Trong nền văn học, nghệ thuật của một dân tộc, lý luận, phê bình bao giờ cũng được coi là “đầu tàu”, một “cỗ máy” vận hành, điều khiển, định hướng cho sự phát triển chung của mọi hoạt động văn học nghệ thuật. Lý luận phê bình (LLPB) góp phần định hướng chuyên môn, điều tra thị hiếu công chúng, lựa chọn tài liệu, sách vở, xây dựng và đào tạo đội ngũ, cơ cấu và phát triển các lĩnh vực chuyên môn, ngành nghề. Nhìn từ phía trường học, LLPB có thể được coi như một thứ “hàn thử biểu”, một “cây cần ăng ten”, từ đó có thể lắng nghe được tất cả mọi diễn biến, thay đổi kịp thời nhất. Trường học (chính xác hơn: đại học), là môi trường đào tạo nhân lực chính cho mọi hoạt động văn học nghệ thuật: giáo viên và học sinh, những thành viên của các khâu “thu” và “phát”, “siêu tác giả” (super aurteur) và “siêu độc giả” (super lecteur)… Một cái nhìn lý luận phê bình văn học, nghệ thuật từ phía trường học sẽ giúp chúng ta có được những bài học đầy đủ và cụ thể hơn lĩnh vực hết sức đặc thù này. Bài tham luận chủ yếu chỉ tập trung khảo sát, phân tích một số trường hợp tiêu biểu, nổi bật nhất trong đời sống LLPB văn học, nghệ thuật từ sau 1975 (ở phía Bắc).

1. Hình thành nền lý luận phê bình văn học, thành lập các trường đại học

Việt Nam vốn không phải là môi trường thuận lợi cho việc phát triển lý luận, phê bình văn học nghệ thuật; lại càng không thể là trung tâm sản sinh ra các lý thuyết LLPB: ngôn ngữ dân tộc (chữ quốc ngữ) ra đời muộn, một thời gian dài vay mượn ngôn ngữ bên ngoài (Trung Hoa), đa phần là nông dân mù chữ, dân trí thấp, giao thông kém phát triển, kinh tế chủ yếu dựa trên canh tác nông nghiệp, giao tiếp với bên ngoài vô cùng khó khăn. Một thời gian dài, nền LLPB ấy chỉ có được một vài thành tựu vừa phải, kiểu “văn dĩ tải đạo” (văn phải tải đạo), hay “thi dĩ ngôn chí” (thơ phải nói chí); còn lại, chủ yếu chỉ phát triển ì ạch, trì trệ. Hệ thống lý luận phần nhiều chỉ là tập hợp những văn bản “tầm chương trích cú”, thiếu tính lý luận, lý thuyết (théorie), không có những định hướng lớn; phê bình thậm chí chỉ là những tán tụng, bình phẩm “tầm phào” trong những lúc “trà dư tửu hậu”. Vì thế văn chương, nghệ thuật chỉ nặng về “mỹ văn”, rất ít nội dung khoa học. Trong khi, văn học nghệ thuật cho dù được coi là lĩnh vực đặc thù, lấy hình tượng, con người, cái đẹp làm trung tâm nghiên cứu, thì đó vẫn là một bộ môn khoa học. Tức là vẫn cần đến những tư tưởng, khái niệm, những kiến thức chuẩn mực rút từ đời sống. Phải như vậy, LLPB văn học nghệ thuật mới có khả năng tác động tới đời sống, thỏa mãn và nâng cao nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ của con người. Từng một thời, văn học nghệ thuật nước ta, chính xác là văn chương, chủ yếu chỉ phục vụ cho mục đích “khoa cử”. Các trí thức phong kiến “quốc nội” hồi ấy đọc sách, học hành là để đi thi, đỗ đạt làm quan. Sự trì trệ, lạc hậu ấy kéo dài suốt hàng ngàn năm Bắc thuộc.

Nhưng, kể từ thời điểm 1930 và trước đó vài thập niên, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, công cuộc khai thác thuộc địa càng ngày càng sâu rộng, đã vô hình chung mang đến những “cơn gió mát lành” cho một bộ phận người Việt bấy giờ. Trong thời gian này, xã hội Việt Nam như được thổi một luồng gió mới. Một nền văn hóa Pháp nói chung, văn học Pháp nói riêng, kéo theo những tư tưởng tiến bộ, mới mẻ đã đem đến cho văn học nghệ thuật Việt Nam những bước tiến thần kỳ. Nhà thơ Tố Hữu cho rằng, sở dĩ có được những bước tiến thần kỳ mới mẻ ấy là vì trong xã hội Việt Nam đang hình thành một tầng lớp trí thức mới, biết tiếng Pháp, mang tư tưởng tiến bộ, tự do. Thế hệ trí thức ấy dễ dàng tiếp thu cái mới từ phương Tây, một cơ hội ngàn năm có một với một xã hội từ lâu vốn tù đọng. Một phong trào cách tân mạnh mẽ không chỉ trong văn thơ mà cả trong đời sống nghệ thuật nói chung, như sân khấu, hội họa, kiến trúc, âm nhạc. Về thơ có phong trào Thơ mới mà nhà phê bình Hoài Thanh nhận xét, chỉ chưa đầy 10 năm, đã có những bước phát triển vượt bậc bằng hàng trăm năm trong thơ ca Pháp. Văn xuôi có nhóm Tự lực văn đoàn chịu ảnh hưởng cùng lúc từ cả hai trào lưu lãng mạn và hiện thực Pháp. Bên cạnh đó, văn học hiện thực và yêu nước với tên tuổi của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Hồ Chí Minh, Tố Hữu… cùng với nhiều thể loại văn học mới đa dạng (truyện ngắn, ký sự, tiểu thuyết trào phúng, tiểu thuyết tâm lý) lần lượt ra đời, đặt nền móng cho sự phát triển của nền văn xuôi cách mạng Việt Nam từ sau năm 1975. Nghệ thuật âm nhạc, kiến trúc, hội họa cùng với nền phê bình cũng xuất hiện. Sân khấu, thực ra đã manh nha ảnh hưởng từ nền sân khấu phương Tây từ những năm đầu thế kỷ XX, bước vào thập niên 30-40, cũng có được những dáng vẻ mới mẻ. Sáng tác văn học, nghệ thuật ở cả hai miền đều phát triển khá phong phú. Nhưng đời sống LLPB văn học, nghệ thuật vẫn có sự phát triển chậm chạp, không đồng đều, miền Bắc thiên về lối lý luận phê bình minh họa, tuyên truyền; miền Nam, nhờ sự thuận lợi của giao lưu, tiếp xúc với phương Tây sớm, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu dịch thuật các khuynh hướng, tác phẩm mới mẻ hiện đại. Một số trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật hiện đại như chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại… đã được giới thiệu khá sớm trên văn đàn. So với phía Bắc, nền LLPB văn học, nghệ thuật phía Nam có điều kiện cởi mở, thông thoáng hơn. Tuy nhiên, đó cũng mới chỉ là những phác thảo bước đầu, chưa có những đột phá sâu rộng. Trên cơ sở này, vào năm 1943, Đề cương về văn hóa Việt Nam của Đảng cũng ra đời. Văn học, nghệ thuật đã có được những bước đi rõ nét hơn. Tuy nhiên, dù thế, trong suốt 10 năm kháng Pháp (1946-1954) và tiếp đó hơn 20 năm chống Mỹ, do yêu cầu tập trung chống xâm lược, mọi hoạt động văn học nghệ thuật, đặc biệt LLPB, kể cả những giao lưu, tiếp xúc với văn hóa, văn học nước ngoài, tạm bị ngưng lại. Nếu không có những trường đại học, sử dụng chữ quốc ngữ làm ngôn ngữ giảng dạy, thật khó có thể có được một nền học thuật lâu dài.

Quả thật, phải đến khi các trường đại học, nơi cả người dạy và người học có đủ khả năng nghiên cứu và học tập, có trình độ ngoại ngữ, được mở ra, một nền LLPB văn học nghệ thuật mới có thể giao lưu, đối thoại, trao đổi học thuật với thế giới bên ngoài. Với những yêu cầu cấp bách đó, ngày 10/10/1945, mặc dù nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, còn rất non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký nghị định thành lập trường đại học Việt Nam đầu tiên mang tên Đại học Văn khoa (về sau tách thành hai Trường Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp). Trường Đại học Tổng hợp ban đầu giảng dạy bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp. Tuy nhiên, do ngay sau đó, vào tháng 12/1946, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh buộc phải ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Do đất nước chiến tranh, đại học Việt Nam lúc đó chủ yếu chỉ đào tạo theo tính thời vụ, không có cơ sở chính thức, chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo một số ít học viên được tuyển chọn tại các vùng tự do như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Sau này khi kháng chiến thành công, trên cơ sở này, nhà nước đã cho phép tách thành hai trường Đại học Sư phạm và Tổng hợp. Trước đó, chúng cũng đã có Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương do Pháp thành lập. Tuy nhiên, đào tạo LLPB văn học nghệ thuật chủ yếu chỉ do hai nhóm trường Đại học Sư phạm và Tổng hợp đảm nhiệm. Đây đồng thời cũng là những trung tâm giao lưu, hợp tác quốc tế. LLPB nhờ đã có những bước tiến vượt bậc. Tuy nhiên, dù một nửa đất nước đã được giải phóng (1954), thậm chí cả đến ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng (1975), LLPB văn học nghệ thuật nước ta tuy có phát triển nhưng vẫn chưa có sự thay đổi về chất, vẫn là lối lý luận phê bình cũ, một chiều, kém hiện đại. Phải đến năm 1986, khi đất nước thực sự đổi mới, văn nghệ sĩ được tự do hơn, LLPB mới thực sự phát triển. Đó là lúc, nhiều lý thuyết LLPB văn học nghệ thuật nước ngoài tràn vào, nhiều phương pháp lý luận phê bình mới được tiếp thu. LLPB văn học nghệ thuật trong các trường và cả bên ngoài được khoác một gương mặt mới. Gương mặt ấy cụ thể như thế nào?

2. Những thành tựu của LLPB văn học Việt Nam trong tiếp thu phương Tây sau 1975, nhìn từ phía trường học

Kể từ sau 1975, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, đời sống văn học, nghệ thuật có điều kiện sang trang. Nhưng một đất nước vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, không chỉ 15 năm (chống Mỹ), mà còn cả cuộc chiến tranh chống Pháp trước đó, khoảng thời gian ấy kéo dài gần ba thập niên (tính từ 1945), sự thay đổi về mặt tư tưởng nói chung, LLPB văn học nghệ thuật nói riêng, vẫn chỉ có những bước đi chậm chạp, “dè chừng”. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng này. Khi người ta sống quá lâu trong tình trạng thụ động, bao cấp, một tư duy thông thoáng, cởi mở ngay lập tức là không dễ. Rồi còn cả vấn đề chính sách đối với văn học, nghệ thuật nói chung, không phải trong một hai ngày đã có sự thay đổi. Thêm cả những lý do bên ngoài, ở thời điểm sau 1975, nước ta bị bao vây, cấm vận, vấn đề giao lưu quốc tế là vô cùng khó khăn. Trình độ ngoại ngữ của không ít trí thức trong các trường đại học vẫn còn rất hạn chế. Vấn đề giao tiếp và dịch thuật, tiếp nhận hệ thống LLPB văn học nghệ thuật phương Tây là không dễ dàng. Sự hợp tác giữa các nhà khoa học là rất ít. Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh lúc ấy đã phải lên tiếng “Hãy tự cứu mình trước khi Trời cứu”. Tình trạng ấy kéo dài từ 1975-1985. Phải sang năm 1986, khi đất nước có Đổi mới, đời sống văn học nghệ thuật cũng được đổi mới theo. Trong các trường đại học, một đội ngũ các nhà giáo, các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực văn học nghệ thuật khác nhau, văn học, sân khấu, nghệ thuật tạo hình, điện ảnh - những lĩnh vực có cơ hội tiếp nhận các trào lưu, khuynh hướng, lý thuyết mới mẻ, cách tân. Chỉ tính riêng trong lĩnh vực văn học, có lẽ chưa có thời kỳ nào, hàng loạt các trào lưu, phương pháp, lý thuyết văn học phương Tây được tiếp nhận và phổ biến một cách rộng rãi: phân tâm học, mỹ học, chủ nghĩa hiện sinh, cấu trúc luận, hiện tượng luận, phong cách học, mỹ học tiếp nhận, liên văn bản, nghiên cứu nữ quyền, liên ngành, di dân, hậu hiện đại… những vấn đề còn rất mới mẻ ngay ở các nước phương Tây đã được dịch và giới thiệu ở Việt Nam. Có thể nói, sau một thời gian dài, đời sống văn học, nghệ thuật Việt Nam vốn tĩnh lặng, đơn điệu, đến thời kỳ này, như có một phép màu, mọi hoạt động văn học, nghệ thuật đã trở nên phong phú và rất sôi động. Các hoạt động sáng tác nhờ tiếp được sinh khí từ LLPB cũng trở nên phong phú và da dạng hơn. Tuy nhiên, sự kết nối này là không trực tiếp, ít có sức mạnh. Bởi lẽ, ở Việt Nam, hai lực lượng LLPB và sáng tác, cũng ít có sự kết nối với nhau. Người sáng tác không “phục” các nhà LLPB, họ ít tìm được tiếng nói chung với nhau. Hiện tượng này cho dù theo thời gian đã dần được khắc phục. Nhưng hầu như các hoạt động LLPB, chủ yếu chỉ diễn ra trong phạm vi trường học…

Bất chấp thực tế đó, các thành tựu LLPB trong trường đại học, vẫn ngày một dày dặn thêm. Điều đó cũng dễ hiểu, vì lẽ, đội ngũ những nhà nghiên cứu, lý luận trong môi trường đại học, phần lớn đều có điều kiện tiếp thu kiến thức, có trình độ ngoại ngữ, có cơ hội giao lưu tiếp xúc với bên ngoài, những công trình lý luận mới mẻ, hiện đại từ khắp mọi nơi trên thế giới đã được biên dịch, nghiên cứu, giảng dạy, để từ đó hình thành những chuyên khảo, chuyên luận sâu sắc và mới mẻ. Tại sao lại có sự bùng nổ những công trình nghiên cứu, giáo trình, dịch thuật của các thầy cô giáo tại các trường đại học Việt Nam từ sau 1986? Có nhiều lý do. Trước tiên, đó là thời điểm Đại hội VI của Đảng, đại hội của sự đổi mới. Nhưng lý do cơ bản nhất, với tư cách là người truyền thụ kiến thức trong môi trường đại học, bản thân các giảng viên đều ý thức về trách nhiệm truyền dạy của mình. Trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, họ đồng thời cũng tích lũy được những kiến thức nền cơ bản và có trình độ ngoại ngữ. Thứ hai, có lẽ không đâu như trong các môi trường đại học, một thế hệ những người trẻ mang tầm tri thức mới, khát vọng mới trong việc xây dượng môi trường tri thức, đông đảo đến như thế. Chính từ đây đã hình thành một đội ngũ các chuyên gia đầu ngành để lại tiếp tục tạo ra những thế hệ kế cận, có đủ trình độ cho ra đời những công trình giới thiệu và dịch thuật LLPB văn học nghệ thuật có chất lượng. Có thể nêu ra đây một số tên tuổi và công trình LLPB văn học, nghệ thuật tiêu biểu nhất. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 có Phương Lựu với Tìm hiểu lý luận phê bình văn học phương Tây hiện đại (1995), Mười trường phái lý luận phê bình văn học phương Tây (1999), Lý luận phê bình văn học thế kỷ XX (2001), Lý thuyết văn học hậu hiện đại (2011); Trần Đình Sử: Dẫn luận thi pháp học (1998), Văn học so sánh, nghiên cứu và triển vọng (biên soạn chung, 2005), Phong cách Truyện Kiều (2002); La Khắc Hòa: Phê bình ký hiệu học - Đọc văn như là hành trình tái hiện ngôn ngữ (2018), Lý luận văn học, những vấn đề hiện đại (2015); Phùng Văn Tửu: Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật (2010), Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI (2005); Đặng Anh Đào: Việt Nam và phương Tây - tiếp nhận giao thoa trong văn học (2007), Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây thế kỷ XX (2014), Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật của Denis Diderot (dịch, 2017); Lê Huy Bắc: Văn học hậu hiện đại - lý thuyết và tiếp nhận (2017), Lý luận phê bình văn học Anh - Mỹ (chủ biên, 2002), Hemingway - núi băng và hiệp sĩ (2003); Lê Nguyên Cẩn: Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại (dịch, 2013); Nguyễn Thị Từ Huy: Kafka vì một nền văn học thiểu số (dịch, 2013). Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn) có Phạm Văn Sĩ với Về tư tưởng và văn học phương Tây hiện đại (1986); Đỗ Đức Hiểu: Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa (1976), Thi pháp hiện đại - những vấn đề lý thuyết và ứng dụng (2014); Lê Hồng Sâm: Văn học Pháp suy nghĩ và cảm nhận (2018), Bản mệnh của lý thuyết - Văn chương và cảm nghĩ thông thường (dịch chung với Đặng Anh Đào, 2015); Đặng Thị Hạnh: Tiểu thuyết Victor Hugo (2012), Một vài gương mặt văn xuôi Pháp thế kỷ XX (2000); Trần Ngọc Vương, Nguyễn Thu Thủy: Cấu trúc văn bản nghệ thuật của Lotman (2004), Logic học và các thể loại văn học của Kate Hamburger (dịch với Vũ Hoàng Địch, 2004); Trần Hinh: Tiểu thuyết Camus trong bối cảnh tiểu thuyết Pháp thế kỷ XX (2005), Tiểu thuyết phương Tây thế kỷ XX - Khuynh hướng, tác giả, tác phẩm (2016), Đọc truyện ngắn (dịch chung, 2017); Đào Duy Hiệp: Phê bình văn học, từ lý thuyết hiện đại (2008); Trần Nho Thìn: Thi pháp của huyền thoại (dịch chung, 2004); Phạm Gia Lâm Văn học Nga hải ngoại - Quá trình, đặc điểm, tiếp nhận (2015); Nguyễn Thị Như Trang Nghệ nhân và Margarita (2016); Nguyễn Thùy Linh Samuel Beckett và sự cách tân kịch Pháp thế kỷ XX (2016); Lê Nguyên Long: Chủ nghĩa Marx và phê bình văn học (dịch, 2009). Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Trường Đại học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh) có Huỳnh Như Phương với Chủ nghĩa hình thức Nga (2000), Những cuộc hội ngộ của văn chương thế giới (biên soạn, dịch chung, 2019), Huyền thoại và văn học (nhiều tác giả, biên soạn, dịch thuật, 2007). Đại học Khoa học Huế có Nguyễn Bửu Nam với Các trường phái lý luận và phê bình văn học phương Tây hiện đại và sự tiếp biến ở Việt Nam (2016); Nguyễn Văn Thuấn: Giáo trình lý thuyết liên văn bản (2024), Tính liên văn bản - thuật ngữ mới trong nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa (dịch, 2025); Hồ Thế Hà, Nguyên Thành, Nguyễn Văn Dũng: Phân tâm học và văn học (2014); Trần Huyền Sâm: Văn chương lâm nguy (dịch, 2011). Trường Đại học Sư phạm 2 có Phùng Gia Thế với Những dấu hiệu của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn xuôi đương đại Việt Nam giai đoạn 1986-2012 (2016). Trường viết văn Nguyễn Du có Phạm Vĩnh Cư với Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (dịch,1992); Trường Đại học Hà Nội có Nguyễn Thị Thanh Xuân với Nữ quyền và Tự truyện - Văn bản lý thuyết, phương pháp (dịch, 2013)… Có thể nói, đây là nơi lưu trữ và xuất bản rất nhiều những công trình LLPB văn học nghệ thuật mới mẻ, hiện đại, cập nhật khá đầy đủ các lý thuyết ngữ văn thịnh hành trên thế giới.

Có thể khẳng định, trong suốt nửa thế kỷ trở lại và phát triển, LLPB văn học nước ta, đặc biệt trong lĩnh vực tiếp thu và phổ biến hệ thống LLPB văn học nghệ thuật phương Tây, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều hơn cả hàng chục năm trước đó.

3. Nhận xét về thành tựu và hạn chế trong việc tiếp thu LLPB văn học phương Tây từ sau 1975 - Một vài kiến nghị

Nhìn những con số thống kê thành tựu LLPB văn học tiếp thu từ phương Tây trong các trường đại học) trên đây, chúng ta tạm thời có thể bằng lòng. Đó là một con số đáng khích lệ. Nhìn trên bình diện chung của cả nước, mặc dù sự thống kê là chưa toàn diện (còn thiếu tên tuổi các nhà LLPB bên ngoài trường học và phía Nam), nhưng sự đa dạng và phong phú của những công trình, xuất bản phẩm, đã cho thấy một sự khích lệ. Để giúp vào việc đánh giá công bằng những thành quả này và tìm ra những hạn chế cần khắc phục, góp phần phát triển có hiệu quả hơn nữa những hoạt động tiếp nhận LLPB phương Tây, chúng ta cần chú trọng những điểm cụ thể như sau:

Thứ nhất, trên bình diện lý luận, cần phải làm rõ và thống nhất cách hiểu chính xác về mặt thuật ngữ lý luận (lý thuyết) và phê bình văn học. Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, hai thuật ngữ này như một cặp phạm trù luôn đi cùng nhau. Lý luận/ lý thuyết (théorie) là chỉ hệ thống các nguyên lý, khái niệm dùng để giải thích, lý giải, phân tích một số hiện tượng, vấn đề nổi lên trong đời sống sáng tác văn học nghệ thuật của một thời kỳ, một giai đoạn phát triển nào đó. Lý luận/ lý thuyết lẽ đương nhiên trước tiên nhằm tổng kết các hoạt động, hiện tượng văn học được coi là nổi bật; sau nữa lý luận/ lý thuyết cũng góp phần thực hành, định hướng các hoạt động văn học nghệ thuật trong thực tiễn đời sống. Tại các nước phương Tây, lý thuyết hay lý luận đều được hiểu như nhau. Tuy nhiên, ở nước ta từ trước tới nay vẫn còn một số người chưa phân biệt rạch ròi hai khái niệm này. Họ coi lý thuyết như một lĩnh vực gì đó “cao siêu” hơn; trong khi lý luận chỉ như một khuynh hướng phái sinh ở mức độ thấp, không có sự hoàn chỉnh hoàn thiện của hệ thống khoa học. Thực ra không phải thế. Lý thuyết hay lý luận chỉ là những cách gọi khác nhau của một thuật ngữ cùng nội hàm. Lý luận/ lý thuyết chỉ khác với phê bình (critique), một hoạt động phái sinh của lý thuyết/ lý luận. Nếu giả thiết lý luậnphê bình như là hai phạm trù khác biệt với nhau, thì chúng ta có thể hình dung, lý luận chính là lý thuyết còn phê bình là thực tiễn. Đây là cặp phạm trù thống nhất và đối lập nhau. Bởi trong khi lý luận chỉ hướng vào cái chung, cái khái quát, được tư duy bằng những khái niệm, hệ thống, thì phê bình có nhiệm vụ cụ thể đào sâu phân tích, đánh giá, nhận xét một hiện tượng hay một tác phẩm văn học cụ thể; từ đó rút ra những bài học có thể áp dụng trong quá trình sáng tác. Xét về thực tế, phê bình mang lại những kết quả thiết thực và cụ thể hơn. Nhưng lý thuyết/ lý luận lại là những ánh sáng định hướng có tác dụng soi chiếu.

Để vận hành các hoạt động lý luận, phê bình, có một hoạt động mang tính chất công cụ, đó là phương pháp (méthode) hay phương pháp luận (méthodologie). Phương pháp hay phương pháp luận đều là chỉ cách thức, phương pháp, con đường, các bước đi cụ thể để tiếp cận, phân tích vấn đề nêu ra. Trong mối tương quan, lý luận/ lý thuyết là cái tư duy giúp lựa chọn phương pháp phù hợp để xử lý, giải quyết tốt nhất mục tiêu nghiên cứu… Nói tóm lại, công cụ cơ bản để LLPB có được hướng đi, hướng tiếp cận thực tế tác phẩm tốt nhất.

Thứ hai, trên bình diện thực tiễn, sự tiếp thu LLPB văn học, nghệ thuật phương Tây trong LLPB văn học, nghệ thuật ở nước ta thực ra không chỉ bắt đầu từ sau 1975. Ngay từ giai đoạn 1930-1945, khi Thơ mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn ra đời, nền LLPB ấy đã có những bước thay đổi cơ bản. Không phải ngẫu nhiên, nhà phê bình Hoài Thanh đã lên tiếng khẳng định: “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ” (Hoài Thanh, Hoài Chân, 1932, tr.15). Chính cuộc cách mạng này cũng là tiền đề cho Đề cương về văn hóa Việt Nam 1943 của Đảng ra đời. Đến năm 1958, nhà nghiên cứu - học giả Đặng Thai Mai đã lần đầu tiên viết những khái niệm lý luận tiếp thu từ lý luận phương Tây cuốn Khái luận văn học (1958). Muộn hơn sau này, một công trình mới mẻ tiếp thu từ phương pháp phân tích văn bản Chinh phụ ngâm của chính tác giả, cũng nằm trong vệt đổi mới đó. Tuy nhiên, vì những lý do đặc biệt, phải tận đến 1986, khi đất nước đổi mới toàn diện, một công cuộc đổi mới bài bản và hệ thống tiếp thu LLPB văn học nghệ thuật phương Tây mới thực sự diễn ra. Trong thời gian hơn nửa thế kỷ đó, giới trí thức tại các trường đại học đã thực sự làm thay đổi căn bản đời sống LLPB nước nhà. Gần như hầu hết các vấn đề thuộc các lĩnh vực LLPB phương Tây đã được giới thiệu và phổ biến. Tất nhiên, việc giới thiệu đó vẫn còn không ít hạn chế. Đó là tính thiếu bài bản và hệ thống trong các công trình LLPB, kể cả những nghiên cứu và dịch thuật. Mặc dù, tại khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, ngay từ thập niên 70 (trước 1986), đã có một số công trình dịch thuật do các dịch giả Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Chu Xuân Diên và một số nhà nghiên cứu dịch giả khác được in dưới dạng ronéo, sử dụng lưu hành nội bộ. Đó là các đầu sách Sáng tác của François Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng, Thi pháp tiểu thuyết của Barkhtin, Nghệ thuật tiểu thuyết Dostoyevsky, các trào lưu lý thuyết cấu trúc, nghiên cứu thi pháp, các vấn đề về tác giả và thể loại văn học (văn học phi lý với các tác giả như Ionexco, Beckett…). Sau này, đến 1992, nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư (Trường viết Văn Nguyễn Du) mới dịch và công bố Lý luận và thi pháp tiểu thuyết mà ông tuyển chọn từ ba công trình nổi tiếng của nhà lý luận lưu vong người Nga Mikhaiin Bakhtin Những vấn đề thi pháp của Dostoyevsky (1963), Những vấn đề về văn học và mỹ học (1975), Các bài phê bình văn học (1980). Thi pháp hay thi pháp học (poètique) ở các nước phương Tây thực ra không phải là điều quá mới mẻ. Ngay từ thế kỷ IV trước công nguyên, Aristoteles, nhà triết học người Hy Lạp đã đề cập đến khái niệm này qua công trình nổi tiếng được coi là nền tảng đầu tiên của lý luận thi pháp: Thi học (Nghệ thuật thi ca, Poètique). Ở nước ta, phải đến tận cuối những năm thập niên 90 của thế kỷ XX, khi giáo sư Trần Đình Sử (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) chính thức công bố Dẫn luận thi pháp học, LLPB Việt Nam mới tạo thành một làn sóng sôi động. Trước khi in cuốn sách này, thực ra Trần Đình Sử đã công bố một số bản in nội bộ cùng chủ đề này; hoặc nữa, trước và sau đó, ông cũng viết nhiều công trình nghiên cứu thi pháp dưới dạng ứng dụng, phân tích những trường hợp cụ thể (Phong cách Truyện Kiều của Nguyễn Du, Phong cách thơ Tố Hữu, Phong cách văn học trung đại Việt Nam…). Không thể phủ nhận, kể từ sau những công trình của Trần Đình Sử, nghiên cứu thi pháp ở Việt Nam mới được nhiều người biết đến, thành “thời thượng” (àlamode) và cũng khiến không ít người ngộ nhận. Nhà phê bình Lại Nguyên Ân, trong một bài viết của mình trên Báo Thể thao và Văn hóa hồi ấy từng cho rằng, không ít nhà nghiên cứu Việt Nam, đặc biệt là giới nghiên cứu sinh đã hiểu và ứng dụng không đúng vấn đề thi pháp trong các nghiên cứu của mình. Thi pháp không phải là một lý thuyết mà chỉ là một phương pháp. Nó có thể rất mới mẻ với các nhà lý luận phê bình Việt Nam lúc bấy giờ, nhưng không mới với các nhà nghiên cứu ngữ văn phương Tây. Về điều này, một nhà nghiên cứu học tập từ một nước phương Tây về, TS Nguyễn Văn Dân, người từng công bố không ít công trình nghiên cứu thi pháp, đã xuất bản cuốn sách có tên Phương pháp luận nghiên cứu văn học (2004), trong đó một loạt các trào lưu, khuynh hướng, chính xác hơn là các phương pháp tiếp cận các lý thuyết đã được phân tích, diễn giải. Chẳng hạn: Phương pháp thực chứng, hình thức, hiện tượng học, cấu trúc, hậu cấu trúc, trực giác, tâm lý học, giải thích học, tiểu sử, so sánh, mỹ học, loại hình, hệ thống, tổng hợp và liên ngành… Rất nhiều các công trình sách vở, luận văn, luận án được công bố của các nhà nghiên cứu Việt Nam từ sau 1975 thuộc dạng này. Có thể khẳng định, với cách tiếp cận tác phẩm văn chương từ Thi pháp, LLPB văn học, nghệ thuật Việt Nam từ sau 1975 đã rõ ràng, sắc nét hơn. Sự phân tích nội dung hời hợt đã ít dần. Tuy nhiên, cũng chưa thể nói, LLPB văn học Việt Nam từ thời kỳ này theo kịp hoàn toàn phương Tây. Phải một thời gian khi Trần Đình Sử công bố những công trình nghiên cứu thi pháp của ông, phương pháp nghiên cứu mới mẻ này mới trở thành một hướng nghiên cứu thực sự. Nối tiếp Trần Đình Sử, ở Việt Nam, còn có một nhà nghiên cứu khác, nhờ sớm tiếp xúc với hệ thống lý luận phương Tây, đã làm mới thêm cho hướng nghiên cứu này. Đó là GS Đỗ Đức Hiểu, chuyên gia hàng đầu về văn học Pháp tại khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Vào những năm 2000, bằng sự mẫn cảm và sự uyên bác, vị giáo sư này đã công bố không dưới 4 công trình nghiên cứu thi pháp ứng dụng trong văn học Việt Nam. Ông gọi đó là thi pháp hiện đại. Năm 1978, thời điểm trước khi đổi mới, Đỗ Đức Hiểu đã viết công trình Phê phán văn học hiện sinh (1978), một trong những trào lưu lý thuyết thịnh hành ở phương Tây thập niên 60 của thế kỷ XX. Một số nhà nghiên cứu văn học ở bên ngoài và ngay cả ở Việt Nam, đã tỏ ý chê trách cuốn sách này. Người ta cho rằng, tác giả chưa đánh giá đúng những đóng góp của chủ nghĩa hiện sinh, một trào lưu mà Jean Paul Sartre, vị chủ soái của nó, gọi là một chủ nghĩa nhân văn. Thực ra, sự phê phán của Đỗ Đức Hiểu ở thời điểm đó có điểm đúng nhưng vẫn thiếu công bằng. Nên nhớ, ở thời điểm công bố cuốn sách, LLPB ở nước ta vẫn chưa kịp đổi mới, vẫn còn rất thiếu những công trình LLPB văn học nước ngoài. Bằng vốn tự đọc tiếng Pháp thuần thục, Đỗ Đức Hiểu không cố tình né tránh phương pháp nghiên cứu Mác xít trong công trình của ông. Phần viết của ông về hoàn cảnh ra đời, triết học hiện sinh và phong trào hiện sinh trong văn học Pháp là hết sức có đóng góp. Còn việc, một nhà nghiên cứu trong tư cách nhà giáo, trường học đặt bút phê bình một vài quan điểm lạc lõng nào đó của các nhà văn hiện sinh (Jean Paul Sartre, Albert Camus, Ionexco, Samuel Beckett…) thì không có gì sai cả.

Muộn hơn một chút vào những năm 1993, 1999, 2000, 2011, 2012 và trước đó ở phía Nam, đã xuất hiện những công trình hoàn chỉnh và khách quan hơn về trào lưu lý thuyết này (Nguyễn Tiến Dũng, 2012), (Trần Thiện Đạo, 2000)... LLPB văn học nói riêng và LLPB khoa học xã hội nói chung khó tránh bị chi phối bởi vấn đề ý thức hệ, chính trị và tư tưởng. Mỗi dân tộc đều có những hoàn cảnh khác nhau, nhu cầu về hưởng thụ tri thức nhân loại chung cũng có những điểm khác nhau. Thật khó tìm được tiếng nói tuyệt đối chung giữa các nền LLPB. Nếu không, tại sao thời điểm trước 1975, khi đất nước ta còn trong hoàn cảnh chiến tranh, dân trí chưa cao, những trào lưu lý thuyết hiện đại như Phân tâm học, Cấu trúc luận, Chủ nghĩa hình thức, Hậu thuộc địa, Vấn đề trung tâm và ngoại biên, Vấn đề di dân, Liên văn bản… lại chưa được phổ biến ở nước ta một cách rộng rãi? Chỉ sau 1986, khi mọi rào cản được gỡ bỏ, các trường đại học Việt Nam mới thể hiện đầy đủ năng lực vốn có của mình. Bên cạnh Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu như chúng tôi nhắc ở trên, còn có nhiều nhà nghiên cứu phê bình thế hệ sau, như Lã Nguyên (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội), Huỳnh Như Phương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh), Hồ Thế Hà, Nguyễn Văn Thuấn, Trần Huyền Sâm (Trường Đại học Khoa học Huế), Nguyễn Bửu Nam (Trường Đại học Sư phạm Huế)… Trên tất cả các vấn đề này, rõ ràng, giới học thuật các trường đại học đã có rất nhiều cố gắng trong việc thay đổi nền LLPB nước nhà. Rất tiếc chúng tôi chưa có dịp nhắc đến những tên tuổi và công trình của các nhà nghiên cứu trẻ hơn và bên ngoài. Chính họ đã bổ sung cho sự phong phú đa dạng và sôi động của một nền LLPB Việt Nam mới, có thể hội nhập được với khu vực và thế giới.

Cuối cùng, chúng tôi muốn nêu một vài kiến nghị về hạn chế mà nền LLPB văn học Việt Nam tiếp thu từ phương Tây từ sau 1975, cần phải khắc phục:

Một là, về LLPB, tuy có nhiều công trình nghiên cứu và dịch thuật cập nhật những vấn đề hiện đại nhất của LLPB phương Tây đã được công bố, nhưng việc giới thiệu nên có lựa chọn đích đáng hơn, tránh những vấn đề lý luận cực đoan, không phù hợp với yêu cầu LLPB trong nước, làm mất thời gian của người đọc và không có lợi cho việc dạy và học trong trường.

Hai là, phải cân đối sao cho phù hợp việc giới thiệu những trào lưu lý thuyết và phương pháp tiếp cận tác phẩm LLPB, xích lại gần hơn việc giảng dạy và học tập trong nhà trường với những hoạt động LLPB bên ngoài xã hội; tận dụng những tiến bộ trong công nghệ số, công nghệ AI, để tránh việc trùng lặp trong nghiên cứu, phê bình và dịch thuật; tăng cường những bài viết quốc tế giới thiệu nền LLPB trong nước.

Ba là, tránh tình trạng không đồng đều giữa việc giới thiệu, giảng dạy LLPB trong nước và thế giới, giữa phương Đông và phương Tây; tăng cường những công trình giới thiệu và dịch thuật có tính chất liên ngành, nhất là với những ngành gần gũi nhau như văn học, sân khấu, điện ảnh. Tại khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội nhiều năm qua đã thực hiện chương trình này. Nhiều công trình dịch thuật về nghệ thuật điện ảnh đã được đưa vào giảng dạy cho cả sinh viên văn học và biên kịch điện ảnh. Đó là một hướng rất đáng khích lệ hiện nay.

Bốn là, việc đào tạo các thế hệ kế cận giảng dạy và nghiên cứu văn học nói chung, văn học phương Tây nói riêng, đang bị thiếu hụt một cách trầm trọng. Do phải điều chỉnh chương trình đào tạo trong thời kỳ mới, thời gian giảng dạy văn học nước ngoài nói chung và văn học phương Tây nói riêng, bị cắt giảm rất nhiều, số lượng giảng viên phụ trách môn học này ở một số khoa chuyên ngành thuộc Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ở con số thấp một cách đáng báo động. Trong khi, việc tiếp thu, tiếp nhận và nhu cầu hiểu biết văn học nước ngoài nói chung và LLPB văn học nước ngoài nói riêng, vẫn cần phải được duy trì và phát triển. Nếu không sớm khắc phục hạn chế này, đội ngũ những nhà nghiên cứu phê bình, dịch thuật văn học nước ngoài nói chung và phương Tây nói riêng sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng. Đó là những cảnh báo cần thiết.

____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Đỗ Đức Hiểu. (1978). Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa. Nhà xuất bản Văn học.

2. Đỗ Đức Hiểu. (1993). Đổi mới phê bình văn học. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

3. Đỗ Đức Hiểu. (1999). Đổi mới đọc và bình văn. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn.

4. Đỗ Đức Hiểu. (2000). Thi pháp hiện đại. Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

5. Đỗ Đức Hiểu. (2012). Thi pháp hiện đại - những vấn đề lý luận và ứng dụng. Nhà xuất bản Giáo dục.

6. Hoài Thanh, Hoài Chân. (2008). Thi nhân Việt Nam. Nhà xuất bản Văn học.

7. Nguyễn Văn Dân. (2004). Phương pháp luận nghiên cứu văn học. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

8. Nguyễn Tiến Dũng. (2012). Chủ nghĩa hiện sinh: Lịch sử, sự hiện diện ở Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

9. Trần Thiện Đạo. (2000). Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc. Nhà xuất bản Văn hóa.

TRẦN HINH

Nguồn: Tạp chí VHNT số 633, tháng 2-2026