Từ chủ trương đổi mới đến động lực chiến lược của thể thao Việt Nam
Những sân bóng đá cỏ nhân tạo, trung tâm thể hình, gym, fitness, các câu lạc bộ golf, hệ thống bể bơi tư nhân, các giải chạy thu hút hàng chục nghìn người tham gia cho tới những câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp hay các đội tuyển Esports thi đấu quốc tế, các giải đấu mang tầm quốc tế được tổ chức chuyên nghiệp… tất cả đều là dấu ấn của xã hội hóa hiện diện ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống thể thao.
Ðiều đó cho thấy xã hội hóa TDTT không còn đơn thuần là một giải pháp hỗ trợ ngân sách nhà nước mà đã trở thành một động lực phát triển quan trọng, góp phần mở rộng quy mô phong trào thể thao quần chúng, nâng cao thành tích thể thao đỉnh cao và từng bước hình thành nền kinh tế thể thao tại Việt Nam.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, việc nhìn lại tiến trình xã hội hóa thể thao không chỉ nhằm tổng kết những thành tựu đã đạt được mà còn để xác định những hướng đi chiến lược cho tương lai.
Khi công cuộc đổi mới được phát động từ Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, Việt Nam từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình đó đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy phát triển đối với nhiều lĩnh vực sự nghiệp công, trong đó có thể dục thể thao. Tuy nhiên, cũng không có gì ngạc nhiên khi TDTT dường như có những bước đi chậm hơn so với một số lĩnh vực khác, bởi tư duy sai lầm rằng đây chỉ là “ngành tiêu tiền”, là “vui chơi, giải trí”…
Một trong những dấu mốc quan trọng là Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1993), khi Ðảng xác định chủ trương huy động các nguồn lực xã hội tham gia phát triển các lĩnh vực văn hóa - xã hội. Trong lĩnh vực thể thao, đây là tiền đề cho việc thay đổi nhận thức rằng Nhà nước không thể và cũng không nên là chủ thể duy nhất đầu tư cho sự phát triển của ngành. Thập niên 1990 cũng đã chứng kiến sự xuất hiện của nhiều mô hình mới như câu lạc bộ thể thao ngoài công lập, sân tennis tư nhân, các trung tâm võ thuật, thể hình và dịch vụ thể thao tự đầu tư bằng nguồn vốn xã hội. Dù còn manh mún và mang tính tự phát, đây chính là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho quá trình xã hội hóa thể dục thể thao tại Việt Nam.

Hoàn thiện hành lang pháp lý cho xã hội hóa
Nếu giai đoạn đầu là sự hình thành tư duy, thì từ đầu những năm 2000 trở đi là giai đoạn thể chế hóa mạnh mẽ. Ðặc biệt, vào năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. Ðây được xem là văn bản mang tính nền tảng, xác lập rõ chủ trương huy động các nguồn lực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.
Năm 2006, Luật Thể dục thể thao (TDTT) lần đầu tiên tạo hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho sự phát triển của các tổ chức xã hội nghề nghiệp, câu lạc bộ thể thao chuyên nghiệp và các mô hình kinh doanh dịch vụ thể thao. Tiếp đó, Nghị định số 69/2008/NÐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đã đưa ra nhiều cơ chế ưu đãi về đất đai, thuế và tín dụng đối với các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực thể dục thể thao.
Ðến năm 2018, Luật TDTT sửa đổi tiếp tục bổ sung các quy định liên quan đến thể thao chuyên nghiệp, kinh doanh thể thao và huy động nguồn lực xã hội. Gần đây nhất, Kết luận số 70-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển thể dục thể thao trong giai đoạn mới cùng Chiến lược phát triển thể dục thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã đặt ra yêu cầu tiếp tục đổi mới cơ chế huy động nguồn lực xã hội, phát triển kinh tế thể thao và công nghiệp thể thao như những động lực tăng trưởng mới. Theo chỉ đạo của Bộ VHTTDL, ngành TDTT trên toàn quốc cũng đang tiến hành các bước tổng kết thực tiễn vận dụng Luật TDTT sửa đổi bổ sung năm 2018 để đổi mới một cách toàn diện, căn bản theo hướng tạo hành lang pháp lý tốt nhất để phát triển kinh tế thể thao trên cơ sở thu hút và phát huy các nguồn lực xã hội hóa.
Có thể nói, sau hơn 2 thập kỷ, hệ thống chính sách về xã hội hóa thể thao đã từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý cho sự tham gia ngày càng sâu rộng của khu vực ngoài công lập.
Những con số phản ánh sức sống của xã hội hóa
Hiệu quả của quá trình xã hội hóa được thể hiện rõ nhất qua sự phát triển của phong trào thể dục thể thao quần chúng.
Theo số liệu của ngành TDTT, tỷ lệ người dân tập luyện TDTT thường xuyên chỉ ở mức trên dưới 13% vào đầu những năm 2000. Ðến năm 2010, con số này tăng lên khoảng 25%. Giai đoạn sau đó tiếp tục duy trì đà tăng trưởng và hiện nay đã tiến gần ngưỡng 40%. Tỷ lệ gia đình thể thao cũng tăng từ mức dưới 10% (đầu thập niên 2000) lên trên 30%.
Ðằng sau những con số đó là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống cơ sở thể thao ngoài công lập. Hàng nghìn trung tâm fitness, yoga, võ thuật, bơi lội, cầu lông, tennis, pickleball đang hoạt động trên cả nước. Hàng chục nghìn câu lạc bộ thể thao cộng đồng đã và đang góp phần đưa thể thao trở thành một phần của đời sống thường nhật.
Một ví dụ điển hình là phong trào chạy bộ. Nếu cách đây khoảng 15 năm, cả nước chỉ có vài giải chạy quy mô lớn thì hiện nay có hàng trăm giải diễn ra mỗi năm. Nhiều giải do các đơn vị ngoài Ngành TDTT tổ chức với kinh phí 100% xã hội hóa đã thu hút từ 10.000 đến hơn 20.000 vận động viên, qua đó cũng tạo ra nguồn thu đáng kể cho ngành du lịch, lưu trú và dịch vụ các địa phương đăng cai.
Ðây là minh chứng sinh động cho việc khi nguồn lực xã hội được khơi thông, thể thao có thể phát triển với tốc độ rất nhanh mà không cần phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước.

Xã hội hóa và bước chuyển của thể thao thành tích cao
Trong lĩnh vực thể thao thành tích cao, xã hội hóa cũng đang đóng vai trò ngày càng quan trọng. Bóng đá là ví dụ tiêu biểu nhất. Sau hơn 20 năm chuyên nghiệp hóa, phần lớn nguồn lực vận hành các câu lạc bộ, đào tạo trẻ và tổ chức giải đấu đều đến từ doanh nghiệp. Dù vẫn còn nhiều khó khăn, bóng đá chuyên nghiệp đã chứng minh hiệu quả của việc huy động nguồn lực xã hội trong phát triển thể thao đỉnh cao.
Golf cũng là một minh chứng. Từ chỉ vài sân golf đầu tiên vào những năm 1990, đến nay Việt Nam đã hình thành hệ thống sân golf trải rộng trên cả nước, hầu hết được đầu tư hoàn toàn bằng nguồn vốn xã hội hóa. Không chỉ góp phần phát triển thể thao, golf còn trở thành sản phẩm du lịch có giá trị cao.
Bóng rổ chuyên nghiệp với Giải VBA, hệ thống học viện bóng đá tư nhân, các trung tâm đào tạo võ thuật ngoài công lập hay sự phát triển nhanh chóng của pickleball đều phản ánh xu thế ngày càng rõ nét của xã hội hóa trong thể thao thành tích cao.
Ðặc biệt, thể thao điện tử (Esports) đang nổi lên như một mô hình xã hội hóa rất đáng chú ý. SEA Games 31 tại Việt Nam đánh dấu lần đầu tiên một môn thi đấu được tổ chức hoàn toàn bằng nguồn lực xã hội hóa, từ công tác tổ chức, vận hành đến chuẩn bị lực lượng thi đấu. Ðến nay, nhiều đội tuyển Esports quốc gia tham dự SEA Games, ASIAD hay các giải vô địch thế giới vẫn được hỗ trợ hoàn toàn từ doanh nghiệp và các nhà phát hành trò chơi.
Từ xã hội hóa thể thao đến hình thành nền kinh tế thể thao
Một trong những thay đổi quan trọng nhất của thể thao Việt Nam trong 3 thập kỷ qua là sự xuất hiện ngày càng rõ nét của khái niệm “kinh tế thể thao”.
Nếu trước đây thể thao chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ văn hóa - xã hội, thì ngày nay thể thao còn là một ngành kinh tế có khả năng tạo ra việc làm, doanh thu và giá trị gia tăng.
Nhiều nghiên cứu quốc tế cho thấy ngành công nghiệp thể thao có thể đóng góp từ 1-3% GDP tại các quốc gia phát triển. Dù Việt Nam chưa có thống kê đầy đủ, nhưng tốc độ tăng trưởng của các lĩnh vực liên quan cho thấy tiềm năng rất lớn. Ðây chính là bước phát triển mới của xã hội hóa: từ huy động nguồn lực bổ sung cho thể thao sang hình thành những chuỗi giá trị kinh tế mới dựa trên thể thao.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình xã hội hóa vẫn còn đối mặt với không ít thách thức. Thứ nhất là vấn đề đất đai. Nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư vào thể thao nhưng gặp khó khăn trong tiếp cận quỹ đất hoặc thời hạn khai thác chưa đủ dài để đảm bảo hiệu quả đầu tư. Thứ hai là cơ chế ưu đãi đầu tư còn hạn chế. Các chính sách thuế, tín dụng và hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào thể thao chưa thực sự hấp dẫn. Thứ ba là cơ chế hợp tác công - tư (PPP) trong thể thao vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Thứ tư là hiệu quả khai thác các công trình thể thao công lập còn chưa cao. Nhiều công trình có giá trị lớn nhưng chưa được vận hành theo cơ chế thị trường để tạo thêm nguồn lực cho phát triển (xem bài cùng số này). Bên cạnh đó, nhiều liên đoàn và hiệp hội thể thao vẫn phụ thuộc đáng kể vào ngân sách, chưa xây dựng được mô hình tài chính bền vững.

Từ huy động nguồn lực đến kiến tạo hệ sinh thái thể thao và một nền thể thao hiện đại
Ðiểm đáng chú ý là nội hàm của khái niệm xã hội hóa đang thay đổi. Nếu như những năm đầu đổi mới, xã hội hóa chủ yếu được hiểu là huy động tiền bạc và sự đóng góp của nhân dân, thì ngày nay yêu cầu đặt ra cao hơn rất nhiều.
Ðiều thể thao Việt Nam cần không chỉ là thêm nguồn vốn, mà là hình thành các hệ sinh thái phát triển. Trong hệ sinh thái đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo thể chế; doanh nghiệp là nhà đầu tư và nhà tổ chức; các Liên đoàn, hiệp hội là trung tâm kết nối nguồn lực; các cơ sở đào tạo là nơi phát triển nhân lực; người dân vừa là đối tượng thụ hưởng vừa là chủ thể tạo ra giá trị. Ðây cũng là xu hướng mà nhiều nền thể thao tiên tiến trên thế giới đang theo đuổi.
Chiến lược phát triển TDTT Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 xác định mục tiêu xây dựng nền thể thao phát triển toàn diện, chuyên nghiệp và hội nhập quốc tế,
Ðể đạt được mục tiêu đó, xã hội hóa tiếp tục là chìa khóa quan trọng. Tuy nhiên, nhiệm vụ của giai đoạn tới không còn đơn thuần là huy động thêm nguồn lực ngoài ngân sách. Ðiều cần thiết hơn là tạo dựng môi trường để các nguồn lực ấy phát huy hiệu quả cao nhất, thông qua cải cách thể chế, phát triển kinh tế thể thao, thúc đẩy chuyển đổi số và hình thành các mô hình hợp tác công - tư hiện đại.
Nhìn lại hơn 3 thập kỷ đã qua, có thể khẳng định xã hội hóa là một trong những chủ trương thành công nhất của ngành TDTT. Từ những sân chơi cộng đồng được xây dựng bằng sự chung tay của người dân đến các giải đấu chuyên nghiệp, các doanh nghiệp thể thao và những mô hình mới như bóng đá chuyên nghiệp, thể thao điện tử, võ thuật tổng hợp (MMA), bóng rổ chuyên nghiệp (VBA)… xã hội hóa đã góp phần làm thay đổi diện mạo thể thao Việt Nam.
Trong hành trình hướng tới năm 2045, xã hội hóa sẽ không chỉ là giải pháp huy động nguồn lực. Ðó sẽ là quá trình kiến tạo hệ sinh thái và nền kinh tế thể thao Việt Nam - nền tảng để thể thao thực sự trở thành một bộ phận quan trọng của sự phát triển đất nước, góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực và vị thế quốc gia trong thời kỳ hội nhập.
HỮU BÌNH
Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống, số 2, tháng 7/2026