du_bao_thi_truong_the_thao (2).jpg

Bức tranh đầu tư thị trường thể thao những năm gần đây

Dù sở hữu tiềm năng lớn, thực trạng thị trường thể thao Việt Nam những năm qua vẫn mang đậm tính tự phát và thiếu liên kết. Các thành tố cơ bản của một nền công nghiệp như tổ chức sự kiện, truyền thông và doanh nghiệp, kinh doanh thiết bị, dịch vụ huấn luyện, và vận hành câu lạc bộ đã hình thành tự nhiên. Tuy nhiên, chúng tồn tại một cách rời rạc, thiếu vắng một hệ thống kết nối hoàn chỉnh, dẫn đến việc các nguồn lực chưa thể tích tụ thành một ngành kinh tế có quy mô lớn và sức cạnh tranh cao.

Trong tham luận “Thể thao như một ngành kinh tế”, chuyên gia Trương Trí Vĩnh đã sử dụng mô hình “The Ecosystem Onion” (Củ hành Hệ sinh thái) để bóc tách cấu trúc khổng lồ của ngành này. Lõi trực tiếp của thị trường (bao gồm bản quyền truyền thông, tài trợ và doanh thu ngày thi đấu) hiện đạt khoảng 400-500 tỷ USD trên toàn cầu. Tuy nhiên, đó chỉ là bề nổi. Lõi mở rộng (thiết bị, du lịch, cá cược) có quy mô lên tới 1.000 tỷ USD, và lõi lan tỏa (bất động sản, tiêu dùng, nhịp đập đô thị) chạm mức 2.300 tỷ USD. Tại Việt Nam, giới đầu tư đang dần nhận ra “Hiệu ứng lan tỏa” (Multiplier Effect) này. Thể thao không chỉ là những gì diễn ra trên sân cỏ; nó là một cỗ máy sản xuất “trải nghiệm”, có khả năng chi phối từ 60-70% GDP của toàn ngành dịch vụ ở nhiều quốc gia phát triển.

Lịch sử thương mại hóa thể thao toàn cầu trong 3 thập kỷ qua đã chứng kiến ba bước ngoặt lớn: Nội dung hóa (từ sự kiện trực tiếp thành nội dung phân phối toàn cầu); Tài chính hóa (từ câu lạc bộ thể thao thành các tài sản đầu tư tư nhân tỷ đô); và Toàn cầu hóa (từ khán giả địa phương thành tệp dữ liệu người dùng xuyên biên giới). Ðối chiếu với Việt Nam, bức tranh đầu tư đang bắt đầu phản ánh rõ nét sự dịch chuyển này. Doanh thu của các tổ chức thể thao đang chuyển hướng mạnh mẽ từ việc bán vé sang khả năng tạo ra “tính khan hiếm” (scarcity premium) để “khai thác tệp khán giả” cho các nhãn hàng. Cơ cấu nguồn thu đang chứng kiến sự trỗi dậy của thương mại. Trong nhiều thị trường thể thao mới nổi hiện nay (như thể thao nữ toàn cầu), doanh thu thương mại đã chiếm tới 54%, áp đảo so với bản quyền truyền hình (25%) và bán vé (21%).

Một thay đổi chiến lược khác trong tư duy đầu tư là việc nhận diện nghịch lý của “Nền kinh tế sự kiện” (Event-driven economy). Trong quá khứ, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các sự kiện lớn theo chu kỳ như SEA Games. Mặc dù hệ thống thi đấu khu vực này tạo ra áp lực nâng cao thành tích, kích hoạt thị trường thương mại và hình thành một không gian thể thao chung, nhưng mô hình này lại mang đặc tính “Spike economy” - chi phí hạ tầng tăng vọt trong ngắn hạn trong khi lợi tức đầu tư (ROI) lại vô cùng bất định. Lời giải chiến lược cho các nhà đầu tư hiện nay là dịch chuyển sang mô hình các giải đấu chuyên nghiệp có lịch trình cố định. Chính sự ổn định của dòng tiền và tính khan hiếm của nội dung đã biến các giải đấu thành những “nhà máy nội dung toàn cầu”, tạo ra sức hút vô tận với các nhà tài trợ.

Sức mạnh của thể thao trong kỷ nguyên kinh tế dịch vụ nằm ở “logic kinh tế truyền thông” và “sự trực tiếp”. Trong khi phim ảnh hay giải trí thông thường có thể xem lại bất kỳ lúc nào (time-shifted) và khán giả dễ dàng bỏ qua quảng cáo, khiến giá trị thương mại suy giảm nhanh chóng, thì nội dung thể thao bắt buộc phải xem trực tiếp (live-content). Ðặc tính này tước đi quyền bỏ qua quảng cáo của người xem, tạo ra chỉ số CPM (chi phí cho mỗi nghìn lượt hiển thị) cao vượt trội. Ðây là mỏ vàng mà các tập đoàn truyền thông và doanh nghiệp tại Việt Nam đang tích cực khai thác.

Sự thay đổi sâu sắc nhất trong cấu trúc đầu tư thể thao Việt Nam chính là việc áp dụng mô hình “Cấu trúc Ða tài sản” (Multi-Asset Platform). Các nhà đầu tư không còn coi một câu lạc bộ đơn thuần là nơi “chơi bóng”. Thay vào đó, nó được tái cấu trúc thành một danh mục đầu tư đa dòng tiền, trong đó bao gồm: Sở hữu câu lạc bộ (Lõi IP); Vận hành Media và Studio nội dung (Lõi nội dung); Phát triển bất động sản; Khai thác dữ liệu và công nghệ; và Du lịch và Trải nghiệm. Tư duy mới này khẳng định rằng: tăng trưởng của thể thao trong tương lai sẽ phần lớn đến từ các hoạt động ngoài sân đấu, nơi dữ liệu người dùng và trí tuệ nhân tạo (AI) được sử dụng để kiểm soát dòng tiền. Các doanh nghiệp không còn trả tiền chỉ để dán “logo trên áo”, họ đang mua một quy trình chuyển đổi cảm xúc từ Sự chú ý (Attention) sang Cảm xúc (Emotion), biến thành Lòng trung thành (Loyalty) và kết thúc bằng Doanh thu (Revenue).

Diễn đàn Kinh tế Thể thao năm 2026 (VSES 2026) đánh dấu lần đầu tiên khái niệm kinh tế thể thao được hệ thống hóa thông qua các dữ liệu định lượng, mở ra góc nhìn toàn diện về tiềm năng của một hệ sinh thái kinh doanh trị gi.jpg

Ðịnh hướng phát triển theo Chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn 2045

Quyết định số 1189/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/10/2024 phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã vạch ra những mục tiêu: Về thể thao quần chúng, mục tiêu đặt ra là trên 45% dân số tập luyện thể dục thể thao thường xuyên. Về thể thao thành tích cao, Việt Nam định hướng duy trì vững chắc vị trí trong tốp 2 tại các kỳ SEA Games, vươn lên tốp 15 tại ASIAD và tốp 50 tại Olympic. Ðặc biệt, chiến lược nhấn mạnh việc phát triển mạnh mẽ thể thao chuyên nghiệp, mở rộng cơ chế quản lý điều hành chuyên nghiệp, và phát triển các loại hình thể thao giải trí, thể thao mạo hiểm gắn liền với du lịch.

Ðể hiện thực hóa các mục tiêu mang tính thời đại này và bứt phá trở thành một nền kinh tế thể thao tỷ USD, “Báo cáo Kinh tế Thể thao 2026” nhấn mạnh sự cần thiết phải kiện toàn “Bản lề hệ thống” thông qua ba trụ cột hạ tầng cốt lõi:

Thứ nhất, Hạ tầng thi đấu (Cơ sở vật chất): Sự phát triển của kinh tế thể thao đòi hỏi một không gian vật lý tương xứng. Do đó, việc phát triển đồng bộ cơ sở vật chất, mạng lưới sân vận động hiện đại, và các trung tâm thể thao đạt chuẩn quốc tế là điều kiện tiên quyết. Hạ tầng này không chỉ phục vụ việc đăng cai các sự kiện “Mega-Events” mà còn là nền tảng để các câu lạc bộ chuyên nghiệp khai thác doanh thu từ trải nghiệm ngày thi đấu (Matchday).

Thứ hai, Hạ tầng vốn (Cơ chế tài chính): Ðây có thể xem là điểm nghẽn lớn nhất trong lịch sử thể thao Việt Nam khi quá phụ thuộc vào bầu sữa ngân sách công (Public Funding). Chiến lược phát triển đến năm 2030 vạch rõ định hướng đẩy mạnh xã hội hóa và khơi thông dòng vốn đầu tư tư nhân. Việc chuyển đổi sang mô hình Hợp tác công tư (PPP) trong thể thao, cùng với các cơ chế tài chính linh hoạt, là mệnh lệnh của thực tiễn để thu hút nguồn lực khổng lồ từ các tập đoàn kinh tế và quỹ đầu tư quốc tế. Nguồn vốn này sẽ giải quyết bài toán vận hành các thiết chế thể thao khổng lồ, biến các dự án sân vận động thành những trung tâm thương mại, dịch vụ sầm uất.

Thứ ba, Hệ thống chính sách và pháp lý: Một thị trường tỷ USD không thể vận hành trên một khung pháp lý manh mún. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý là nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp và thúc đẩy sự phát triển của các chủ thể tham gia thị trường. Theo Kế hoạch triển khai Chiến lược (Quyết định số 675/QÐ-BVHTTDL ban hành tháng 3/2025), Bộ VHTTDL cùng các ban ngành sẽ khẩn trương hoàn thiện thể chế nhằm khuyến khích phát triển xã hội hóa, xây dựng chính sách ưu đãi cho phát triển kinh tế thể thao, quy định rõ ràng về sở hữu câu lạc bộ, bản quyền truyền hình, chuyển nhượng vận động viên và các mô hình đặt cược thể thao hợp pháp. Chỉ khi có một môi trường pháp lý minh bạch, môi trường kết nối mở rộng và phát triển bền vững cho doanh nghiệp mới thực sự hình thành.

Với sự hội tụ của “thiên thời” (chu kỳ tăng trưởng kinh tế), “địa lợi” (vị trí trung tâm khu vực, dư địa hạ tầng), và “nhân hòa” (chiến lược quốc gia rõ ràng), thể thao Việt Nam đang thực sự “phát minh” ra một ngành kinh tế mới. Ðể thoát khỏi Giai đoạn cũ – trạng thái “tồn tại”, nơi thể thao chỉ được xem là “phụ phẩm” của đời sống đô thị, mang tính phong trào giải trí cục bộ với đóng góp khiêm tốn chỉ khoảng 0,3% GDP (tương đương 300 triệu – 1,5 tỷ USD), Việt Nam đã vạch ra các kịch bản tăng trưởng cụ thể.

Trong Kịch bản 10 năm (đến năm 2035), hướng tới việc hình thành một nền kinh tế thực thụ.

Kịch bản cơ sở (Baseline): Với tốc độ tăng trưởng ổn định từ 8% - 10%/năm, tỷ trọng của thể thao trong nền kinh tế sẽ đạt mức 0,8% - 1,2% GDP, đưa quy mô tuyệt đối của thị trường lên ngưỡng 6 - 10 tỷ USD.

Kịch bản tăng tốc (Reform): Dựa trên giả định các chính sách cải cách (đặc biệt là PPP, xã hội hóa, bùng nổ fitness và tăng trưởng bản quyền) được thực thi quyết liệt, tỷ trọng này sẽ nâng lên 1,5% GDP, đưa quy mô thị trường lên 12 - 15 tỷ USD, và thậm chí có thể chạm mốc 25 tỷ USD trong điều kiện bùng nổ tối đa. Ở mức độ này, kinh tế thể thao chính thức thoát khỏi mác “ngành ngách” để đứng ngang hàng với các lĩnh vực rường cột như logistics nội địa hay công nghiệp sáng tạo.

Vươn xa hơn tới Tầm nhìn 30 năm (đến năm 2055), Báo cáo phác họa một Quỹ đạo S-Curve hướng tới sự hội tụ toàn cầu. Những động lực bao gồm thu nhập tăng, đô thị hóa, sự mở rộng của công nghệ (streaming, e-sports, AI), và hội nhập xuất khẩu dịch vụ thể thao sẽ đẩy ngành vào chu kỳ tăng trưởng theo cấp số nhân. Ðích đến hội tụ của giai đoạn này là tỷ trọng kinh tế thể thao đạt từ 2% - 3% GDP. Khi đó, quy mô thị trường Việt Nam sẽ đạt ngưỡng 30 - 60 tỷ USD, sánh ngang với độ trưởng thành của các cường quốc thể thao như Mỹ hay Trung Quốc. Lúc này, câu hỏi không còn là “Việt Nam có phát triển kinh tế thể thao hay không?”, mà là tốc độ hội tụ với chuẩn mực quốc tế diễn ra nhanh như thế nào?

 Ðịnh hướng rõ nét từ Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã cho thấy việc chuyên nghiệp hóa cách thức quản lý, kiến tạo khung pháp lý minh bạch và trải thảm đỏ thu hút các nguồn lực tư nhân thông qua mô hình PPP sẽ là chiếc chìa khóa vàng. Bằng cách vận hành dựa trên tư duy đa tài sản và khai thác triệt để logic của nền kinh tế thể thao, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở vững chắc để hiện thực hóa tham vọng kiến tạo một nền kinh tế thể thao tỷ USD trong tương lai gần.

ĐAN THANH

Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống số 1, tháng 5-2026