Từ khóa: Làng Triều Khúc; di sản văn hóa; diễn xướng dân gian; bảo tồn và phát huy.

Abstract: The Triều Khúc Village festival is a representative cultural event of the Red River Delta, preserving a rich system of rituals and folk performative practices that reflect the historical and spiritual values of the community. Within the festival’s structural framework, folk performance occupies a central position, functioning both as a mode of heritage practice and as a space in which artistic, social, and spiritual elements converge. Folk performance should not be understood merely as an act of presentation; rather, it constitutes a complex system of cultural behavior in which human actors, spatial contexts, temporal dimensions, and belief systems are intricately intertwined, thereby generating the “living” dynamics of heritage. In the context of ongoing transformations affecting many traditional festivals in Hanoi, the study of folk performance in the Triều Khúc festival contributes to the identification of heritage values, while also elucidating the ways in which communities preserve, transmit, and reconstruct cultural identity amidst the process of urbanization.

Keywords: Triều Khúc Village; cultural heritage; vernacular performance; safeguarding and revitalizing.

di_danh_bong3   le hoi lang trieu khuc   ảnh bao VH.jpg
Múa trống bồng - Ảnh minh họa: baovanhoa.vn

1. Đặt vấn đề

Triều Khúc (tên nôm là Đơ Thao, nay thuộc phường Thanh Liệt, thành phố Hà Nội) là một làng cổ, nơi có dấu vết con người sinh sống cách đây trên 4.000 năm. Theo hương phả, đây từng là nơi Vua Phùng Hưng đóng quân luyện binh trước khi hạ thành Tống Bình vào năm 766. Từ 5 dòng họ đầu tiên đến sinh cơ lập nghiệp (Triệu, Bùi, Hoàng, Nguyễn, Giang), làng đã phát triển thành “đất danh khoa”, với nhiều người đỗ đạt mang vinh hiển về cho làng (Trần Siêu, 2024, 11 tháng 5). Vốn là làng nông nghiệp nhưng Triều Khúc cũng là đất trăm nghề, với các sản phẩm tiêu biểu như: quai thao, khăn mặt, tua cờ, chỉ thêu, chổi lông gà, dệt dây băng huy chương… Hiện, làng còn giữ nhiều phong tục độc đáo, như: tục tôn tuổi, tục đóng cổng ngõ nhà gái trong đám cưới, tục ăn cỗ nhất tề, tục kiêng gọi “bố”...

Hằng năm, từ mồng 9-12 tháng Giêng, làng Triều Khúc tổ chức lễ hội để tưởng nhớ công đức Thành hoàng Phùng Hưng và Vũ Sứ Thần - người trấn Hải Dương, làm quan thời Hậu Lê, học được nhiều nghề khi đi sứ Trung Hoa, rồi về truyền dạy cho dân làng (Đỗ Ngọc Yến, 2012, tr.464). Lễ hội diễn ra với các nghi thức trang trọng nhưng điểm nhấn chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phần lễ và phần hội, thông qua các hình thức diễn xướng dân gian (múa trống bồng, múa sênh tiền, múa rồng, múa chạy cờ) và trò chơi dân gian (đấu vật, chơi cờ, chọi gà, bắt vịt dưới ao…). Lễ hội không chỉ là không gian thực hành tín ngưỡng mà còn là môi trường sản sinh, nuôi dưỡng và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là nghệ thuật diễn xướng dân gian vùng đất Thăng Long xưa.

2. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực địa, nghiên cứu thứ cấp. Nghiên cứu thực địa được tiến hành vào tháng 1/2026 (trước khi diễn ra lễ hội làng Triều Khúc). Chúng tôi quan sát tổng quan, phỏng vấn sâu 50 người, bao gồm: nghệ nhân truyền dạy, người cao tuổi, thành viên ban tế lễ, người thực hành diễn xướng, dân làng, du khách, giáo viên trường Trung học cơ sở Tân Triều, với mục đích tương tác, trải nghiệm, trao đổi để thu thập dữ liệu định tính về nguồn gốc, giá trị, ý nghĩa và thực trạng các diễn xướng dân gian trong lễ hội làng; thái độ và hành động của cộng đồng trong việc bảo tồn, phát huy và lan tỏa giá trị các diễn xướng trong bối cảnh hiện nay, đặc biệt dưới tác động của quá trình đô thị hóa.

Nghiên cứu thứ cấp được thực hiện nhằm phân tích và tổng hợp dữ liệu và thông tin hiện có, đã được thu thập và công bố trước đó bởi những người khác về các diễn xướng dân gian của làng Triều Khúc (thực trạng di sản, các chính sách bảo tồn di sản, xu hướng biến đổi của diễn xướng trong bối cảnh mới), từ đó hình thành bức tranh tổng quan về diện mạo diễn xướng dân gian làng Triều Khúc, xác định những khoảng trống trong nghiên cứu cần được lấp đầy.

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài viết nhằm xác định được nội dung và những đóng góp trong công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị các diễn xướng dân gian trong lễ hội làng Triều Khúc trước những yêu cầu và biến đổi của đời sống xã hội.

3. Kết quả và thảo luận

Các diễn xướng dân gian trong lễ hội làng Triều Khúc

Múa trống bồng (Con đĩ đánh bồng)

Múa trống bồng (tên gọi dân gian: Con đĩ đánh bồng) là một trong 10 điệu múa cổ tiêu biểu của đất Thăng Long xưa (1), được trình diễn trong lễ hội làng Triều Khúc gắn với truyền thuyết về người anh hùng dân tộc Phùng Hưng chống lại ách đô hộ của nhà Đường vào thế kỷ VIII. Để giải trí và khích lệ tinh thần chiến đấu của quân sĩ cũng như che mắt quân thù, ông cho nam binh giả nữ biểu diễn múa trống bồng - một điệu múa lả lơi, nhạy cảm nhưng cũng vô cùng dứt khoát, mạnh mẽ.

Từ đó thành lệ, múa trống bồng ở Triều Khúc là điệu múa chỉ dành cho nam giới. Người được chọn là những thanh niên chưa vợ, ngoại hình ưu tú, con nhà gia giáo, phải thực hiện chay tịnh nghiêm ngặt trước ngày tế Thánh. Đạo cụ là chiếc Trống bồng nhỏ (dài 40cm), khi múa được buộc ngang bụng bằng dải lụa đỏ rồi vòng qua thắt lưng. Vũ công được trang điểm lộng lẫy, đầu chít khăn mỏ quạ, mặc áo cánh trắng, cổ diềm đỏ, váy đen dài rộng, thắt lưng ngũ sắc đính kim sa, chân đi tất trắng. Điệu múa được trình diễn trên nền nhạc đa âm sắc của trống bản, thanh la, chiêng đồng, trống đại...

Múa trống bồng gồm một bài múa và 8 nhịp nhạc gõ, được lặp lại trong quá trình diễn. Hai vũ công đứng đối diện nhau, theo nhịp trống bản, hai tay vung tròn vỗ vào mặt trống; chéo chân đi ngang sang trái - chéo chân đi ngang sang phải; đôi tay vung rộng mở ra, đóng vào, bước chéo, lách lưng đổi chỗ cho nhau; lưng giáp lưng, hai chân mở trước sau, chân nhún; tay phải giơ cao rồi giật xuống ngang tai như chào dân làng; hai tay vung cao, mở rộng, úp vào, xoay thân nửa vòng về tư thế mặt giáp mặt; tay trái vung cao, giật xuống ngang tai như chào nhau. Tổ hợp động tác “đổi chỗ - chào dân làng - xoay thân nửa vòng - chào nhau” được lặp lại nhiều lần, đưa hai vũ công về điểm xuất phát. Cặp vũ công khi tán, khi tụ, những cánh tay vung tròn, mềm mại lúc thấp, lúc cao, khi rộng, khi hẹp. Điệu múa được tiến hành theo nhịp 2/4 (Nguyễn Thúy Hường, Nguyễn Thị Phương Thảo, 2025, tr.388). Vì là điệu múa nam giả nữ nên những bước múa phải mềm mại, lả lướt (nữ) nhưng phải nhanh gọn, mạnh mẽ (nam), cùng với âm thanh rộn ràng của dàn nhạc gõ, làm cho điệu múa cuốn hút mà không bị nhàm chán mặc dù lặp lại nhiều lần (Lê Ngọc Canh, 2015, tr.223).

Múa trống bồng gắn với các lễ hội truyền thống của làng Triều Khúc. Trong lễ hội Xuân, múa trống bồng được trình diễn với hai hình thức: múa rước (rước sắc Thành hoàng từ đình Sắc về đình Đại và ngược lại), thường có 8-10 cặp múa; múa tòng tế ở đình làng xen kẽ với múa sênh tiền và nghi thức tế Thánh, với 3-5 cặp múa. Đây không chỉ là trò diễn trong lễ hội mà là một tác phẩm nghệ thuật dân gian độc đáo, tích hợp các yếu tố không gian, người múa, trang phục, đạo cụ, động tác, biểu cảm… tạo nên sự giao thoa giữa tính thiêng của nghi lễ và tính giải trí của trò diễn. Múa trống bồng cũng xuất hiện ở một số nơi khác, như Mễ Sở, Nhật Tân, Đại Lộ… nhưng có sự khác biệt về động tác, âm nhạc, số lượng vũ công. Với giá trị lịch sử, giáo dục và nghệ thuật đặc sắc, lễ hội làng Triều Khúc với trò diễn “Con đĩ đánh bồng” được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2019. Đây là sự tôn vinh di sản văn hóa và là căn cứ pháp lý để bảo tồn, phát huy giá trị di sản trong bối cảnh hiện nay.

Múa rồng

Bên cạnh điệu múa “Con đĩ đánh bồng”, trong lễ hội làng Triều Khúc còn trình diễn múa rồng để cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an và giáo dục tinh thần thượng võ. Rồng là vật đứng đầu tứ linh nên múa rồng phải thể hiện sao cho hoành tráng, hướng thiện và oai linh. Người tham gia múa rồng phải khỏe, nhất là người điều khiển đầu rồng và đuôi rồng. Bí quyết của múa rồng là sự đồng đều, tính tập thể, nhịp nhàng nhưng linh hoạt, đòi hỏi người múa phải phối hợp ăn ý khi múa rồng uốn lượn, rồng phóng tới, rồng đảo phô diễn thần oai…

Trang phục của đội múa rồng phải đồng đều cả màu sắc và hình khối. Riêng chàng dũng sĩ với quả ngọc và gậy thần có trang phục khác màu, thể hiện dáng dấp của một võ tướng. Rồng của làng Triều Khúc có chín khúc (dài khoảng 12m), làm bằng tre, xương làm bằng mây, mình phủ vải lụa màu, đầu làm bằng giấy bồi. Rồng làm ra phải hội đủ các tiêu chuẩn: bền, chắc và toát ra được khí chất của linh vật.

Múa rồng với nhiều động tác, tạo hình biến hóa sinh động như rồng chào, rồng phục, rồng chầu, rồng bay cao, hạ thấp, rồng cuộn, rồng lượn, rồng uốn khúc, rồng đuổi ngọc, ngậm ngọc... Điệu múa rồng đặc trưng của làng Triều Khúc là điệu rồng cuộn: đuôi thắt lại, luồn qua bụng rồi căng mình, vài lần như vậy rồi mở ra, cuộn xoáy trôn ốc quấn quanh lực sĩ cầm ngọc. Cùng với âm thanh sinh động của trống cái, chũm chọe, tù và, điệu múa rồng luôn cuốn hút người xem. Theo các cụ cao niên, bao nhiêu năm nay điệu múa rồng của làng Triều Khúc vẫn không hề thay đổi.

Chạy cờ

Chạy cờ là trò diễn độc đáo trong lễ hội Xuân của làng Triều Khúc, tái hiện cuộc giao chiến giữa nghĩa quân Phùng Hưng và quân Đường tại thành Tống Bình. Trước kia, trò diễn này ra từ sân đình vòng ra cánh đồng phía trước rồi hợp quân giao chiến. Hiện nay, do không gian bị thu hẹp nên chạy cờ chỉ tổ chức ở sân đình và khu vực ven hồ trước đình.

Sáng ngày 12 tháng Giêng, khi lễ xuất tịch (rã đám) diễn ra trong đại đình, đến tuần rượu thứ ba với nghi thức “ẩm phước” thì tục chạy cờ bắt đầu, trong khi buổi tế vẫn tiếp tục đến khi hoàn tất. Tham gia có khoảng 40 trai làng, chia làm hai cánh quân áo xanh và áo đỏ, thắt đai lưng, đầu đội nón dấu, chân quấn xà cạp, đi giày vải. Dẫn đầu là hai ông Hỏa Diệm, theo sau là người cầm cờ đại, người vác long đao, người mang bát xà mâu, đoản đao, mã tấu, gươm trường… xen kẽ lính cầm cờ ngũ sắc cùng âm thanh của chiêng, trống cái, thanh la theo nhịp tam liên.

Xuất phát từ nghi môn, hai đội chạy vòng sau đình rồi theo hai đường bên trái - phải đình, tiến ra con đường trước ao đình. Khi hai cánh quân gặp nhau thì trận chiến giáp lá cà diễn ra. Tiếng hô xung phong vang lên như sấm, kẻ đâm ngang, người chém ngược ẩn hiện dưới lá cờ trận. Tiếng gươm, giáo va chạm nhau hòa cùng với tiếng chiêng, trống và tiếng hò reo cổ vũ làm cho không khí vô cùng náo nhiệt. Sau một hồi giao chiến, hai cánh quân đổi vế, rồi tập hợp một chạy về chỗ giếng làng cũ ba vòng ngược chiều kim đồng hồ, Sau đó quân xanh bên phải, quân đỏ bên trái chạy về Tam quan, hợp thành một vòng tròn lớn, chạy ngược chiều kim đồng hồ. Trong vòng tròn, hai kỳ binh đứng đối diện, múa cờ nhanh và mạnh theo hình số 8 nằm ngang. Khi các cánh quân chạy đủ bảy vòng thì trò diễn kết thúc, những người tham gia trở về sân đình, làm lễ bái Thánh, rồi cắm vũ khí vào nơi quy định.

Trò diễn chạy cờ tái hiện hào khí của nghĩa quân Phùng Hưng trong cuộc vây hãm thành Tống Bình, làm cho quân địch không có lối thoát. Đây là trò diễn thiêng, được cộng đồng giữ gìn cẩn thận (Lê Ngọc Canh, 2015, tr.75), với niềm tin rằng năm nào chạy cờ hoàn hảo thì năm ấy sẽ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân khang vật thịnh.

Múa sênh tiền

Sênh tiền (phách xâu tiền/ phách quán tiền) là nhạc cụ dùng để hòa tấu, giữ nhịp hoặc làm đạo cụ múa trong các nghi lễ truyền thống. Sênh tiền gồm ba thanh gỗ. Thanh thứ nhất, ở phía đầu mặt trên có hai cây đinh, mỗi cây đinh gắn ba đồng tiền, mặt dưới khứa 10 hàng răng cưa theo chiều ngang. Thanh thứ hai giống thanh thứ nhất nhưng chỉ có một cây đinh gắn đồng tiền. Cả hai thanh nối với nhau bằng một sợi dây da, dài khoảng 28cm, rộng 3cm, dày 8mm, phần cuối dùng làm tay cầm. Thanh thứ ba dài 20cm, gọi là “con dao”, khứa ở hai cạnh và không gắn đồng xu.

Khi diễn vũ công dùng tay trái cầm hai thanh chính, tay phải cầm “con dao”. Khi dập - mở hai thanh này, phách và đồng tiền sẽ phát ra âm thanh. Khi múa, thanh dao quẹt cạnh răng cưa vào cạnh hoặc mặt trên của hai thanh chính; hoặc dùng thanh dao gõ đầu, cạnh và mặt vào hai thanh chính; hoặc đưa thanh dao vào giữa hai thanh đang mở, gõ nhanh, rồi đưa tay cao lắc nhanh thanh chính làm cho những đồng tiền kêu leng keng.

Múa sênh tiền kết hợp các động tác nhịp nhàng, uyển chuyển của tay và chân. Người múa vừa di chuyển, vừa gõ theo nhịp. Khi múa, tay phải cầm sênh tiền giơ cao thì tay trái hạ xuống, sau đó tay phải hạ xuống và tay trái nâng đến ngang bụng thì các cây sênh tiền được múa cuộn hoặc gõ vào nhau. Khi tay múa thì một chân tiến một bước, nhún và hất lên, ba bước tiến thì có ba bước lùi.

Sênh tiền được dùng trong dàn nhạc cung đình, chầu văn, ca Huế, bát âm và các nghi thức tế lễ. Điệu múa này gắn với nghi lễ cầu mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Đội sênh tiền của làng Triều Khúc có 15 thành viên nữ, từ 12-16 tuổi, được tuyển chọn kỹ càng. Khi rước Thánh có sáu cặp trình diễn, còn khi tế lễ có ba cặp múa trên phương đình.