Hướng dẫn 5429/HD-BVHTTDL nhằm mục đích kích thích nhu cầu tự học, tự đọc của mọi tầng lớp nhân dân (đặc biệt là thanh thiếu niên, nhi đồng và người dân vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa). Biến việc đọc sách từ hoạt động phong trào thành một nhu cầu tự thân hằng ngày. Rút ngắn khoảng cách về thụ hưởng văn hóa và tri thức giữa thành thị và nông thôn. Đảm bảo mọi người dân, không phân biệt thành phần xã hội, đều có cơ hội tiếp cận sách, tài liệu số một cách dễ dàng và miễn phí (hoặc với chi phí thấp nhất). Hướng tới xây dựng “Xã hội học tập”; phát triển hệ sinh thái văn hóa đọc hiện đại, trong đó kết hợp hài hòa giữa không gian đọc truyền thống (sách giấy) và không gian đọc trực tuyến (sách số, sách nói), tạo ra môi trường tương tác linh hoạt cho cộng đồng.

Chương trình văn hóa đọc trong cộng đồng.png
Nhiệm vụ xây dựng văn hóa đọc trong cộng đồng theo Hướng dẫn 5429/HD-BVHTTDL - Ảnh: AI

Mục tiêu chung đến 2030:  Xây dựng và phát triển thói quen, kỹ năng đọc sách và nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng thông tin, tri thức của người dân thông qua hạ tầng số và các không gian đọc linh hoạt; xây dựng một hệ sinh thái tri thức mở, hiện đại và bình đẳng, nơi việc đọc không chỉ là tiếp nhận thông tin mà là nền tảng để tự học tập suốt đời. Tỷ lệ người dân đọc sách thường xuyên đạt 80%.

Định hướng đến năm 2045: Chuyển đổi từ “Văn hóa đọc” sang “Văn hóa Tri thức số”. Các chỉ tiêu phát triển thư viện và văn hóa đọc được duy trì và phát huy. Xây dựng mạng lưới thư viện số đảm bảo khả năng tích hợp, liên thông, chia sẻ dữ liệu số. Thư viện, không gian đọc được thiết kế mở, thân thiện và linh hoạt. Thư viện trở thành “Trung tâm Sáng tạo và Kết nối Tri thức”. Người dân có thói quen đọc, kỹ năng tiếp cận, sử dụng thông tin, tư duy phản biện và thẩm định nguồn tin.

Hướng dẫn cũng đề cập đến 4 nội dung thực hiện sau:

Xây dựng chương trình văn hóa đọc trong cộng đồng: Đối với các bộ, ngành: cung cấp tài liệu chuyên sâu nâng cao chất lượng tham mưu, chính sách cho công chức; tự học và xây dựng “cơ quan học tập”; số hóa tài liệu, xây dựng thư viện số dùng chung để tránh trùng lặp; định hướng phát triển đọc theo đặc thù ngành (trường học, bệnh viện...). Đối với các địa phương: lan tỏa thói quen đọc trong Nhân dân, ưu tiên vùng khó khăn, biên giới, hải đảo; tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức và hiệu quả quản lý nhà nước; hiện đại hóa hạ tầng, kết hợp thư viện truyền thống với tủ sách số và ứng dụng đọc thông minh; gắn phát triển văn hóa đọc với quảng bá địa chí, du lịch và phát triển kinh tế, xã hội.

Xây dựng tủ sách cộng đồng số: Giao diện thân thiện lấy người sử dụng làm trung tâm; Quản lý và tổ chức các tài nguyên số đáp ứng các chuẩn nghiệp vụ cơ bản của thư viện; Hỗ trợ các định dạng tài liệu kỹ thuật số phổ biến như văn bản, sách điện tử, sách nói, hình ảnh, âm thanh, video, podcast, flashcard và trắc nghiệm; Cung cấp công cụ tìm kiếm mạnh mẽ cho người sử dụng tra cứu tài liệu… Mô hình triển khai hiệu quả: Trạm đọc quét mã QR (chi phí thấp, đặt tại trụ sở, bến xe, công viên...); Ứng dụng/Trang web đọc trực tuyến của địa phương; Góc đọc sách số (trang bị thiết bị/Wifi tại nhà văn hóa, thư viện...); Xe thư viện lưu động đa phương tiện (phục vụ lưu động đến bản, làng, điểm trường xa).

W-tvhanoi.jpg
Một góc phòng đọc tại Thư viện Hà Nội - Ảnh: Hồng Vân

Xây dựng mô hình thư viện mở: cần hướng tới mô hình thư viện được thiết kế nhằm tối ưu hóa khả năng tiếp cận tri thức bằng cách xóa bỏ tối đa các rào cản về không gian, thủ tục hành chính (phí thẻ, thủ tục mượn trả, giờ mở cửa) và rào cản công nghệ đối với người sử dụng. Thư viện mở tập trung vào trải nghiệm tự do, tính tự giác của người sử dụng và khả năng tương tác, sự linh hoạt của thư viện. Tùy theo điều kiện thực tế, các bộ, ngành và địa phương có thể từng bước phát triển các dịch vụ thông tin-thư viện trên không gian số và không gian tương tác trực tuyến. Các thư viện xây dựng chuyên trang, nền tảng số giới thiệu các triển lãm số, tổ chức các câu lạc bộ đọc sách online, hội thảo chuyên đề trực tuyến, các buổi hướng dẫn kỹ năng thông tin... Ưu tiên tổ chức các hoạt động tương tác với sách và văn hóa đọc cho thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên.

Xây dựng không gian đọc linh hoạt: Không gian đọc linh hoạt là nơi đọc sách do cộng đồng, tổ chức, cá nhân thành lập tại cơ sở khi chưa đủ điều kiện mở thư viện; vận hành theo nguyên tắc tự quản, tự chịu trách nhiệm và nhận tài liệu luân chuyển từ thư viện công cộng. Có ít nhất 300 bản sách; có diện tích, hạ tầng an toàn (PCCC, vệ sinh); có người quản lý, nội quy và đối tượng phục vụ phù hợp. Không gian đọc linh hoạt được xây dựng với các mô hình triển khai thực tế: Cải tạo không gian công cộng, biến nhà văn hóa, điểm bưu điện xã, trung tâm dịch vụ công, bộ phận một cửa thành không gian đa năng; Tích hợp trong trường học/công sở, tận dụng hành lang, phòng nghỉ, sân trường làm góc đọc xanh, góc đọc thân thiện với nội thất linh hoạt; Xã hội hóa và dịch vụ, hợp tác mở mô hình Sách - Cà phê, kệ sách tại chung cư, không gian làm việc chung.

lo trinh thuc hien .jpeg
Lộ trình thực hiện Hướng dẫn 5429/HD-BVHTTDL - Ảnh: AI

Bộ VHTTDL yêu cầu việc triển khai hướng dẫn phải bảo đảm đồng bộ, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, đơn vị; phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của các cấp, các ngành; tăng cường phối hợp liên ngành; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động tối đa các nguồn lực hợp pháp; gắn kết chặt chẽ với quá trình chuyển đổi số, đổi mới phương thức tổ chức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Nghiêm túc quán triệt sâu sắc phương châm "Bộ hướng dẫn - Sở đồng hành - Địa phương vào cuộc - Vì một sứ mệnh chung" và "Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ phân cấp và rõ kết quả", kiên quyết chấn chỉnh tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm hình thức.