Vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đối với phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành động lực chiến lược của sự phát triển quốc gia. Nếu như trước đây khoa học và công nghệ chủ yếu được xem là công cụ hỗ trợ cho các hoạt động văn hóa, thì trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số hiện nay, các yếu tố này đã trở thành một bộ phận cấu thành của môi trường phát triển văn hóa, đồng thời tạo ra những biến đổi sâu sắc về phương thức sáng tạo, truyền bá, tiếp nhận và quản trị văn hóa (Bộ Chính trị, 2024; UNESCO, 2021).

Từ góc độ phát triển văn hóa, vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được thể hiện trên năm phương diện cơ bản sau đây.

Góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, nâng cao dân trí và phát huy năng lực sáng tạo

Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là mục tiêu cao nhất của phát triển văn hóa. Trong điều kiện hiện nay, sự phát triển của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang tạo ra những điều kiện thuận lợi để nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hình thành những phẩm chất mới của con người Việt Nam trong thời đại số (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021; UNESCO, 2015).

Trước hết, công nghệ số đã mở rộng chưa từng có khả năng tiếp cận tri thức của người dân. Internet, dữ liệu mở, thư viện số, các nền tảng học tập trực tuyến và trí tuệ nhân tạo đang tạo ra môi trường học tập suốt đời, giúp mọi người dân có điều kiện tiếp cận tri thức, nâng cao trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp (UNESCO, 2015).   

Bên cạnh đó, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang thúc đẩy sự hình thành những năng lực mới của con người Việt Nam như tư duy phản biện, năng lực số, khả năng thích ứng, tinh thần đổi mới sáng tạo và năng lực hội nhập quốc tế. Đây là những phẩm chất đặc biệt quan trọng của công dân trong xã hội số và cũng là những yêu cầu mới đối với mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện (Bộ Chính trị, 2024; UNESCO, 2021).

Tuy nhiên, môi trường số cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển con người như thông tin sai lệch, sự lệ thuộc vào công nghệ, suy giảm các giá trị đạo đức và những tác động tiêu cực của không gian mạng (UNESCO, 2021). Vì vậy, quá trình chuyển đổi số cần gắn chặt với xây dựng văn hóa số, đạo đức số và trách nhiệm công dân nhằm phát triển con người Việt Nam toàn diện cả về trí tuệ, nhân cách và bản lĩnh văn hóa (Bộ Chính trị, 2025).

Góp phần bảo tồn, phát huy và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc

Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc là một trong những mục tiêu quan trọng của chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang tạo ra những phương thức mới để bảo vệ, lưu giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc (UNESCO, 2023).

Các công nghệ số như số hóa di sản, công nghệ quét 3D, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, thực tế ảo và thực tế tăng cường đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong công tác bảo tồn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể (ICOMOS, 2020; UNESCO, 2023).   

Đồng thời, các nền tảng số đã mở ra những phương thức mới trong việc quảng bá và lan tỏa các giá trị văn hóa Việt Nam đến cộng đồng quốc tế. Các bảo tàng số, triển lãm trực tuyến, thư viện điện tử và các nền tảng truyền thông số đang góp phần đưa các giá trị văn hóa dân tộc đến với đông đảo công chúng trong và ngoài nước, qua đó nâng cao nhận thức xã hội về bảo tồn di sản và tăng cường quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam (UNESCO, 2021).

Tuy nhiên, quá trình số hóa di sản cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm tính xác thực, tính nguyên gốc của các giá trị văn hóa, tránh xu hướng thương mại hóa hoặc làm biến dạng bản sắc văn hóa dân tộc (ICOMOS, 2020).

Thúc đẩy sáng tạo văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo

Trong nền kinh tế tri thức, sáng tạo trở thành nguồn lực cạnh tranh quan trọng của mỗi quốc gia
(UNCTAD, 2022). Sự phát triển của công nghệ số đang làm thay đổi toàn diện phương thức sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Các lĩnh vực như điện ảnh, thiết kế sáng tạo, trò chơi điện tử, nội dung số, quảng cáo, truyền thông đa phương tiện và các ngành công nghiệp dựa trên bản quyền đang phát triển mạnh mẽ nhờ sự kết hợp giữa văn hóa, công nghệ và đổi mới sáng tạo (UNESCO, 2022).

Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không chỉ tạo cơ hội phát triển các ngành công nghiệp văn hóa mới mà còn góp phần chuyển hóa các nguồn lực văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo thêm việc làm cho xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021; Bộ Chính trị, 2025).

Đồng thời, việc xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa sẽ tạo điều kiện kết nối giữa nghệ thuật, công nghệ, doanh nghiệp và các chủ thể sáng tạo, từ đó hình thành các chuỗi giá trị văn hóa có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế (UNCTAD, 2022).

Góp phần xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, nâng cao năng lực quản trị văn hóa và phát huy sức mạnh mềm quốc gia

Sự phát triển của internet, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản môi trường văn hóa của xã hội. Không gian mạng đã trở thành một bộ phận hữu cơ của môi trường văn hóa, nơi diễn ra các hoạt động giao tiếp, học tập, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa của con người (UNESCO, 2021).

Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận và tham gia đời sống văn hóa của người dân, đồng thời thúc đẩy quá trình dân chủ hóa đời sống văn hóa. Tuy nhiên, môi trường số cũng xuất hiện nhiều nguy cơ như thông tin sai lệch, sản phẩm văn hóa độc hại, xâm phạm bản quyền và sự xuống cấp của các chuẩn mực ứng xử (UNESCO, 2021). Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và các nền tảng số đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản trị văn hóa, bảo vệ sự đa dạng văn hóa và bảo đảm quyền tiếp cận công bằng đối với các sản phẩm và dịch vụ văn hóa trên môi trường số (UNESCO, 2022; Council of Europe, 2022).

Do đó, xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh đòi hỏi phải phát triển đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu số, hệ sinh thái văn hóa số, đồng thời xây dựng các chuẩn mực văn hóa và đạo đức trên không gian mạng (Bộ Chính trị, 2024).

Bên cạnh đó, chuyển đổi số còn tạo điều kiện nâng cao hiệu quả quản trị văn hóa thông qua việc xây dựng cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong dự báo xu hướng phát triển văn hóa và hoạch định chính sách (Bộ Chính trị, 2024).

Đặc biệt, các nền tảng số đang mở ra những cơ hội mới để quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, qua đó nâng cao sức mạnh mềm và vị thế quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gắn với cạnh tranh về giá trị và ảnh hưởng văn hóa (Nye, 2004; UNESCO, 2023).

Bảo đảm quyền văn hóa của nhân dân và thúc đẩy phát triển văn hóa bền vững

Một trong những giá trị quan trọng của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số là tạo điều kiện để mọi người dân được tiếp cận bình đẳng hơn với các giá trị văn hóa (UNESCO, 2005).

Hạ tầng số, các nền tảng trực tuyến, thư viện số, bảo tàng số và các dịch vụ văn hóa trên môi trường mạng đang từng bước thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, giữa khu vực đô thị và nông thôn, giữa các nhóm dân cư khác nhau (Liên Hợp quốc, 2015).

Chuyển đổi số cũng mở rộng khả năng thực hiện quyền văn hóa của công dân, không chỉ ở quyền tiếp cận và thụ hưởng mà còn ở quyền tham gia sáng tạo, chia sẻ và lan tỏa các giá trị văn hóa. Điều này góp phần dân chủ hóa đời sống văn hóa và khẳng định vai trò chủ thể của nhân dân trong phát triển văn hóa (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013; UNESCO, 2005).

Quan trọng hơn, những thành tựu của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang tạo nền tảng cho phát triển văn hóa bền vững, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, giữa hiện đại hóa với giữ gìn bản sắc dân tộc và giữa lợi ích của thế hệ hiện tại với trách nhiệm đối với các thế hệ tương lai (Liên Hợp quốc, 2015; UNESCO, 2023).

Có thể khẳng định rằng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia không chỉ là động lực của tăng trưởng kinh tế mà còn là động lực chiến lược của phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới. Việc phát huy hiệu quả các thành tựu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số sẽ góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển văn hóa mà Đảng đã xác định, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển con người Việt Nam toàn diện và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia trong thế kỷ XXI.

Một số khuyến nghị chính sách nhằm phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đối với phát triển văn hóa

Những thành tựu của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang mở ra những cơ hội to lớn cho phát triển văn hóa, đồng thời cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác quản lý và hoạch định chính sách văn hóa. Để phát huy hiệu quả vai trò của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong phát triển văn hóa, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số. Cần cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển văn hóa thành hệ thống cơ chế, chính sách đồng bộ, thống nhất và có tính khả thi cao (Bộ Chính trị, 2024; Bộ Chính trị, 2025). Trọng tâm là hoàn thiện chính sách về dữ liệu văn hóa, số hóa di sản, sở hữu trí tuệ, bản quyền số, phát triển công nghiệp văn hóa và thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa trên môi trường số. Đồng thời, cần xây dựng khung pháp lý phù hợp để quản lý các hoạt động văn hóa trên không gian mạng, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu phát triển, quản lý và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ hai, đẩy mạnh xây dựng hạ tầng số và hệ thống dữ liệu văn hóa quốc gia. Hạ tầng số và dữ liệu số là nền tảng của chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa (UNESCO, 2021). Vì vậy, cần ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, di sản, thư viện, bảo tàng, nghệ thuật biểu diễn và các ngành công nghiệp văn hóa; thúc đẩy số hóa di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu văn hóa mở, phục vụ công tác quản lý, nghiên cứu và phổ biến các giá trị văn hóa (ICOMOS, 2020; UNESCO, 2023).

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của thời đại số. Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa trước hết là quá trình chuyển đổi về con người, tư duy và phương thức quản trị. Do đó, cần chú trọng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa, văn nghệ sĩ, chuyên gia bảo tồn di sản và nhân lực trong các ngành công nghiệp văn hóa theo hướng nâng cao năng lực số, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng hội nhập quốc tế (UNESCO, 2015). Đồng thời, cần tăng cường giáo dục văn hóa số, đạo đức số và kỹ năng số cho người dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong bối cảnh xã hội số (Bộ Chính trị, 2024).

Thứ tư, thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo đang trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia (UNCTAD, 2022; UNESCO, 2022). Vì vậy, cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, các tổ chức văn hóa và các chủ thể sáng tạo đầu tư vào các ngành công nghiệp văn hóa dựa trên công nghệ và bản quyền như điện ảnh, nội dung số, thiết kế sáng tạo, trò chơi điện tử, nghệ thuật số và truyền thông đa phương tiện. Đồng thời, cần thúc đẩy sự liên kết giữa văn hóa, khoa học, công nghệ và doanh nghiệp để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa, từng bước chuyển hóa các nguồn lực văn hóa thành nguồn lực phát triển đất nước.

Thứ năm, xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh và nâng cao sức mạnh mềm văn hóa quốc gia. Quá trình chuyển đổi số phải đi đôi với việc xây dựng các chuẩn mực văn hóa và đạo đức trên không gian mạng, tăng cường năng lực quản trị môi trường số, phòng, chống các sản phẩm văn hóa độc hại, thông tin sai lệch và các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (UNESCO, 2021). Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, nâng cao hiệu quả truyền thông đối ngoại và giao lưu văn hóa quốc tế, qua đó gia tăng sức hấp dẫn, uy tín và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế (Nye, 2004; UNESCO, 2023).

Thứ sáu, bảo đảm quyền văn hóa của nhân dân và thúc đẩy phát triển văn hóa bao trùm, bền vững. Mọi chính sách chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa phải lấy con người làm trung tâm và hướng tới mục tiêu mọi người dân đều được tiếp cận, tham gia sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa (UNESCO, 2005; Liên Hợp quốc 2015). Nhà nước cần ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng số và các dịch vụ văn hóa ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới và hải đảo; quan tâm hơn đến các nhóm yếu thế nhằm thu hẹp khoảng cách số và khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền và các nhóm xã hội, qua đó bảo đảm phát triển văn hóa theo hướng bao trùm và bền vững.

Tóm lại, phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong phát triển văn hóa không chỉ là yêu cầu khách quan của thời đại mà còn là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển con người Việt Nam toàn diện và tăng cường sức mạnh mềm quốc gia, tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021; Bộ Chính trị, 2025).

4. Kết luận

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, xã hội số, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang tạo ra những biến đổi sâu sắc đối với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa. Những biến đổi này không chỉ làm thay đổi phương thức sáng tạo, bảo tồn, truyền bá và tiếp nhận các giá trị văn hóa mà còn mở ra những cơ hội mới để phát huy vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đang trở thành động lực chiến lược của phát triển văn hóa. Một mặt, các yếu tố này góp phần nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, hình thành những phẩm chất mới của con người Việt Nam trong thời đại số; đổi mới phương thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản văn hóa dân tộc; thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và các ngành công nghiệp dựa trên tri thức, công nghệ và bản quyền. Mặt khác, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số còn tạo điều kiện xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, nâng cao hiệu quả quản trị văn hóa, mở rộng quyền tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của người dân, đồng thời tăng cường sức mạnh mềm và vị thế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gắn với cạnh tranh về giá trị, bản sắc và ảnh hưởng văn hóa.

Tuy nhiên, cùng với những cơ hội to lớn, quá trình phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều thách thức đối với phát triển văn hóa như nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc, sự gia tăng khoảng cách số, những tác động tiêu cực của môi trường mạng đối với hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, cũng như những thách thức trong quản lý, bảo vệ bản quyền và bảo đảm an ninh văn hóa trên không gian mạng. Điều đó đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới, toàn diện và đồng bộ trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển văn hóa.

Trong thời gian tới, việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần được đặt trong tổng thể chiến lược chấn hưng và phát triển văn hóa Việt Nam. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển văn hóa trong bối cảnh số; xây dựng hạ tầng số và cơ sở dữ liệu văn hóa quốc gia; phát triển nguồn nhân lực văn hóa có năng lực số và tư duy đổi mới sáng tạo; thúc đẩy phát triển công nghiệp văn hóa và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa; xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh; đồng thời bảo đảm quyền văn hóa của nhân dân và phát triển văn hóa theo hướng bao trùm, bền vững.

Có thể khẳng định rằng, trong kỷ nguyên mới, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành một trong những động lực quan trọng của phát triển văn hóa. Việc phát huy hiệu quả các thành tựu của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số sẽ góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển con người Việt Nam toàn diện, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển nhanh, bền vững của Việt Nam trong thế kỷ XXI.

________________________

Tài liệu tham khảo

1. Council of Europe. (2022). Culture, Creativity and Artificial Intelligence: Opportunities and Challenges for Cultural Policies (Văn hóa, sáng tạo và trí tuệ nhân tạo: Cơ hội và thách thức đối với các chính sách văn hóa).

2. Ban Chấp hành Trung ương. (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

3. Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

4. Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 15/7/2025 về phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam. (1998). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. (Tập 1, 2). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

7. ICOMOS. (2020). The future of our pasts: Engaging cultural heritage in climate action (Tương lai của quá khứ chúng ta: Huy động di sản văn hóa trong hành động vì biến đổi khí hậu).

8. Nye, J. S. (2004). Soft power: The means to success in world politics (Sức mạnh mềm: Phương tiện để thành công trong nền chính trị thế giới).

9. Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

10. Quốc hội. (2016). Luật Tiếp cận thông tin. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

11. Quốc hội. (2018). Luật An ninh mạng. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.

12. UNCTAD. (2022). Creative economy outlook 2022 (Triển vọng kinh tế sáng tạo 2022).

13. UNESCO. (2005). Convention on the protection and promotion of the diversity of cultural expressions (Công ước về bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa).

14. UNESCO. (2015). Rethinking education: Towards a global common good? (Tái tư duy về giáo dục: Hướng tới một hàng hóa chung toàn cầu?).

15. UNESCO. (2021). Re|Shaping policies for creativity: Addressing culture. as a global public good (Tái định hình các chính sách về sáng tạo: Coi văn hóa là một hàng hóa công cộng toàn cầu).

16. UNESCO. (2022). Cultural and creative Industries in the face of COVID-19: An economic impact outlook (Các ngành Công nghiệp Văn hóa và Sáng tạo trước đại dịch COVID-19: Triển vọng tác động kinh tế).

17. UNESCO. (2022). Culture in the digital environment: Policy opportunities for creativity and artistic diversity (Văn hóa trong môi trường số: Các cơ hội chính sách cho sáng tạo và sự đa dạng nghệ thuật).

18. UNESCO. (2023). World Conference on Cultural Policies and Sustainable Development (MONDIACULT 2022): Final Declaration (Hội nghị toàn cầu về các chính sách văn hóa và phát triển bền vững (MONDIACULT 2022): Tuyên bố chung).

19. UNESCO. (2023). Charter on the preservation of digital heritage (Điều lệ về bảo tồn di sản số).

20. UNESCO. (2024). Guidance for generative AI in education and research (Hướng dẫn sử dụng Trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong giáo dục và nghiên cứu).

21. Liên Hợp quốc. (2015). Transforming our world: The 2030 agenda for sustainable development (Biến đổi thế giới của chúng ta: Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững).

Ngày Tòa soạn nhận bài: 2/7/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 14/7/2026; Ngày duyệt đăng: 28/7/2026.

PGS, TS PHẠM DUY ĐỨC

Nguồn: Tạp chí VHNT số 651, tháng 8/2026