Các em học sinh tham dự buổi tư vấn tuyển sinh của Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội (2).jpg
Các em học sinh tham dự buổi tư vấn tuyển sinh của Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội - Ảnh: Trường ĐHSKĐAHN

Những khó khăn của hệ thống đào tạo nhân lực

Trao đổi với phóng viên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, TS Trần Quang Minh - Trưởng khoa Nghệ thuật điện ảnh và Ths Đậu Nhật Minh, Trưởng khoa Truyền hình – Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội chia sẻ nhiều trăn trở, bởi nền tảng phát triển bền vững của điện ảnh nằm ở chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, mô hình đào tạo điện ảnh chính quy tại các cơ sở công lập hiện nay đang vấp phải những lực cản từ cơ chế, tạo ra khoảng cách không nhỏ so với tốc độ thay đổi của công nghệ và xu hướng thị trường toàn cầu.

Khoảng cách đầu tiên chính là nghịch lý giữa sự phát triển của công nghệ và bài toán đầu tư. Ths. Đậu Nhật Minh cho rằng, điều quan trọng nhất mà các cơ sở đào tạo truyền thống luôn hướng tới là trang bị tư duy sáng tạo, khả năng cảm thụ và nền tảng nghề nghiệp vững chắc, giúp người học có thể làm chủ tác phẩm bất chấp sự biến thiên của công nghệ. Nhìn nhận một cách khách quan, giá trị cốt lõi của đào tạo nghệ thuật điện ảnh không chỉ nằm ở máy móc hay trang thiết bị hiện đại.

“Tuy nhiên nếu không có trang thiết bị với công nghệ được cập nhật kịp thời, đào tạo nghệ thuật sẽ chỉ thiên về lý thuyết mà thiếu đi tính thực tiễn. Khó khăn thực sự nằm ở việc thiếu nguồn vốn và cơ chế tài chính linh hoạt để cập nhật trang thiết bị thực hành. Tốc độ công nghệ thay đổi quá nhanh, có những thiết bị chỉ sau một vài năm đã trở nên lỗi thời. Việc đầu tư một khoản chi phí lớn để rồi phải cập nhật thường xuyên là điều bất khả thi đối với các trường công lập hiện nay. Hậu quả là, sinh viên đôi khi vẫn phải thực hành trên những thiết bị có tuổi đời hàng chục năm, dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ”. - TS Trần Quang Minh, Trưởng khoa Nghệ thuật điện ảnh chia sẻ.

Một trăn trở chung của hai nhà giáo, đó là “chiếc áo chật” của quy chế hành chính và bằng cấp. Thị trường đang rất cần các nhân sự chuyên biệt, ví như Quản trị sản xuất (Creative Producing) – mắt xích kết nối giữa nghệ thuật và bài toán kinh doanh… Thế nhưng, quy trình mở mã ngành mới còn phức tạp cộng thêm các quy định hiện hành bắt buộc chương trình mới phải đáp ứng các chỉ số khắt khe về số lượng tiến sĩ, thạc sĩ cơ hữu - vốn không phải là điểm mạnh của các trường đào tạo nghệ thuật. Quá trình xây dựng, chỉnh sửa, thẩm định và phê duyệt thường cần nhiều thời gian, làm giảm tính linh hoạt khi cần cập nhật kiến thức mới.

Đặc biệt, việc đòi hỏi bằng cấp đang tạo ra một rào cản vô hình, loại bỏ cơ hội truyền nghề của những chuyên gia thực chiến vốn là những nghệ sĩ giỏi nghề, dày dạn kinh nghiệm thực tế và được công chúng biết đến rộng rãi. Trong nghệ thuật, kinh nghiệm và tác phẩm là thước đo cao nhất. Tuy nhiên, theo quy chế, những nghệ sĩ hay nhà làm phim tài năng – dù xuất sắc đến đâu nhưng chưa có bằng thạc sĩ, tiến sĩ – cũng không thể trở thành giảng viên đứng lớp.

Ths Đậu Nhật Minh, Trưởng khoa Truyền hình cho rằng: “Điều này có thể dẫn tới một nghịch lý: người thạo nghề không được giảng dạy, người có bằng cấp lại thiếu thực tiễn. Ngay cả với các chuyên gia quốc tế từng đoạt giải thưởng lớn, nếu áp dụng quy định hiện hành của Việt Nam, họ cũng khó lòng đáp ứng đủ hồ sơ học thuật để giảng dạy. Rõ ràng, việc mang “thước dây để đo cảm xúc” – áp dụng một tiêu chuẩn đánh giá như nhau đối với các ngành khoa học cơ bản và lĩnh vực nghệ thuật– là một sự khập khiễng cần sớm được thay đổi.”  

Bên cạnh rào cản hành chính, nút thắt về tài chính cũng là một khó khăn trong việc thu hút chuyên gia nước ngoài giỏi. Theo Ths Đậu Nhật Minh, các cơ sở đào tạo điện ảnh hiện chưa có nguồn vốn hỗ trợ và chưa có năng lực chi trả cạnh tranh theo thực tế của thị trường. Mức thù lao chưa thể tương xứng với giá trị chất xám mà các chuyên gia mang lại, cùng với việc thiếu cơ chế hỗ trợ về các thủ tục làm thị thực, cấp giấy phép lao động và thuế khiến việc chiêu mộ các nhà làm phim quốc tế hợp tác đào tạo dài hạn là vô cùng khó khăn.

Đồng quan điểm, TS Trần Quang Minh và Ths Đậu Nhật Minh đều cho rằng, để gỡ những điểm nghẽn này, cần sớm công nhận các cơ sở đào tạo nghệ thuật ở bậc đại học là đơn vị đào tạo nghệ thuật đặc thù. Bên cạnh đó, cần trao thêm quyền tự chủ chuyên môn cho nhà trường, về nhân sự giảng dạy cần ưu tiên thêm cả năng lực thực tiễn thay vì chỉ mỗi bằng cấp học thuật, đồng thời có cơ chế tài chính linh hoạt cùng mức hỗ trợ tài chính tương xứng với quy mô của một ngành công nghiệp. Chỉ khi tháo gỡ được những vấn đề từ gốc rễ, đào tạo điện ảnh Việt Nam mới đủ tiềm lực để xây dựng một thế hệ nhân lực vươn lên tầm cao mới.

THs Đậu Nhật Minh (2).jpg

"Ngay cả với các chuyên gia quốc tế từng đoạt giải thưởng lớn, nếu áp dụng quy định hiện hành của Việt Nam, họ cũng khó lòng đáp ứng đủ hồ sơ học thuật để giảng dạy. Rõ ràng, việc mang "thước dây để đo cảm xúc" – áp dụng một tiêu chuẩn đánh giá như nhau đối với các ngành khoa học cơ bản và lĩnh vực nghệ thuật– là một sự khập khiễng cần sớm được thay đổi."

- Ths Đậu Nhật Minh,
Trưởng khoa Truyền hình Trường Đại học Sân khấu điện ảnh Hà Nội

Điểm nghẽn trong cơ chế tài chính công và mô hình quản lý quỹ

Khơi thông nguồn lực tài chính luôn là “bài toán khó” đối với công nghiệp điện ảnh. Tuy nhiên, với sự ra đời của Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị và tiếp đó là Nghị quyết 28/2026/QH16 của Quốc hội về phát triển văn hóa Việt Nam, một hành lang pháp lý kiến tạo chưa từng có đã được thiết lập. Những chủ trương, chính sách được quy định cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là việc bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa (và tăng dần theo yêu cầu thực tiễn) cùng mức ưu đãi giảm thuế VAT xuống còn 5% đối với các hoạt động điện ảnh, đã tạo ra động lực to lớn cho toàn ngành.

Đón nhận tín hiệu tích cực này, bà Ngô Thị Bích Hạnh – Phó Chủ tịch Công ty BHD bày tỏ sự kỳ vọng sâu sắc: “Lần đầu tiên trong 30 năm hoạt động, chúng tôi thấy những quyết tâm rõ ràng từ những cấp lãnh đạo cao nhất được cụ thể hóa bằng những con số. Có thể nói đây là thời điểm “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Tôi mong mỏi và tin tưởng rằng, nếu từ Nghị quyết này, các chính sách và nghị định đi kèm được thực thi hiệu quả với sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, thì công nghiệp văn hóa Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ nhất trong 5 - 10 năm tới đây. Để Việt Nam không chỉ nằm trong top 3 mà có thể trở thành top 1 trong khu vực ASEAN về chỉ số sức mạnh mềm.

Tuy nhiên, để những kỳ vọng vĩ mô biến thành nguồn lực thực tế, phương thức giải ngân và tiếp nhận nguồn vốn đang đối mặt với sự bất cập về mặt cơ chế. Điện ảnh là ngành sản xuất có tính rủi ro thương mại cao, với tỷ lệ phim hòa vốn hoặc có lãi chiếm tỷ trọng nhỏ trên tổng số lượng sản xuất toàn thị trường. Ngược lại, các quy định quản lý tài chính công hiện hành áp dụng nguyên tắc bảo toàn vốn và thủ tục thanh quyết toán dựa trên chứng từ hành chính chi tiết. Sự khác biệt giữa đặc thù ngành sáng tạo và cơ chế quản lý ngân sách thông thường khiến các dòng vốn hỗ trợ khó tiếp cận các dự án điện ảnh độc lập mang tính thể nghiệm cao.

Trả lời phỏng vấn của phóng viên Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, PGS, TS Bùi Hoài Sơn – Ủy viên Chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội thẳng thắn chỉ ra rằng: điểm khó nhất của Quỹ văn hóa, nghệ thuật là phải dung hòa hai logic tưởng như rất khác nhau: logic của sáng tạo là chấp nhận rủi ro, còn logic của tài sản công là phải chặt chẽ, minh bạch, không thất thoát. Ông nhấn mạnh: “Nếu chúng ta chỉ nhìn Quỹ như một khoản cấp phát ngân sách thông thường, Quỹ sẽ không thể tạo ra đột phá. Nhưng nếu coi rủi ro là lý do để buông lỏng kỷ luật tài chính thì lại rất nguy hiểm. Vì vậy, quy chế vận hành phải phân biệt rõ “rủi ro sáng tạo được chấp nhận” với “sai phạm quản lý không được chấp nhận”.”

Dưới góc nhìn lập pháp, PGS, TS Bùi Hoài Sơn định nghĩa rõ ràng về “rủi ro sáng tạo”: đó là một bộ phim nghệ thuật không đạt doanh thu như kỳ vọng nhưng mở ra ngôn ngữ điện ảnh mới; một dự án nghệ thuật truyền thống chưa có đông khán giả ngay nhưng cứu được một loại hình đang mai một; một sản phẩm công nghiệp văn hóa thử nghiệm chưa thành công thương mại nhưng tạo dữ liệu, kinh nghiệm và đội ngũ cho những bước đi tiếp theo. Những rủi ro ấy cần được chấp nhận nếu dự án đã được thẩm định đúng quy trình, đúng mục tiêu, đúng tiêu chí, có hồ sơ giải trình đầy đủ và được giám sát công khai. Ngược lại, việc sử dụng vốn sai mục đích, thông đồng lợi ích, lựa chọn dự án thiếu minh bạch, nghiệm thu hình thức, không công khai thông tin, không đánh giá kết quả thì không thể gọi là rủi ro sáng tạo, mà đó là vi phạm kỷ luật quản lý tài sản công và phải xử lý nghiêm.

Ảnh PGS, TS Bùi Hoài Sơn (2).jpg

Nếu chúng ta chỉ nhìn Quỹ như một khoản cấp phát ngân sách thông thường, Quỹ sẽ không thể tạo ra đột phá. Nhưng nếu coi rủi ro là lý do để buông lỏng kỷ luật tài chính thì lại rất nguy hiểm. Vì vậy, quy chế vận hành phải phân biệt rõ “rủi ro sáng tạo được chấp nhận” với “sai phạm quản lý không được chấp nhận”

- PGS, TS Bùi Hoài Sơn
Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và xã hội của Quốc hội

Từ thực tiễn đó, PGS, TS Bùi Hoài Sơn đề xuất quy chế vận hành Quỹ nên dựa trên 5 trụ cột cốt lõi nhằm kiến tạo mô hình thiết chế tài chính mới:

• Thứ nhất, hội đồng thẩm định độc lập: Gồm nhà quản lý, chuyên gia tài chính, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, đại diện doanh nghiệp, chuyên gia sở hữu trí tuệ và truyền thông. Không để một cơ quan hành chính vừa cấp vốn, vừa thẩm định, vừa nghiệm thu để bảo đảm tính khách quan.

• Thứ hai, bộ tiêu chí đa chiều: Văn hóa không thể chỉ đo bằng doanh thu mà cần tính đến giá trị nghệ thuật, di sản, tác động xã hội, khả năng lan tỏa, năng lực thực hiện, phương án tài chính và đóng góp cho thương hiệu quốc gia.

• Thứ ba, công khai toàn bộ quy trình: Từ tiêu chí xét chọn, danh sách hỗ trợ, mức hỗ trợ đến kết quả nghiệm thu nhằm tạo niềm tin xã hội, khuyến khích tư nhân đồng hành.

• Thứ tư, thiết kế cơ chế danh mục đầu tư: Quỹ mang tinh thần đầu tư mạo hiểm phải được đánh giá theo cả danh mục (có phim rủi ro, phim hòa vốn, phim tạo dòng tiền tốt) thay vì xét nét từng dự án đơn lẻ, miễn là tổng thể phục vụ đúng mục tiêu phát triển văn hóa.

• Thứ năm, kiểm toán, giám sát độc lập và giải trình định kỳ: Chấp nhận rủi ro không có nghĩa là miễn trách nhiệm; ngược lại, càng chấp nhận rủi ro thì càng phải minh bạch về lý do lựa chọn và cách sử dụng vốn.

Nếu làm được như vậy, Quỹ văn hóa, nghệ thuật sẽ không chỉ là “nguồn tiền mới”, mà là một thiết chế tài chính mới cho sáng tạo, giúp những ý tưởng có giá trị không bị chết yểu vì thiếu nguồn lực, đồng thời bảo đảm từng đồng vốn công được sử dụng có trách nhiệm,” - PGS, TS Bùi Hoài Sơn khẳng định. Điều này cũng góp phần khắc phục được khoảng trống về hành lang pháp lý hợp tác công - tư (PPP) và sự thiếu hụt hạ tầng tổ hợp trường quay hiện đại của điện ảnh nước nhà hiện nay.

SO SÁNH CÁC CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ VÀ ĐẤT ĐAI

SO SÁNH CÁC CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI THUẾ VÀ ĐẤT ĐAI.png

Rào cản hành chính trong thu hút hợp tác quốc tế

Việt Nam có lợi thế về bối cảnh tự nhiên phong phú, nền văn hóa đa dạng bản sắc nhưng số lượng các dự án điện ảnh quốc tế lớn chọn Việt Nam làm nơi bấm máy chưa tương xứng với tiềm năng. Rào cản chính nằm ở quy trình cấp phép đa tầng và sự thiếu đồng bộ giữa các cơ quan quản lý. Một đoàn phim nước ngoài khi vào Việt Nam phải thực hiện các thủ tục phê duyệt kịch bản, cấp phép nhập khẩu thiết bị và khảo sát bối cảnh qua nhiều đầu mối từ cấp trung ương đến địa phương. Sự vắng mặt của cơ chế “một cửa” làm kéo dài thời gian chuẩn bị, gây rủi ro về lịch trình và chi phí cho các nhà sản xuất quốc tế.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn phân tích: Với hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hóa, nếu thủ tục đi chậm thì cơ hội thường mất rất nhanh. Một liên hoan nghệ thuật, một chương trình trao đổi nghệ sĩ, một dự án đưa di sản, điện ảnh, âm nhạc, thời trang, mỹ thuật Việt Nam ra thế giới thường gắn với lịch trình quốc tế cụ thể. Nếu phải đi qua quá nhiều cửa, xin ý kiến quá nhiều nơi, không rõ ai quyết định cuối cùng, thì tinh thần hội nhập sẽ bị kìm hãm ngay ở khâu thực thi.”

Để khắc phục triệt để thực trạng e ngại trách nhiệm ở cấp thực thi, PGS.TS Bùi Hoài Sơn đưa ra giải pháp đồng bộ mang tính chiến lược gồm 5 điểm mấu chốt:

Một là, thiết lập cơ chế một đầu mối chịu trách nhiệm điều phối. Bộ VHTTDL nên là đầu mối chuyên môn; các Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học và Công nghệ tham gia phối hợp theo đúng chức năng (an ninh, đối ngoại, thuế, bản quyền). Phối hợp liên bộ không có nghĩa là mọi bộ cùng ký vào mọi việc, mà cần phân loại dự án rõ cấp nào quyết, thời hạn trả lời rõ ràng.

Hai là, xây dựng danh mục thủ tục theo mức độ rủi ro. Các dự án rủi ro thấp (trao đổi chuyên gia, biểu diễn theo thỏa thuận sẵn, triển lãm phi thương mại) nên áp dụng cơ chế đăng ký, thông báo và hậu kiểm; dự án rủi ro trung bình áp dụng thẩm định rút gọn; chỉ dự án nhạy cảm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, chủ quyền mới cần thẩm định đầy đủ.

Ba là, phân cấp mạnh cho địa phương và đơn vị sự nghiệp đủ năng lực. Trung ương không ôm hết các quyết định cụ thể mà ban hành tiêu chí, quy trình mẫu và cơ chế giám sát. Khi địa phương làm đúng quy trình, họ phải được bảo vệ trước tâm lý “làm nhiều dễ sai”.

Bốn là, triển khai cơ chế “tham vấn nhanh” thay cho “xin ý kiến kéo dài” thông qua cổng số liên thông. Quy định rõ nếu quá thời hạn nhất định bộ, ngành không phản hồi thì được hiểu là đồng ý, tránh tình trạng hồ sơ nằm im vì không ai dám kết luận.

Năm là, phải bảo vệ cán bộ thực thi trên cơ sở quy trình rõ ràng. Văn bản pháp luật phải quy định rõ tiêu chí, thời hạn, hồ sơ mẫu để người thực thi có điểm tựa vững chắc để đưa ra quyết định.

“Đơn giản hóa thủ tục không có nghĩa là buông lỏng quản lý. Đó là chuyển từ quản lý bằng sự nghi ngại sang quản lý bằng tiêu chí, dữ liệu, trách nhiệm và niềm tin có kiểm soát. Văn hóa Việt Nam muốn đi ra thế giới thì thể chế cũng phải có tốc độ tương thích với thế giới.”  - PGS, TS Bùi Hoài Sơn khẳng định. Đây chính là giải pháp gốc rễ, bên cạnh chính sách hoàn thuế (Tax Rebate) trực tiếp để tăng năng lực cạnh tranh của điện ảnh Việt Nam trên bản đồ quốc tế. Đặc biệt, cần có lộ trình xây dựng Nghị định hướng dẫn chính sách hoàn thuế, vì đây là chính sách mới, phức tạp, dễ gây lúng túng cho cơ quan thuế và tài chính trong quá trình thực thi Điều 9 của Nghị quyết 28/2026/QH16.

Đoàn làm phim Hollywood Kong Skull Island đã chọn Việt Nam làm bối cảnh.jpg
Đoàn làm phim Hollywood Kong Skull Island đã chọn Việt Nam làm bối cảnh

NGÔ HỒNG VÂN

Nguồn: Tạp chí VHNT số 647, tháng 6-2026