Từ khóa: phát triển văn hóa; khoa học và công nghệ; chuyển đổi số quốc gia; công nghiệp văn hóa; sức mạnh mềm văn hóa.
Abstract: This article analyzes the goals of Vietnamese cultural development in the new era and clarifies the role of science, technology, innovation, and national digital transformation in achieving these goals in accordance with the spirit of the Party’s new resolutions. The study indicates that science, technology,
innovation, and national digital transformation are becoming strategic drivers of cultural development across five key dimensions: i) fostering the comprehensive development of the Vietnamese people; ii)
contributing to the preservation, promotion, and dissemination of national cultural values; iii) driving the growth of cultural industries and the creative economy; iv) building a digital cultural environment while enhancing national soft power and status; and v) expanding opportunities for cultural access, safeguarding the people’s cultural rights, and promoting sustainable cultural development. Science, technology, innovation, and digital transformation are no longer merely supporting tools, but have become vital drivers of cultural development in the new era.
Keywords: cultural development; science and technology; national digital transformation; cultural
industries; cultural soft power.

1. Đặt vấn đề
Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, nhân loại đang chứng kiến những biến đổi sâu sắc do tác động của toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, xã hội số và trí tuệ nhân tạo. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ làm thay đổi phương thức sản xuất, quản trị và đời sống xã hội mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình sáng tạo, bảo tồn, truyền bá và tiếp nhận các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh đó, phát triển văn hóa ngày càng gắn chặt với trình độ phát triển của khoa học, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo của mỗi quốc gia
(UNESCO, 2021; Liên Hợp quốc, 2015).
Đối với Việt Nam, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam” và xác định phát triển văn hóa ngang tầm với phát triển kinh tế, chính trị, xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021). Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đã mở ra những định hướng mới về mối quan hệ giữa phát triển khoa học, công nghệ với phát triển văn hóa trong kỷ nguyên số (Bộ Chính trị, 2024; Bộ Chính trị, 2025).
Thực tiễn cho thấy, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đang tạo ra những cơ hội to lớn cho phát triển văn hóa thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận tri thức và các giá trị văn hóa, đổi mới phương thức bảo tồn và phát huy di sản, thúc đẩy sáng tạo văn hóa và phát triển công nghiệp văn hóa, nâng cao hiệu quả quản trị văn hóa và tăng cường sức mạnh mềm quốc gia (UNESCO, 2021; UNCTAD, 2022).
Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức đối với phát triển văn hóa. Sự lan tỏa nhanh chóng của các sản phẩm văn hóa xuyên biên giới, tình trạng thông tin sai lệch, sự xói mòn của một số giá trị truyền thống, khoảng cách số trong tiếp cận văn hóa và nguy cơ thương mại hóa các giá trị văn hóa đang trở thành những vấn đề đáng quan tâm đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam (UNESCO, 2021).
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển văn hóa, chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo, song việc nghiên cứu một cách hệ thống vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới vẫn còn tương đối hạn chế. Từ cách tiếp cận đó, bài viết tập trung phân tích hai nội dung cơ bản. Thứ nhất, làm rõ các mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới theo tinh thần các nghị quyết mới của Đảng. Thứ hai, phân tích vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa, qua đó góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách phát triển văn hóa ở Việt Nam hiện nay.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm phân tích văn bản, logic - lịch sử và tổng hợp tài liệu. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa văn hóa học, chính sách công và nghiên cứu phát triển, bài viết tập trung làm rõ các quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
3. Kết quả và thảo luận
Mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội và thách thức chưa từng có do tác động của toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, kinh tế tri thức và tiến trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu. Trong bối cảnh đó, văn hóa không chỉ tiếp tục giữ vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn ngày càng khẳng định vị trí là sức mạnh nội sinh, nguồn lực quan trọng và động lực thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021; Bộ Chính trị, 2025). Phát triển văn hóa vì vậy không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển mà còn là điều kiện để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng cường sức mạnh mềm và bảo đảm sự phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới (Nye, 2004; Liên Hợp quốc, 2015).
Quan điểm của Đảng về phát triển văn hóa trong thời kỳ mới là sự kế thừa và phát triển nhất quán tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, đồng thời được bổ sung và hoàn thiện qua các kỳ Đại hội Đảng và các nghị quyết chuyên đề về văn hóa. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII xác định mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998). Nghị quyết số 33-NQ/TW tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến các giá trị chân - thiện - mỹ, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của sự phát triển bền vững (Ban Chấp hành Trung ương, 2014). Văn kiện Đại hội XIII và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định nhiệm vụ chấn hưng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, đưa văn hóa trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021; Bộ Chính trị, 2025).
Trên cơ sở đó, mục tiêu phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới có thể khái quát trên năm phương diện cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới
Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân và khát vọng cống hiến tiếp tục được xác định là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển văn hóa (Ban Chấp hành Trung ương, 2014; Bộ Chính trị, 2025). Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, mục tiêu này còn bao hàm yêu cầu hình thành những phẩm chất mới của con người Việt Nam như năng lực số, tư duy khoa học, khả năng đổi mới sáng tạo, năng lực hội nhập và trách nhiệm xã hội trên không gian mạng (UNESCO, 2015; UNESCO, 2021).
Thứ hai, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, di sản văn hóa của dân tộc
Trong điều kiện toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa quốc tế ngày càng mạnh mẽ, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc không chỉ là yêu cầu bảo vệ cội nguồn văn hóa mà còn là điều kiện để củng cố sức mạnh nội sinh và nâng cao vị thế quốc gia (Nye, 2004; UNESCO, 2023). Mục tiêu phát triển văn hóa trong giai đoạn mới hướng tới việc bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, bảo đảm sự hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa hội nhập và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc (Bộ Chính trị, 2025).
Thứ ba, phát triển công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa và kinh tế sáng tạo trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước
Đây là bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế. Văn hóa không chỉ là lĩnh vực tinh thần mà còn là nguồn lực kinh tế đặc biệt, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy tăng trưởng bền vững (UNCTAD, 2022; UNESCO, 2022). Mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa hướng tới việc khai thác hiệu quả tiềm năng sáng tạo của con người Việt Nam, phát triển các ngành công nghiệp dựa trên tri thức, công nghệ và bản quyền, từng bước chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành nguồn lực phát triển đất nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021; Bộ Chính trị, 2025).
Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy sức mạnh mềm văn hóa và nâng cao vị thế quốc gia
Môi trường văn hóa là không gian hình thành, nuôi dưỡng và lan tỏa các giá trị, chuẩn mực và nhân cách con người. Trong bối cảnh phát triển của xã hội số, môi trường văn hóa không chỉ tồn tại trong không gian vật chất mà còn mở rộng sang không gian mạng và môi trường số (UNESCO, 2021). Vì vậy, mục tiêu phát triển văn hóa hiện nay là xây dựng môi trường văn hóa an toàn, lành mạnh, nhân văn, giàu bản sắc dân tộc; đồng thời nâng cao hiệu quả quảng bá hình ảnh đất nước, con người và văn hóa Việt Nam, qua đó gia tăng sức hấp dẫn, uy tín và ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế (Nye, 2004; Bộ Chính trị, 2025).
Thứ năm, bảo đảm quyền văn hóa của nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển văn hóa bền vững
Phát triển văn hóa trong thời kỳ mới không chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng hay hiện đại hóa mà còn hướng tới sự phát triển bao trùm, nhân văn và bền vững, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận, tham gia sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013; UNESCO, 2005; Liên Hợp quốc, 2015). Điều này đòi hỏi phải thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, quan tâm nhiều hơn đến đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các nhóm yếu thế trong xã hội; đồng thời gắn phát triển văn hóa với nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển con người và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội (Bộ Chính trị, 2025).