tiến bộ của thời đại chứ không hoàn toàn đồng nhất; 2) việc thẩm định, đánh giá nghệ thuật phải xuất phát từ tính đặc thù và quy luật phát triển của nghệ thuật bởi lẽ văn học, nghệ thuật là lĩnh vực vô cùng nhạy cảm của văn hóa; 3) cần đẩy mạnh nghiên cứu chuyên ngành song song với tiếp cận liên ngành, xuyên ngành để khám phá bản chất, quy luật nghệ thuật từ nhiều chiều cạnh khác nhau. Đây là những nhân tố cơ bản dẫn đến sự thay đổi mang tính bước ngoặt của diễn ngôn lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật sau 1975, đưa lý luận, phê bình tiến nhanh về hiện đại, từng bước hội nhập với trình độ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trên thế giới.
Đề cao tinh thần dân chủ và nguyên tắc đối thoại trong tranh luận
Để vươn tới hiện đại, sáng tạo văn học, nghệ thuật cũng như hoạt động lý luận, phê bình cần đến môi trường dân chủ và thái độ tôn trọng tìm tòi cá nhân, kể cả những tiếng nói khác biệt. Khác biệt ở đây không đồng nghĩa với lối “nói ngược” bất chấp thực tiễn mà là những phản tỉnh mang tính biện chứng vì sự phát triển đa dạng của nghệ thuật. Điều đó đã được nhắc đến trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII: “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng suy đồi, phi nhân tính”. Còn về lý luận, phê bình, Nghị quyết nhấn mạnh: “Phát huy vai trò thẩm định tác phẩm, hướng dẫn dư luận xã hội phê bình văn học, nghệ thuật. Bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với yêu cầu trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ, các nhà văn hóa”. Đây là những hành lang tư tưởng hết sức cần thiết để chúng ta chủ động mở rộng không gian dân chủ trong lĩnh vực lý luận, phê bình.
Tinh thần dân chủ và nguyên tắc đối thoại trong hoạt động lý luận, phê bình thể hiện rõ nhất qua các hội thảo, tọa đàm văn học, nghệ thuật được Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng lý luận, phê bình nghệ thuật Trung ương, Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Viện Văn học và nhiều trường đại học trong cả nước tổ chức. Nhiều vấn đề cốt lõi của lý luận văn học, nghệ thuật đã được trao đổi, bàn thảo công khai trên các diễn đàn như mối quan hệ giữa văn học và hiện thực; văn học và chính trị; số phận của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa; bản sắc dân tộc và hội nhập quốc tế; đánh giá văn học quá khứ và văn học cách mạng 1945-1975… với sự tham gia của đông đảo học giới, văn nghệ sĩ và các nhà quản lý văn nghệ (1). Tuy vẫn còn những ý kiến thể hiện sự sốt ruột thái quá, thậm chí cực đoan nhưng về cơ bản, thông qua đối thoại, lý luận, phê bình đã mở rộng trường nhìn, đổi mới ý thức mỹ học, tôn trọng tính đa dạng và tính khác biệt trong nghệ thuật, cảnh báo những lệch lạc và những tiêu cực trong nhận thức nghệ thuật.
Có một thực tế là trong các đối thoại/ tranh luận học thuật, luôn có sự xung đột/ khác biệt về khung tri thức và độ khai phóng của tư duy. Chẳng hạn, vào cuối thập kỷ 70 đầu 80, trong khi một số nhà phê bình nhạy cảm đòi hỏi văn học, nghệ thuật phải đổi mới thì vẫn còn có những cây bút bị mắc kẹt trong hệ hình tư duy/ nghệ thuật cũ. Không phải ngẫu nhiên mà khi viết giới thiệu cho tập truyện ngắn Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến phải đặt nhan đề cho bài viết của mình là “Tôi không chúc bạn thuận buồm xuôi
gió” (2). Nghĩa là ngay từ đầu, nhà phê bình đã dự cảm được những sóng gió mà Nguyễn Huy Thiệp phải gánh chịu. Trước đó, cuộc tranh luận về truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (trên Văn nghệ năm 1985) cũng cho thấy sự sự khác biệt về quan niệm nghệ thuật và tiêu chí thẩm định của giới phê bình trước các hiện tượng nghệ thuật mới.
Trong những năm gần đây, nhiều hội thảo khoa học trong nước và quốc tế đã được triển khai, mời gọi những cách nhìn, những kiến giải mới của các nhà lý luận, phê bình Việt Nam và thế giới. Đây chính là biểu hiện sinh động về tính dân chủ ngày càng rõ nét trong hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam đương đại.
Mở rộng hệ tiêu chí thẩm định, đánh giá nghệ thuật
Trước những chuyển động vô cùng nhanh chóng của thế giới đương đại, những quan điểm giá trị cứng nhắc, hẹp hòi cần phải được thay đổi, điều chỉnh để phù hợp với thực tiễn. Việc mở rộng hệ tiêu chí thẩm định giá trị văn học, nghệ thuật, một mặt, góp phần làm giàu có thêm cho gia tài văn hóa dân tộc, mặt khác, là dấu hiệu cho thấy sự thay đổi thực sự về nhận thức và tư duy lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam sau 1975. Tuy nhiên, sự linh hoạt, mềm dẻo trong đánh giá nghệ thuật phải xuất phát trên nền tảng quan điểm Mác xít và đường lối đổi mới văn học, nghệ thuật của Đảng trong bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội mới.
Trước hết, việc mở rộng hệ tiêu chí đánh giá nghệ thuật đã giúp chúng ta nhìn nhận lại các giá trị văn hóa quá khứ một cách thỏa đáng. Một số hiện tượng văn học từng có thời bị phê phán hoặc đánh giá chưa đúng như Tự lực văn đoàn, Thơ mới, văn học vùng tạm chiếm 1946-1954 đã được nhìn nhận, đánh giá lại. Nhiều cây bút bị “tai nạn nghề nghiệp” trong thời kỳ Nhân văn Giai phẩm như Hoàng Cầm, Lê Đạt, Văn Cao… đã được khôi phục và tái xuất văn đàn. Nhiều nhạc phẩm tiền chiến, nhạc vàng cũng xuất hiện trở lại và góp phần thỏa mãn nhu cầu thưởng thức nghệ thuật đa dạng của công chúng. Nhiều trường phái hội họa trừu tượng/ siêu thực được giới thiệu rộng rãi thay vì sự chiếm lĩnh độc tôn của các loại tranh cổ động, tuyên truyền cho những nhiệm vụ chính trị xã hội trước mắt. Nhiều họa phẩm của các họa sĩ từng theo học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã xuất hiện trang trọng trong các bảo tàng nghệ thuật quốc gia. Có thể nói, việc mở rộng tiêu chí đánh giá văn học miền Nam 1954-1975 là cả một quá trình tự vượt lên chính mình của giới lý luận, phê bình trước những định kiến mang tính áp đặt. Nếu trước đây, đã có lúc một số nhà phê bình quá tả, đòi loại bỏ những nấm độc tư tưởng, đồi trụy của văn học, nghệ thuật miền Nam dưới chính thể Việt Nam cộng hòa thì về sau, theo thời gian, bằng cái nhìn điềm tĩnh và thái độ “gạn đục khơi trong”, chúng ta hiểu cái gì cần loại bỏ, cái gì cần được giữ gìn để làm giàu có hơn cho di sản văn học dân tộc.
Việc mở rộng biên độ đánh giá nghệ thuật cũng cho phép các nhà lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật chứng minh sự tinh tường và năng lực dự báo trước những cách tân nghệ thuật mới mẻ, táo bạo như truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết của Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Đặng Thân, thơ của Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn… Đặc biệt, khi ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại vào thực tiễn nghệ thuật Việt Nam từ cuối TK XX đến nay đã tạo ra sự phân hóa/ hoang mang trong tiếp nhận nghệ thuật, người đọc chờ đợi các nhà lý luận, phê bình văn học với tư cách là “siêu độc giả” phải đưa ra những phân tích, kiến giải mang tính khoa học mang để định hướng dư luận. Đây là một nhiệm vụ nặng nề mà các nhà lý luận, phê bình không thể thoái thác.
Mở rộng giao lưu, tiếp thu thành tựu khoa học xã hội nhân văn hiện đại
Mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại đã trở thành một quy luật trong phát triển văn học, nghệ thuật của bất cứ quốc gia nào. Đó cũng là con đường vươn tới hiện đại của lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam trong suốt hơn một thế kỷ qua.
Từ sau 1975, thông qua giao lưu quốc tế, nhiều trao đổi văn hóa, học thuật, biểu diễn giữa Việt Nam và thế giới được tăng cường. Nhiều trào lưu tư tưởng văn hóa, văn nghệ mới đã nhanh chóng ảnh hưởng đến Việt Nam thông qua dịch thuật, giới thiệu, quảng bá… Đáng chú ý là ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại vào Việt Nam đã góp phần làm thay đổi quan niệm của giới lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật nước ta. Khác với trước 1975, giao lưu văn hóa từ 1975 đến nay hướng đến thế giới trong tính toàn thể, vì hội nhập quốc tế đương đại là tiến trình hội nhập đa kênh, đa hướng và được tiếp sức bởi kinh tế thị trường và truyền thông hiện đại. Thông qua giao lưu văn hóa quốc tế, văn nghệ sĩ có điều kiện mở ra những góc nhìn mới, tìm kiếm những phương thức biểu đạt mới đầy táo bạo. Trong lĩnh vực nghiên cứu văn học, nhiều lý thuyết mới đã được vận dụng một cách hiệu quả như thi pháp học, tự sự học, phân tâm học, ký hiệu học, mỹ học tiếp nhận, nữ quyền luận, phê bình sinh thái… Trong lĩnh vực âm nhạc, hội họa, điêu khắc, mỹ thuật cũng có nhiều bứt phá theo hướng hiện đại. Lĩnh vực điện ảnh có nhiều khởi sắc với sự chủ động của nhiều tổ chức như Hội Điện ảnh và Hiệp hội Xúc tiến điện ảnh Việt Nam.
Nói về mở rộng giao lưu quốc tế và việc giới thiệu, vận dụng những trào lưu tư tưởng văn hóa mới vào nước ta cần chú ý đến khu vực đại học. Trên thực tế, nhiều giảng viên đại học là những người tích cực tham gia hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Chính họ cũng là những người giới thiệu, hướng dẫn sinh viên, học viên làm nghiên cứu khoa học. Sinh viên không chỉ là những người tiếp nhận mà có cơ hội trở thành chủ thế viết lý luận, phê bình văn học trong tương lai. Vì thế, trong bản đồ lý luận, phê bình văn học đương đại, các đại học và các viện nghiên cứu chính là những trung tâm khoa học xác lập vị thế lý luận, phê bình hàn lâm bên cạnh phê bình nghệ sĩ (do giới sáng tác đảm nhiệm) và phê bình báo chí/ truyền thông (chủ yếu do các nhà báo và các biên tập viên chuyên về văn học, nghệ thuật đảm nhiệm).
Thúc đẩy việc nghiên cứu di sản văn hóa, nghệ thuật truyền thống
Bất cứ sự phát triển nào của xã hội và của nghệ thuật cũng đều gắn liền với việc tiếp thu di sản quá khứ/ truyền thống văn hóa của dân tộc. Vì thế, bên cạnh việc đẩy mạnh “hướng ngoại” để tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chúng ta cần đến một quá trình “hướng nội” để nghiên cứu, giới thiệu những tư tưởng, mỹ học, quan điểm của cha ông trong quá khứ nhằm tạo ra sự “cân bằng” trong phát triển. Công việc này gắn liền với các nhà nghiên cứu, diễn ra trong lặng lẽ nhưng lại có đóng góp quan trọng trong việc định hướng phát triển lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật một cách đúng đắn. Nhiều công trình nghiên cứu, sưu tầm quy mô về văn học/ văn hóa dân gian, sử thi Tây Nguyên, sân khấu truyền thống (tuồng, chèo), các làn điệu dân ca đã giúp cho công chúng nghệ thuật hiểu sâu hơn về các loại hình nghệ thuật và nhận thấy chiều sâu tư tưởng, ý thức mỹ học của cha ông trong quá khứ. Trong thực tiễn, nhiều sản phẩm nghệ thuật gần đây ra đời trên cơ sở kết hợp giữa truyền thống và hiện đại đã đem đến cho công chúng nghệ thuật những bất ngờ vì hiệu quả thẩm mỹ của nó âm nhạc của Nguyễn Vĩnh Tiến, Lê Minh Sơn, Hoàng Thùy Linh hay các sáng tác về đề tài lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải và một số bộ phim gần đây (dù còn gây tranh cãi) như Đất rừng phương Nam (2023) của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng…
2. Những hạn chế, bất cập
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nhiều người cho rằng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam 50 năm qua còn nhiều hạn chế, bất cập. Thậm chí có người cho rằng, phê bình văn học đương đại đang “ngái ngủ” vì không theo kịp thực tiễn. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị cũng đã thẳng thắn chỉ ra những yếu kém, hạn chế của đời sống lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật hiện nay (3). Trong bài viết này, chúng tôi xin được luận giải cụ thể hơn về một số hạn chế, bất cập chủ yếu sau đây:
Đội ngũ lý luận, phê bình thiếu đồng đều, yếu bản lĩnh và ít đột phá, sáng tạo
Mặc dù đội ngũ lý luận, phê bình văn học hiện nay khá đông đảo, được đào tạo bài bản nhưng số người tâm huyết đến mức “ăn chịu” với nghề chưa nhiều. Điều này xuất phát từ ba lý do chính: 1) đời sống nghệ thuật phong phú và đầy biến động đòi hỏi các nhà lý luận, phê bình phải dành nhiều thời gian, công sức trong khi thu nhập từ nghề lại hết sức ít ỏi; 2) tính chất trực ngôn của lý luận, phê bình rất dễ xảy ra va chạm, thậm chí “tai nạn nghề nghiệp” mà không phải ai cũng đủ bản lĩnh để chấp nhận; 3) đất diễn cho lý luận, phê bình ngày càng bị thu hẹp bởi nhu cầu của người đọc và truyền thông hiện đại. Về địa bàn hoạt động, đội ngũ viết lý luận, phê bình phân tán, chủ yếu quy tụ ở các đô thị lớn, các đại học, các viện nghiên cứu mà vắng bóng ở địa phương. Về lĩnh vực chuyên ngành, nếu đội ngũ lý luận, phê bình văn học khá hùng hậu thì đội ngũ lý luận, phê bình nghệ thuật lại thiếu hụt trầm trọng. Rõ ràng, đây là một thực tế đáng buồn đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ làm công tác lý luận, phê bình hợp lý, hiệu quả.
Thiếu công trình khoa học tầm cỡ, có ý nghĩa văn hóa xã hội lớn
Phải thừa nhận rằng mặc dù có nhiều đổi mới về nhận thức, tư duy và phương pháp nghiên cứu nhưng lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật đương đại vẫn hiếm hoi những công trình khoa học tầm cỡ, mang tính đột phá. Nhiều công trình còn nặng về sưu tầm hoặc kinh nghiệm chủ nghĩa, sa vào bình tán, lẫn lộn giữa lý luận và phê bình. Việc tiếp thu lý thuyết văn nghệ hiện đại của thế giới tuy được đẩy mạnh nhưng còn tự phát, chưa hệ thống và thiếu tính đồng bộ. Tâm lý sính ngoại hoặc vội vàng vận dụng theo lối “gọt chân cho vừa giày” vẫn còn xuất hiện, đặc biệt ở một số cây bút trẻ. Mặt khác, chịu tác động tiêu cực kinh tế thị trường, một số cây bút lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật bị lệch hướng, biến bài phê bình thành những trang viết quảng cáo hoặc tiếp thị cho sản phẩm. Cùng với lối phê bình thù tạc, cánh hẩu, phê bình PR sẽ góp phần làm nhiễu loạn giá trị, đánh lừa bạn đọc vì những mục đích phi khoa học.
Thiếu “ngự sử văn đàn”, văn hóa tranh luận có lúc bị vi phạm nghiêm trọng
Việc tranh luận ngõ hầu tìm ra chân lý phải được coi là một hoạt động hết sức bình thường trong môi trường dân chủ được mở rộng. Hàng loạt tranh luận và hội thảo khoa học ở những quy mô khác nhau được tổ chức trong thời gian qua là dấu hiệu đáng mừng nhằm phát triển lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật. Thông qua đối thoại, các nhà lý luận, phê bình có quyền nêu lên quan điểm cá nhân và lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp vì chân lý khoa học. Tại đó, nguyên tắc đối thoại và chiều sâu khoa học chính là nhân tố bảo đảm cho sự thành công của tranh luận. Không chỉ giới lý luận, phê bình mà các nhà sáng tác và công chúng nghệ thuật cũng rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho mình từ cách tranh luận nghệ thuật. Tuy nhiên, vẫn còn một số tranh luận bị biến thành cãi vã vì mục đích hơn thua mà không vì sự mục đích phát triển. Cá biệt, vẫn còn những người sa vào quy chụp chính trị, cay cú, xúc phạm cá nhân người đối thoại. Đây là hiện tượng đáng buồn trong tranh luận học thuật. Trong thời đại công nghệ ngày nay, một số cây bút xuất hiện trên internet hoặc FB cá nhân (chính danh hoặc ẩn danh) để bôi nhọ, hạ thấp, sát thương người khác bằng thứ ngôn ngữ thô tục, chợ búa. Đây là hiện tượng cần được phê phán kịp thời vì sự tử tế trong nhân cách của nhà khoa học là yếu tố đầu tiên tạo nên đạo đức nghề nghiệp của họ.
Trong bối cảnh kinh tế thị trường và sự bùng nổ của truyền thông hiện đại, xuất hiện ngày càng nhiều tình trạng thương mại hóa trong phê bình văn học. Đó là lý do xuất hiện kiểu phê bình thù tạc, cánh hẩu, quảng cáo sản phẩm. Phê bình báo chí lấn át phê bình hàn lâm. Vai trò “ngự sử” của nhà phê bình bị quên lãng và thay vào đó là việc người viết sắm vai quảng cáo cho các sản phẩm thứ cấp. Đây là một hiện tượng “biến chất” cần được chấn chỉnh để tránh sự loạn chuẩn trong đánh giá nghệ thuật.
Tựu trung lại, sau 50 năm kể từ ngày thống nhất đất nước, tuy còn nhiều hạn chế, bất cập nhưng về cơ bản lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của một nền lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật hiện đại, nhân văn, giàu bản sắc, trước hết, đội ngũ cầm bút phải phát huy tối đa tài năng, bản lĩnh, sự tận hiến của mình, sau nữa, là sự quan tâm và “mát tay” của các “bà đỡ” là đội ngũ các nhà quản lý văn học, nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương trong cả nước.
________________________________
1. Trong những năm đầu đổi mới, diễn ra hàng loạt tranh luận về nhiều vấn đề lý luận văn học, trong đó có một số vấn đề được gợi ra từ các bài viết của Lê Ngọc Trà. Những tiểu luận này về sau được tập hợp trong Lý luận và văn học (1990), giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991.
2. Bài giới thiệu này được Hoàng Ngọc Hiến hoàn thành vào tháng 9/1987.
3. Về hạn chế của lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật, Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008) nêu rõ: “Hoạt động lý luận văn học nghệ thuật còn lạc hậu về nhiều mặt, chưa giải đáp được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác, có biểu hiện xơ cứng, kém năng động, giảm sút tác dụng tích cực đối với sáng tác. Lý luận văn nghệ và mỹ học mác- xít chưa được nghiên cứu và phát huy tương xứng với vai trò và giá trị của nó. Hoạt động phê bình văn học, nghệ thuật có biểu hiện tụt hậu so với yêu cầu, thực hiện chưa tốt chức năng hướng dẫn, điều chỉnh, đồng hành với sáng tác. Chất lượng và tính chuyên nghiệp của phê bình bị xem nhẹ; xuất hiện lối phê bình cảm tính, thiếu một hệ thống tiêu chí tin cậy để đánh giá tác giả và tác phẩm, văn hóa phê bình bị hạ thấp”.
PGS, TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
Nguồn: Tạp chí VHNT số 630, tháng 1-2026