
96 năm đi cùng cách mạng, biến tư tưởng thành sức mạnh hành động
Ngày 1/8/1930, chỉ ít tháng sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, Ban Cổ động và Tuyên truyền của Đảng đã xuất bản tài liệu Ngày Quốc tế đỏ 1-8, kêu gọi nhân dân đấu tranh chống chiến tranh đế quốc, bảo vệ hòa bình và ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc. Tài liệu được phát hành trong điều kiện hoạt động cách mạng vô cùng khó khăn, nhưng đã tạo ra ảnh hưởng rộng lớn, góp phần thúc đẩy hàng trăm cuộc mít-tinh, biểu tình của công nhân, nông dân trên cả nước. Từ sự kiện có ý nghĩa lịch sử đó, ngày 1/8 trở thành dấu mốc tiêu biểu của công tác tư tưởng, văn hóa và sau này được xác định là Ngày truyền thống công tác Tuyên giáo của Đảng.
Tuy nhiên, lịch sử công tác tuyên giáo của Đảng không chỉ bắt đầu từ một cơ quan hay một sự kiện hành chính. Trước khi Đảng được thành lập, Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng báo chí, sách lý luận, các lớp huấn luyện chính trị và hoạt động tuyên truyền để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, thức tỉnh lòng yêu nước, đào tạo những cán bộ cách mạng đầu tiên. Những tác phẩm như: Bản án chế độ thực dân Pháp, Đường Kách mệnh; những tờ báo như: Người cùng khổ, Thanh niên không chỉ chuyển tải một hệ tư tưởng mới mà còn giúp những người yêu nước Việt Nam nhận ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Công tác tuyên giáo, vì thế, ngay từ nguồn cội đã gắn với quá trình tìm đường, mở đường, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng.
Điều đặc biệt trong truyền thống ấy là tư tưởng không tồn tại như những khái niệm trừu tượng, tách rời đời sống. Lý luận cách mạng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành niềm tin, ý chí và hành động của quần chúng. Từ cao trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, cuộc vận động dân chủ 1936–1939, cao trào giải phóng dân tộc 1939–1945 đến Cách mạng Tháng Tám, công tác tuyên giáo luôn gắn tuyên truyền với tổ chức lực lượng; gắn giáo dục lý tưởng với đấu tranh vì những quyền lợi thiết thực của nhân dân; gắn mục tiêu lâu dài của cách mạng với những khẩu hiệu hành động phù hợp từng thời điểm. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng là kết quả của quá trình làm cho chủ trương, đường lối của Đảng trở thành phong trào cách mạng rộng lớn, tự giác của quần chúng.
Trong các cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc, công tác tuyên giáo tiếp tục đảm nhiệm một sứ mệnh đặc biệt: xây dựng niềm tin vào chính nghĩa, củng cố ý chí chiến đấu, bồi dưỡng lòng yêu nước và tinh thần hy sinh vì Tổ quốc. Khi đất nước phải đối mặt với những kẻ thù mạnh hơn nhiều lần về tiềm lực kinh tế và quân sự, sức mạnh tinh thần trở thành một trong những nguồn lực quyết định. Những khẩu hiệu “Toàn dân kháng chiến”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, những phong trào thi đua yêu nước, những tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật giàu sức lay động đã góp phần kết nối hàng triệu con người thành một khối thống nhất về ý chí và hành động.
Sức mạnh ấy không hình thành từ sự cổ động đơn thuần. Nó được tạo ra từ sự thống nhất giữa mục tiêu chính trị đúng đắn với lợi ích căn bản của nhân dân; giữa lời nói của Đảng với hành động nêu gương của cán bộ, đảng viên; giữa khát vọng độc lập của dân tộc với những trải nghiệm sống động của từng gia đình, từng cộng đồng. Nói cách khác, công tác tuyên giáo thành công trước hết bởi nó nói đúng điều nhân dân mong muốn, khơi dậy điều nhân dân tin tưởng và hướng dẫn nhân dân cùng hành động vì mục tiêu chung.
Bước vào thời kỳ xây dựng đất nước sau năm 1975, đặc biệt từ khi tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986, nội dung và phạm vi của công tác tuyên giáo ngày càng được mở rộng. Ngành không chỉ tuyên truyền chủ trương, đường lối mà còn tham gia nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách; tham mưu về văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, y tế, dân số, thể dục thể thao; nghiên cứu dư luận xã hội; góp phần phát triển con người và nguồn nhân lực. Trong gần 25 năm đầu của công cuộc đổi mới, công tác tuyên giáo góp phần hình thành và phát triển nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Qua lịch sử, có thể nhận thấy ba giá trị xuyên suốt làm nên sức mạnh của ngành Tuyên giáo.
Trước hết là sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng nhưng không giáo điều, máy móc trong phương pháp. Kiên định không đồng nghĩa với khép kín tư duy, mà đòi hỏi phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, nhận diện những biến đổi mới và vận dụng sáng tạo lý luận vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Chính khả năng gắn cái phổ biến với cái đặc thù, gắn lý luận với đời sống dân tộc đã làm cho công tác tuyên giáo có sức sống và sức thuyết phục.
Thứ hai là sự gắn bó mật thiết với nhân dân và phong trào quần chúng. Lịch sử ngành Tuyên giáo đã chỉ ra rằng phong trào cách mạng của nhân dân không chỉ là môi trường hoạt động mà còn là thước đo chất lượng công tác tuyên giáo. Một chủ trương chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi nhân dân hiểu, tin tưởng, tự giác tham gia và nhìn thấy lợi ích chính đáng của mình trong đó. Bởi vậy, người làm công tác tuyên giáo không thể chỉ đứng trên diễn đàn hay trong phòng làm việc; phải đến với cơ sở, lắng nghe tiếng nói của người dân, hiểu những lo lắng, kỳ vọng, bức xúc và cả những sáng kiến nảy sinh từ cuộc sống.
Thứ ba là tinh thần tôn trọng sự thật và đề cao tính khoa học. Một trong những bài học sâu sắc được đúc kết từ lịch sử ngành là công tác tuyên giáo phải phản ánh trung thực hiện thực khách quan, “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật”; không nói một chiều, không tô hồng, không bôi đen. Biểu dương phải đúng mức, phê phán cũng phải trên tinh thần xây dựng và tôn trọng sự thật. Tuyên giáo càng không thể là sự gò ép, áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính. Niềm tin chân chính chỉ được hình thành khi con người được tôn trọng, được cung cấp thông tin đầy đủ, được đối thoại và được thuyết phục bằng lý lẽ, bằng thực tiễn và bằng chính tấm gương của cán bộ, đảng viên.
Kỷ niệm 96 năm truyền thống của ngành Tuyên giáo, vì thế, không chỉ là dịp ôn lại một chặng đường vẻ vang. Điều quan trọng hơn là nhận diện những giá trị bền vững để tiếp tục đổi mới. Truyền thống chỉ thực sự trở thành sức mạnh khi được chuyển hóa thành năng lực giải quyết những vấn đề của hôm nay. Trong một xã hội đang biến đổi nhanh chóng, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội và các nền tảng truyền thông xuyên biên giới, phương thức tạo lập, lan truyền và tiếp nhận thông tin đã khác trước rất nhiều. Công chúng ngày càng chủ động hơn, đa dạng hơn, có khả năng kiểm chứng, phản biện và trực tiếp tham gia sản xuất nội dung. Điều đó đặt công tác tuyên giáo trước yêu cầu phải tiếp tục đổi mới từ tư duy, tổ chức, nội dung đến phương thức hoạt động.
Khi tuyên giáo trở thành một phần của quá trình hành động
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, diễn ra từ ngày 20 đến ngày 24/7/2026, đã xem xét và quyết định nhiều vấn đề quan trọng về xây dựng Đảng, hoàn thiện hệ thống chính trị, đổi mới mô hình phát triển, quản trị không gian và nguồn lực quốc gia, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững. Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 24/7/2026 đã thể hiện sự thống nhất cao của Trung ương đối với các quyết sách lớn, tạo cơ sở chính trị để tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV.
Điểm nổi bật trong tinh thần Hội nghị là sự chuyển mạnh từ việc xác lập chủ trương sang tổ chức thực hiện chủ trương. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 3, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thẳng thắn chỉ rõ: “Điểm nghẽn lớn nhất vẫn là khâu thực thi”. Nhận định này không chỉ phản ánh một hạn chế trong quản lý, điều hành, mà đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện phương thức lãnh đạo, tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, bố trí nguồn lực và đánh giá cán bộ.
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận, quy định của Hội nghị Trung ương 3 ngày 29/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục nhấn mạnh: “Triển khai phải rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm”. Chất lượng thực thi phải trở thành thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả vận hành của hệ thống; nhận thức phải được chuyển thành hành động, quyết tâm phải được chuyển thành kết quả.
Tinh thần đó có ý nghĩa trực tiếp đối với ngành Tuyên giáo. Lâu nay, khi nói đến đưa nghị quyết vào cuộc sống, chúng ta thường chú trọng khâu học tập, phổ biến, tuyên truyền. Đây là công việc rất cần thiết, nhưng chưa đủ. Nghị quyết không đi vào cuộc sống chỉ bằng việc tổ chức nhiều hội nghị, phát hành nhiều tài liệu hay tạo ra nhiều đợt tuyên truyền. Nghị quyết chỉ thực sự sống trong đời sống khi được cụ thể hóa thành chính sách, chương trình, dự án; được bố trí nguồn lực; có người chịu trách nhiệm; có sản phẩm cụ thể; được kiểm tra bằng dữ liệu và được nhân dân cảm nhận thông qua những thay đổi thiết thực.
Do đó, công tác tuyên giáo trong giai đoạn mới phải vượt ra khỏi giới hạn của hoạt động truyền đạt sau khi quyết sách đã được ban hành. Tuyên giáo phải tham gia vào toàn bộ vòng đời của chính sách: từ phát hiện vấn đề, nghiên cứu dư luận, cung cấp luận cứ, tạo lập sự đồng thuận trong quá trình xây dựng chủ trương đến giải thích chính sách, đồng hành trong tổ chức thực hiện, tiếp nhận phản hồi và đánh giá tác động xã hội.
Trước khi một chính sách được ban hành, cơ quan tuyên giáo cần cung cấp những thông tin xác thực về tâm trạng, nhu cầu và nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; dự báo những phản ứng xã hội có thể nảy sinh; nhận diện những nhóm chịu tác động trực tiếp và đề xuất phương án truyền thông phù hợp. Trong quá trình thực hiện, công tác thông tin phải làm rõ mục tiêu, lợi ích, lộ trình, trách nhiệm và những khó khăn cần chia sẻ. Sau khi chính sách được triển khai, tuyên giáo phải tiếp tục lắng nghe, phản ánh trung thực kết quả, những điểm nghẽn, bất cập và kiến nghị từ cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền kịp thời điều chỉnh.
Đó chính là sự chuyển đổi từ tuyên truyền về chính sách sang truyền thông đồng hành cùng chính sách; từ truyền đạt một chiều sang xây dựng quan hệ hai chiều giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Trong mối quan hệ ấy, nhân dân không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn là chủ thể tham gia, giám sát, phản biện và kiểm chứng chính sách.
Bài phát biểu tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 xác định các quyết sách của Trung ương là một hệ thống liên thông, hướng tới bốn bước chuyển có quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và chất lượng vận hành của hệ thống chính trị; quản trị thống nhất không gian phát triển và nguồn lực quốc gia; chuyển mô hình phát triển sang dựa chủ yếu vào năng suất, tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người; chuyển mạnh từ ứng phó, khắc phục hậu quả sang chủ động nhận diện, dự báo, phòng ngừa, thích ứng và nâng cao sức chống chịu của đất nước.
Công tác tuyên giáo có vai trò kết nối cả bốn bước chuyển này. Muốn bộ máy vận hành hiệu quả, trước hết đội ngũ cán bộ phải thống nhất nhận thức về chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm và mục tiêu phục vụ nhân dân. Muốn quản trị thống nhất các nguồn lực, phải vượt qua tư duy cục bộ, khép kín theo ngành, địa phương và nhiệm kỳ; hình thành ý thức đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích bộ phận. Muốn đổi mới mô hình phát triển, cần tạo ra một môi trường văn hóa khuyến khích lao động sáng tạo, tôn trọng tri thức, đề cao năng suất và nuôi dưỡng tinh thần dấn thân. Muốn chủ động bảo vệ đất nước, cần xây dựng ý thức trách nhiệm, khả năng nhận diện rủi ro và sức đề kháng xã hội trước thông tin sai lệch, sự chia rẽ và các tác động tiêu cực từ bên ngoài.
Như vậy, tuyên giáo không phải là công việc đứng bên ngoài tiến trình phát triển để mô tả hay cổ vũ tiến trình ấy. Tuyên giáo phải trở thành một thành tố hữu cơ của năng lực phát triển quốc gia. Một chính sách tốt nhưng không được giải thích rõ ràng có thể gặp phải sự hoài nghi. Một chủ trương đúng nhưng tổ chức thực hiện thiếu công bằng sẽ làm suy giảm niềm tin. Một quyết sách lớn nhưng không lắng nghe ý kiến của người chịu tác động có thể dẫn tới những phản ứng xã hội không cần thiết. Ngược lại, thông tin minh bạch, đối thoại chân thành và sự tham gia thực chất của nhân dân có thể giảm chi phí thực thi, tạo đồng thuận và huy động được nhiều nguồn lực xã hội.
Đặc biệt, công tác tuyên giáo phải góp phần khắc phục bệnh hình thức trong học tập và triển khai nghị quyết. Học nghị quyết không phải để thuộc lòng câu chữ, mà để hiểu đúng tinh thần, nhận rõ trách nhiệm và biết mình phải làm gì. Quán triệt không phải là điểm danh cho đủ, nghe cho qua hay sao chép một chương trình hành động chung cho mọi cơ quan, địa phương. Mỗi chương trình phải phản ánh “hơi thở, nhịp sống” và đặc thù của từng ngành, từng địa bàn; xác định rõ mục tiêu, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Không thể lấy số lượng kế hoạch, hội nghị hay báo cáo thay cho kết quả.
Điều này đòi hỏi chính hoạt động tuyên giáo cũng phải được đánh giá bằng những tiêu chí thực chất hơn. Không nên chỉ đo hiệu quả bằng số tin, bài, hội nghị, lớp học hay số người tham dự. Cần xem xét mức độ cán bộ, đảng viên hiểu đúng những nội dung cốt lõi; mức độ chuyển biến trong thái độ và hành vi; khả năng cụ thể hóa nghị quyết thành nhiệm vụ; sự tham gia của nhân dân; mức độ đồng thuận xã hội; kết quả giải quyết những vấn đề bức xúc và sự cải thiện niềm tin đối với cơ quan công quyền.
Ở đây, mối quan hệ giữa công tác tuyên giáo với công tác cán bộ có ý nghĩa đặc biệt. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rằng nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm, không dám làm thì công việc vẫn trì trệ. Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo những việc lớn, việc khó, những điểm nghẽn kéo dài; phải lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp và nhân dân; quyết định theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm đến cùng.
Tuyên giáo, bởi vậy, phải góp phần xây dựng văn hóa trách nhiệm và đạo đức công vụ. Cần biểu dương đúng người, đúng việc, lan tỏa những cán bộ liêm chính, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời phê phán biểu hiện né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, nói nhiều làm ít, nhận thành tích nhưng đẩy trách nhiệm khi công việc chậm trễ. Việc nêu gương không nên dừng lại ở những câu chuyện mang tính minh họa, mà phải tạo ra chuẩn mực xã hội để cán bộ soi vào, nhân dân giám sát và tổ chức đánh giá.
Một yêu cầu quan trọng khác là kết hợp chặt chẽ giữa kỷ luật và đổi mới. Kỷ luật nghiêm minh không nhằm làm cán bộ sợ hãi, thu mình hay không dám hành động. Kỷ luật phải giúp mỗi người hiểu rõ giới hạn, thẩm quyền và trách nhiệm, từ đó yên tâm sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Công tác tuyên giáo cần làm rõ sự khác biệt giữa đổi mới chân chính với lợi dụng cơ chế thí điểm để vụ lợi; giữa những sai sót trong quá trình tìm tòi vì mục tiêu chung với hành vi cố ý vi phạm, tham nhũng, tiêu cực. Có như vậy mới vừa giữ vững kỷ cương, vừa nuôi dưỡng được tinh thần sáng tạo trong đội ngũ cán bộ.
Sâu xa hơn, tinh thần của Hội nghị Trung ương 3 đặt ra một sự chuyển đổi căn bản: từ xem thực thi là khâu tiếp theo của hoạch định chính sách sang xem thực thi là tiêu chuẩn kiểm chứng chất lượng của chủ trương và năng lực lãnh đạo. Trong sự chuyển đổi ấy, công tác tuyên giáo phải góp phần hình thành một nhận thức xã hội mới: giá trị của nghị quyết không nằm ở sự trang trọng của văn bản mà ở khả năng giải quyết những vấn đề của cuộc sống; uy tín của tổ chức không chỉ được tạo dựng bằng lời nói mà bằng chất lượng phục vụ; niềm tin của nhân dân không thể đòi hỏi một chiều mà phải được bồi đắp hằng ngày bằng sự công bằng, minh bạch và kết quả cụ thể.
Kiến tạo niềm tin trong kỷ nguyên số – thước đo mới của ngành Tuyên giáo
Trong mọi thời kỳ cách mạng, niềm tin luôn là một nguồn lực đặc biệt. Niềm tin giúp một dân tộc vượt qua gian khổ, giúp con người chấp nhận hy sinh lợi ích riêng vì mục tiêu chung và giúp xã hội duy trì sự gắn kết trước những biến động lớn. Nhưng niềm tin không phải là một trạng thái cố định, càng không thể được hình thành chỉ bằng lời kêu gọi. Niềm tin được tạo dựng bằng sự thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa chủ trương đúng đắn với tổ chức thực hiện công bằng, giữa mục tiêu phát triển của đất nước với cuộc sống hằng ngày của mỗi người dân.
Trong kỷ nguyên số, quá trình hình thành niềm tin trở nên phức tạp hơn. Thông tin được lan truyền với tốc độ rất nhanh; ranh giới giữa người sản xuất và người tiếp nhận nội dung ngày càng mờ; mỗi cá nhân có thể trở thành một kênh thông tin, một người bình luận và một chủ thể có khả năng tác động đến dư luận. Cùng một sự kiện có thể được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Thông tin đúng và sai, có kiểm chứng và chưa được kiểm chứng, thiện chí và xuyên tạc có thể cùng xuất hiện, cạnh tranh sự chú ý của công chúng.
Trong môi trường đó, nếu công tác tuyên giáo chậm cung cấp thông tin, khoảng trống sẽ nhanh chóng bị lấp đầy bởi tin đồn, suy diễn hoặc thông tin sai lệch. Nhưng tốc độ không thể thay thế độ chính xác; phản ứng nhanh không thể thay thế chiều sâu lý luận; và quyền lực truyền thông không thể thay thế sự thuyết phục. Điều quan trọng nhất vẫn là cung cấp thông tin kịp thời, trung thực, dễ hiểu; giải thích thấu đáo những vấn đề phức tạp; chủ động đối thoại với các ý kiến khác nhau; thừa nhận những khó khăn, hạn chế và chỉ rõ phương án khắc phục.
Bài phát biểu tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 đã xác định công tác thông tin, tuyên truyền phải được đặt ngay trong từng chương trình hành động; phải làm rõ mục tiêu, lợi ích, lộ trình và trách nhiệm để nhân dân hiểu đúng, tin tưởng và đồng hành. Đồng thời, phải chủ động đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc nhưng vẫn lắng nghe những phản biện có cơ sở. “Đồng thuận xã hội trước hết được tạo ra bằng chính sách đúng, thực hiện công bằng, công khai” và bằng kết quả mà người dân trực tiếp cảm nhận được.
Đây là một chỉ dẫn rất quan trọng. Nó cho thấy công tác tuyên giáo không thể thay thế chính sách, càng không thể dùng truyền thông để che lấp những hạn chế trong thực thi. Truyền thông tốt có thể giúp một chính sách đúng được hiểu đúng và thực hiện tốt hơn; nhưng không một kỹ thuật truyền thông nào có thể lâu dài bảo vệ một cách làm thiếu công bằng, không minh bạch hoặc không mang lại lợi ích chính đáng cho nhân dân.
Từ yêu cầu ấy, ngành Tuyên giáo cần thực hiện một số chuyển đổi căn bản.
Trước hết là chuyển từ truyền đạt một chiều sang đối thoại và tương tác xã hội. Trong quá khứ, khi nguồn thông tin còn hạn chế, mô hình thông tin từ trên xuống có thể phát huy tác dụng rõ rệt. Ngày nay, công chúng có trình độ cao hơn, nguồn thông tin đa dạng hơn và nhu cầu được tham gia lớn hơn. Một thông điệp dù đúng nhưng không trả lời được những câu hỏi thực tế của người dân sẽ khó tạo ra sự đồng thuận sâu sắc.
Đối thoại không có nghĩa là từ bỏ định hướng, mà là làm cho định hướng có cơ sở thực tiễn và sức thuyết phục hơn. Lắng nghe không phải biểu hiện của sự yếu thế, mà là điều kiện để nhận biết những khoảng cách giữa chủ trương với cuộc sống. Phản biện có cơ sở cần được xem như một nguồn lực giúp hoàn thiện chính sách. Khi nhân dân được thông tin đầy đủ, được nói lên ý kiến và nhận thấy ý kiến chính đáng của mình được tiếp thu, niềm tin sẽ được củng cố bền vững hơn.
Thứ hai là chuyển từ hoạt động tuyên truyền theo sự kiện sang truyền thông chiến lược, thường xuyên và có khả năng dự báo. Không thể chờ đến khi một vấn đề trở thành khủng hoảng dư luận mới bắt đầu xử lý. Công tác tuyên giáo cần xây dựng năng lực theo dõi các xu hướng xã hội, phân tích dữ liệu, nhận diện sớm những thay đổi trong tâm trạng công chúng và dự báo những vấn đề có thể tác động đến niềm tin xã hội.
Điều này đòi hỏi sự kết hợp giữa điều tra xã hội học truyền thống với dữ liệu số; giữa mạng lưới báo cáo viên, cộng tác viên dư luận xã hội với các công cụ phân tích thông tin trên không gian mạng; giữa kinh nghiệm chính trị với tri thức về tâm lý học, xã hội học, truyền thông và công nghệ. Dữ liệu không thay thế sự nhạy cảm chính trị, nhưng giúp những nhận định chính trị có thêm căn cứ khách quan. Công nghệ không thay thế con người, nhưng có thể giúp con người phát hiện nhanh hơn những vấn đề đang hình thành trong xã hội.
Thứ ba là chuyển từ tư duy phòng thủ, phản ứng sang chủ động kiến tạo không gian thông tin lành mạnh. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc vẫn là nhiệm vụ quan trọng, nhưng không nên chỉ tập trung chạy theo từng thông tin sai lệch. Cách bảo vệ nền tảng tư tưởng bền vững nhất là làm cho những giá trị đúng đắn hiện diện sinh động trong đời sống; cung cấp những sản phẩm thông tin có chất lượng; tạo ra những câu chuyện tích cực, chân thực và có sức truyền cảm hứng; bồi dưỡng năng lực tự nhận biết, tự sàng lọc thông tin cho người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.
Nếu chỉ phản bác mà không kiến tạo, chúng ta có thể giành ưu thế trong một cuộc tranh luận nhưng chưa chắc đã tạo dựng được niềm tin lâu dài. Nếu chỉ nói về thành tựu mà né tránh hạn chế, thông tin sẽ thiếu sức thuyết phục. Tính chiến đấu của công tác tuyên giáo không chỉ thể hiện ở thái độ kiên quyết trước cái sai, mà còn ở sự dũng cảm nhìn thẳng vào những yếu kém trong nội bộ, đấu tranh với bệnh quan liêu, hình thức, tham nhũng, lãng phí và những hành vi làm tổn thương niềm tin của nhân dân.
Thứ tư là chuyển từ những thông điệp chung cho số đông sang nội dung phù hợp với từng nhóm công chúng. Xã hội hiện đại ngày càng phân hóa về nghề nghiệp, độ tuổi, trình độ, hoàn cảnh sống, sở thích và phương thức tiếp nhận thông tin. Người trẻ không tiếp nhận thông tin giống người cao tuổi; công nhân có mối quan tâm khác với doanh nhân; đồng bào ở vùng dân tộc thiểu số có những điều kiện văn hóa, ngôn ngữ và đời sống khác với cư dân đô thị.
Công tác tuyên giáo phải hiểu sâu từng nhóm đối tượng, sử dụng ngôn ngữ, hình thức và kênh truyền tải phù hợp. Đặc biệt, với thế hệ trẻ, cần chuyển mạnh từ giáo dục bằng những khái niệm trừu tượng sang những trải nghiệm văn hóa, những sản phẩm sáng tạo và những câu chuyện gần gũi. Lòng yêu nước, trách nhiệm công dân, ý thức cộng đồng và khát vọng phát triển phải được thể hiện qua những hành động cụ thể, những hình mẫu thuyết phục và những không gian để người trẻ trực tiếp tham gia sáng tạo.
Thứ năm là chuyển từ đánh giá hoạt động sang đánh giá kết quả và tác động. Một nhiệm vụ tuyên giáo chỉ có thể coi là hoàn thành khi tạo ra sự chuyển biến có thể nhận biết và kiểm chứng. Cần trả lời được những câu hỏi: cán bộ, đảng viên và nhân dân đã hiểu đúng hơn điều gì; thái độ và hành vi đã thay đổi ra sao; một chính sách có được triển khai thuận lợi hơn không; những vấn đề bức xúc có được giải quyết không; mức độ hài lòng, tin tưởng và tham gia của nhân dân có được nâng lên không.
Tinh thần Hội nghị Trung ương 3 yêu cầu mỗi nhiệm vụ phải có sản phẩm vận hành, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế; phải làm rõ điểm nghẽn nào được tháo gỡ, nguồn lực nào được khơi thông, người dân và doanh nghiệp được hưởng lợi gì. Đây cũng phải là nguyên tắc đánh giá công tác tuyên giáo. Những kết quả khó định lượng như niềm tin hay đồng thuận vẫn có thể được khảo sát bằng các phương pháp khoa học, kết hợp dữ liệu định lượng với đánh giá định tính và phản hồi trực tiếp từ cơ sở.
Để thực hiện những chuyển đổi đó, nhân tố quyết định vẫn là đội ngũ cán bộ. Lịch sử ngành đã đúc kết yêu cầu người cán bộ tuyên giáo phải có cả “tâm” và “tầm”: có bản lĩnh chính trị, nhiệt huyết, kỷ luật và tinh thần phụng sự; đồng thời có tri thức, phương pháp khoa học, năng lực nghiên cứu và một nền tảng văn hóa vững chắc. Công tác tuyên giáo là một khoa học tổng hợp, liên quan đến chính trị học, văn hóa học, xã hội học, tâm lý học, báo chí, truyền thông, giáo dục, khoa học dữ liệu và nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác.
Người cán bộ tuyên giáo trong thời đại mới không chỉ cần nói hay, viết tốt mà phải biết nghiên cứu, phân tích và đối thoại; không chỉ nắm vững nghị quyết mà còn phải hiểu đời sống; không chỉ có khả năng định hướng mà còn biết tiếp nhận phản hồi; không chỉ sử dụng thành thạo các phương tiện truyền thông truyền thống mà phải làm chủ công nghệ số, dữ liệu và các phương thức truyền thông hiện đại. Quan trọng hơn cả, họ phải có uy tín từ sự trung thực, tinh thần trách nhiệm và khả năng bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân.
Cùng với nâng cao năng lực cá nhân, cần tiếp tục đổi mới cơ chế phối hợp. Tuyên giáo là nhiệm vụ của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị, không phải công việc riêng của cơ quan tuyên giáo. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, đều là một chủ thể truyền thông bằng chính lời nói, hành vi và kết quả công việc của mình. Một bài tuyên truyền tốt không thể bù đắp cho thái độ vô cảm của cán bộ khi tiếp dân; một khẩu hiệu về phục vụ không thể thuyết phục nếu thủ tục vẫn gây phiền hà; một lời kêu gọi đổi mới khó tạo cảm hứng nếu người dám làm không được bảo vệ.
Vì thế, hiệu quả tuyên giáo trước hết phải bắt đầu từ chất lượng lãnh đạo, quản trị và phục vụ. Khi chủ trương đúng, cán bộ gương mẫu, thực hiện công khai, công bằng và người dân được thụ hưởng thành quả, mỗi kết quả phát triển tự nó sẽ trở thành một thông điệp có sức thuyết phục. Khi lời nói thống nhất với việc làm, niềm tin sẽ được bồi đắp. Khi những bức xúc chính đáng được lắng nghe và giải quyết, đồng thuận sẽ không chỉ nằm trong báo cáo mà hiện diện trong tâm trạng xã hội.
Kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống công tác Tuyên giáo của Đảng là dịp để tự hào về những đóng góp lớn lao của nhiều thế hệ cán bộ đã tận tụy trên mặt trận tư tưởng, lý luận, văn hóa, khoa giáo. Nhưng sự tri ân có ý nghĩa nhất đối với lịch sử chính là tiếp tục làm mới truyền thống ấy bằng tinh thần của thời đại.
Từ những tờ truyền đơn cách mạng được bí mật chuyền tay trong những năm tháng đấu tranh giành chính quyền đến không gian truyền thông số rộng lớn hôm nay, phương tiện có thể thay đổi, nhưng mục tiêu căn bản của công tác tuyên giáo vẫn là phụng sự Đảng, phụng sự Tổ quốc và nhân dân; bảo vệ nền tảng tư tưởng; củng cố sự thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội; khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát triển đất nước.
Điểm mới của giai đoạn hiện nay là những mục tiêu ấy phải được gắn chặt hơn với năng lực thực thi. Ngành Tuyên giáo không chỉ góp phần làm cho cán bộ và nhân dân hiểu nghị quyết, mà phải thúc đẩy việc biến nghị quyết thành chương trình, sản phẩm và kết quả; không chỉ bảo vệ niềm tin bằng lý lẽ, mà phải góp phần bồi đắp niềm tin bằng chính sách đúng và cuộc sống tốt đẹp hơn; không chỉ tạo ra sự thống nhất trong nhận thức, mà phải chuyển sự thống nhất ấy thành hành động đồng bộ của cả hệ thống chính trị.
Thông điệp “biến nhận thức thành hành động, quyết tâm thành sản phẩm” tại Hội nghị quán triệt Nghị quyết Trung ương 3 cũng chính là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ đối với ngành Tuyên giáo. Khi từng chủ trương được cụ thể hóa, từng lời hứa được kiểm chứng, từng điểm nghẽn được tháo gỡ và từng người dân cảm nhận rõ sự tiến bộ trong cuộc sống, công tác tuyên giáo mới hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của mình.
Chín mươi sáu năm qua, ngành Tuyên giáo đã góp phần biến tư tưởng cách mạng thành sức mạnh tinh thần, biến sức mạnh tinh thần thành phong trào quần chúng và biến phong trào quần chúng thành những thắng lợi lịch sử. Trong kỷ nguyên phát triển mới, truyền thống ấy cần được nâng lên một tầm cao mới: biến niềm tin thành trách nhiệm, biến đồng thuận thành hành động, biến khát vọng thành những kết quả cụ thể vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân và tương lai phồn vinh của đất nước.