Nhạc Sư Vĩnh Bảo, ảnh của Hóa Vân. Giải Nhì,  Cuộc thi ảnh nghệ thuật tỉnh  Đồng Tháp 2019.jpg
Nhạc Sư Vĩnh Bảo, ảnh của Hóa Vân. Giải Nhì, Cuộc thi ảnh nghệ thuật tỉnh Đồng Tháp 2019

Rất tình cờ, khi tôi đọc cuốn Hồi ký của GS, TS Trần Văn Khê, hình ảnh Nhạc sư Vĩnh Bảo gây ra một mối tò mò vô cùng lớn trong tôi. GS Trần Văn Khê viết, đại ý rằng trong đời ông, ông chưa từng nghe ai đàn tranh hay như Nhạc sư Vĩnh Bảo, tiếng đàn vừa sâu sắc vừa bay bướm, hoa mỹ. Hơn nữa, cây đàn tranh bằng gỗ kiri (ngô đồng Nhật Bản) mà thầy Vĩnh Bảo đóng cho Giáo sư có một âm thanh tuyệt hảo khiến chuyên gia âm nhạc học và âm thanh học người Pháp cũng thán phục. GS Khê còn gọi ông là “Đệ nhất danh cầm” trong làng nhạc cổ truyền Việt Nam thời hiện đại. Thế là một ngày tôi tìm đến thăm Nhạc sư lạ kỳ này.

Tiếng đàn hay hồn xứ sở?

Hôm đó, Nhạc sư Vĩnh Bảo trò chuyện với tôi từ 10 giờ sang cho đến tận 9 giờ tối. Ông có một trí nhớ mà tôi ví như bộ nhớ của máy vi tính. Hầu như đụng chạm đến vấn đề gì về nhạc cổ truyền Việt, hay cả chuyện đời, nhân tình thế thái, có liên quan đến trải nghiệm của Nhạc sư  thì ông gần như nhớ rõ đến từng chi tiết, thậm chí đến tên tuổi nhân vật hay ngày tháng, địa điểm xảy ra câu chuyện. Nhạc sư tâm sự: “Trời cho tôi một trí nhớ tốt. Tôi học nhạc hay ngoại ngữ rất nhanh và nhớ nhiều chuyện đã đọc, đã nghe hay đã xảy ra trong đời kể cả chuyện vui hay chuyện buồn”.

Nhạc sư Vĩnh Bảo sinh năm 1918, tại Đồng Tháp và cũng mất tại đó năm 2021 sau 3 năm chuyển từ TP Hồ Chí Minh về lại quê hương, thọ 103 tuổi. Ở thời điểm tôi gặp Nhạc sư là năm 2005, khi đó ông đã 87 tuổi. Người  ông nhỏ nhắn, tóc vuốt dài ôm lấy đầu rất “nghệ” và giọng nói trẻ trung, mạch lạc, vững chãi đầy khí chất.

Bình thường, Nhạc sư sẽ ngồi kiểu nửa nằm trên chiếc ghế bố có thành tựa ngả về phía sau vì ông bị chứng chóng mặt không cách nào chữa khỏi bởi một lý do duy nhất mà bác sĩ Pháp đã kết luận: dây thần kinh thính giác trong đôi tai ông quá nhạy cảm nên ảnh hưởng đến cơ quan giữ thăng bằng cho cơ thể! Ông chỉ quên đi chứng chóng mặt khi bị hút vào câu chuyện với khách đến thăm hay học trò đến học.

Phải chăng, nhờ sự thiên bẩm về thính giác khác người như vậy nên Nhạc sư nhạy cảm sâu sắc với âm nhạc. Nhờ truyền thống yêu cổ nhạc trong gia đình ông – thân phụ ông là thầy Đông y, biết chơi nhạc cụ truyền thống và gia đình thậm chí còn lập ban hát để diễn tuồng – nên từ năm 8 tuổi, Nhạc sư Vĩnh Bảo đã biết chơi đàn gáo, đàn kìm. Cha ông thấy vậy nên cho ông đi thụ giáo âm nhạc từ các nhạc sư, nghệ sĩ trong vùng sau khi giờ học văn hóa ở trường. Sau này, ông còn học hỏi từ vô số nghệ sĩ, nhạc sĩ khác, kể cả về cổ nhạc và âm nhạc, nhạc cụ Tây phương. Ông ước lượng bản thân đã học “ngón đàn (kỹ thuật) và chữ đàn (nốt, bản đàn) của cổ nhạc từ khoảng 200 nghệ sĩ, nhạc sĩ khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam theo lối học lỏm là chính vì đâu có máy ghi âm. Ông nghe người ta đàn, bắt được chỗ “đàn xuất thần” của họ và cố gắng ghi nhớ lại để làm theo. Nhờ đó, vốn liếng âm nhạc của ông ngày một dày dặn. Ngoài ra, ông còn đi hòa đàn với người khác bất cứ khi nào có cơ hội; điều đó giúp ông trở thành nghệ sĩ giỏi “ứng tác ứng tấu” trong lối chơi nhạc truyền thống.

Khi đã 103 tuổi,  nhưng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo vẫn dạy đàn cho các học trò qua mạng internet bằng hình thức trực tuyến. Ảnh: TL.jpg
Khi đã 103 tuổi, nhưng nhạc sư Nguyễn Vĩnh Bảo vẫn dạy đàn cho các học trò qua mạng internet bằng hình thức trực tuyến. - Ảnh: TL

Nhạc sư có quan niệm rất hay: “Ai tôi cũng học hỏi được một điều gì đấy. Người đàn hay thì tôi tiếp thu cái hay để trau dồi vốn liếng của mình; người đàn dở thì tôi thấy chỗ dở đó để mà tránh. Lối trình diễn nhạc cổ truyền của ta khác với lối chơi nhạc phương Tây. Người chơi nhạc ta là phải biết biến hóa, thêm thắt hợp lý xung quanh một “lòng bản” xương sống khi diễn tấu; nhờ đó, người ta thích đến để nghe những lối đàn riêng, chữ đàn riêng, đôi khi xuất thần, từ cùng một bản nhạc quen thuộc, khiến một buổi hòa đàn trở nên thú vị, đầy cảm hứng, sáng tạo”.

Nhạc sư Vĩnh Bảo có thể sử dụng được khoảng 30 nhạc cụ khác nhau, nhưng ông hay chơi nhất là đàn kìm và đàn cò, đặc biệt là đàn tranh. Và tiếng đàn tranh của ông dạo các điệu buồn từ nhạc Tài tử thì thôi rồi – “Quỷ khốc thần sầu”; nó ai oán, không rầu rĩ, thê thảm nhưng da diết, như cứa vào con tim người nghe. Nhạc sư thường nói, dân tộc ta vốn dĩ hiền hòa, ưa chuộng hòa bình nhưng lại phải trải qua nhiều vất vả, đau khổ do chiến tranh nên âm nhạc dù có điệu vui nhưng nó cũng không vui quá, không sôi nổi quá, mà điệu buồn thì rất sâu sắc, lắng đọng. Nó là “tiếng đời”!

Bản thân Nhạc sư từ bỏ cuộc sống phong lưu để lên Sài Gòn sinh sống từ sớm nên khá gian nan; ông phải làm đủ thứ nghề để mưu sinh và nuôi gia đình như là làm thông ngôn (vì ông biết tới 5 ngoại ngữ, đặc biệt là rất giỏi tiếng Pháp, tiếng Anh), thư ký, lái xe, quản lý khách sạn, dạy nhạc, đóng đàn v.v. Vì có trải nghiệm phong phú như vậy nên Nhạc sư đã truyền tải được các cung bậc cảm xúc từ trải nghiệm cá nhân phong phú qua tiếng đàn. Ông tâm sự: “Khi tôi đàn, những hình ảnh như rặng dừa, cánh đồng bát ngát, chiếc xe thổ mộ lộc cộc trên đường, lu nước mưa đầu hè dưới ánh trăng – tất cả hiện ra rõ mồn một trong đầu tôi như một cuộn phim. Phải chăng, tình yêu nước, yêu văn hóa dân tộc và “thương đời” khiến ông có quyết định táo bạo là ở lại quê hương sau năm 1975 để phụng sự cho âm nhạc dân tộc. Cũng nên nhắc lại, ông từng có mối thâm tình với một số quan chức cấp cao của chính quyền cũ do họ mến mộ tài năng của ông. Ngoài ra, 3 năm liền giai đoạn 1970 - 1972, ông là Giáo sư thỉnh giảng ở Đại học Illinois, Mỹ, nên bên Mỹ từng có thư mời ông sang đó để sinh sống. Ông khéo léo từ chối vì ông biết rằng, “tạng” ông không thể tách rời với quê hương xứ sở, với cộng đồng của mình được.

Ông miệt mài sáng tác, nghiên cứu âm nhạc dân tộc. Ảnh: Hoàng Triều.jpg
 Ông miệt mài sáng tác, nghiên cứu âm nhạc dân tộc. Ảnh: Hoàng Triều

"Chỗ nương tựa cho hậu thế"

Không ít lần, Nhạc sư Vĩnh Bảo tâm sự rằng, ông may mắn được thừa hưởng một gia tài văn hóa quý báu từ tiền nhân nên ông phải có trách nhiệm truyền lại cho đời sau, làm chỗ dựa cho hậu thế. Chính vì vậy nên ông ham thích việc dạy học. Nhạc sư từng làm Giáo sư, Trưởng ban Cổ nhạc Miền Nam tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn từ khi buổi sơ khai. Ông giảng dạy ở đó từ năm 1955 đến năm 1964 thì xin  thôi nhưng nghiệp dạy nhạc dạy đàn theo ông tới tận cuối đời. Ông dạy con cháu và dạy cho người ngoài, kể cả học trò ngoại quốc từ Mỹ, Pháp, Thụy Sĩ, Nhật v.v. Người ta đến tận nhà ông để học hoặc ông dạy online! Là người biết ngoại ngữ nên Nhạc sư nắm bắt được xu hướng hiện đại của thế giới khá nhanh. Khi chưa có internet ở Việt Nam, Nhạc sư đã dùng phương thức ghi âm bài đàn trên băng cát-xét hay đĩa từ để gửi cho học trò ở xa. Ở tuổi ngoài 80, ông đã mạnh dạn mua một chiếc máy tính bàn và mời một thầy giáo trẻ bằng tuổi cháu mình đến dạy, khiến buổi đầu tiên khi diện kiến, thầy vi tính ngỡ... mình nhầm nhà! Nhờ giỏi ngoại ngữ nên Nhạc sư nắm bắt những thao tác xử lý văn bản hay âm thanh hình ảnh rất nhanh qua vài buổi học. Từ đó, ông làm bạn với chiếc vi tính để viết thư, viết tài liệu, soạn bài nhạc, thu hình, thu âm và dạy trực tuyến học trò. Có khi chênh lệch múi giờ từ hai đầu trực tuyến, Nhạc sư vẫn không quản ngại thức đêm thức hôm để dạy nhạc. Trời Sài Gòn nóng bức, nhà lại không dùng điều hòa nhưng ông vẫn đánh trần ra để tỉ mẩn hướng dẫn học viên từng thế tay, từng cái luyến láy, nhấn vuốt tinh tế trên dây đàn. Một vài nghiên cứu sinh âm nhạc cổ truyền Việt từ nước ngoài cũng cất công tìm đến ông để thụ giáo và họ đều thán phục trí tuệ mẫn tiệp, uyên bác của Nhạc sư, nhất là vốn kiến thức về cổ nhạc.

Lối truyền dạy âm nhạc trong dân gian nặng về “cầm tay truyền ngón” và học kiểu bắt chước, thầy làm thế nào thì trò cứ thế mà làm theo. Lòng bản “hò xừ xang” chỉ như một ghi chép sơ đẳng, cốt lõi để trò không quên giai điệu. Do vậy, nó không ghi lại chính xác những chỗ cần “nhấn già hay nhấn non”, những chỗ luyến láy, rung nhấn rất vi tế - một việc mà ngay cả hệ thống “đồ rê mi”cũng khó truyền tải nổi. Trăn trở với điều đó nên Nhạc sư đã sáng tạo ra cách ký âm riêng của mình dành cho nhạc Tài tử như một thử nghiệm phần nào giúp hóa giải những trắc trở mà nghề dạy hay học nhạc cổ truyền vấp phải. Thử nghiệm đó được trình bày trong cuốn giáo trình “Thử tự học Đàn tranh” của ông do Sở Văn hóa tỉnh Long An xuất bản những năm trước đây, nay đã thành của hiếm. Tuy nhiên, ông vẫn nhắc nhở học trò là nên biết cách hát hay xướng âm một bản nhạc truyền thống để cảm nhận được cái “thần” của nó.

Nhạc sư Vĩnh Bảo và GS Trần Văn Khê.  Ảnh: Gia Tiến.jpg
Nhạc sư Vĩnh Bảo và GS Trần Văn Khê. Ảnh: Gia Tiến

Bắt thớ gỗ "thở ra" âm thanh

Nhạc sư Vĩnh Bảo sớm táo bạo tìm tòi, cải tiến nhạc cụ truyền thống của ta từ những năm 50-60 của thế kỷ trước cho phù hợp với thẩm mỹ người hiện đại. Lĩnh vực ông đi tiên phong là cải tiến cây đàn tranh vốn lần đầu được nhắc tới ở Việt Nam trong một tài liệu có niên đại từ thế kỷ XIII. Nhạc sư đã  mở rộng kích thước đàn tranh truyền thống, tăng số dây đàn từ 16 lên 17, hay 19, hay 21 để thuận tiện khi đàn cổ nhạc Việt Nam hay cả bài bản hiện đại. Bên cạnh đó, Nhạc sư còn thử nghiệm cả hình dáng hộp đàn, con nhạn, chỗ mắc dây đàn, trục đàn và bản thân dây đàn để tìm ra các tỷ lệ tối ưu.

Mạnh bạo hơn nữa, ông còn thử nghiệm các loại gỗ đóng đàn khác -  ngoài loại gỗ ngô đồng truyền thống – như gỗ thông, gỗ tomentosa hay gỗ thích (đàn kìm) để tìm ra các âm sắc khác nhau. Khi sang Nhật nói chuyện về âm nhạc, Nhạc sư đã thấy người Nhật kỳ công thế nào để chọn gỗ Kiri (Ngô đồng) dùng đóng đàn Kô-tô là loại đàn tranh truyền thống của Nhật Bản. Gỗ Kiri được định tuổi, hong khô trong tự nhiên một thời gian vài ba năm rồi mới đem đóng đàn, nên ông rất thích đóng đàn bằng loại gỗ này.

Nhưng ngoài chất liệu gỗ, bí quyết lớn nhất để cây đàn tranh có âm thanh hay lại nằm ở khâu xử lý miếng gỗ, sự bố trí, phối hợp các bộ phận trên cây đàn, nhất là hộp âm và khe “thở” của đàn.

Ngôi nhà nhỏ bé của Nhạc sư Vĩnh Bảo sống khá lâu ở Sài Gòn trước khi về lại Đồng Tháp có tầng trệt là một “xưởng đàn” nhỏ do con trai ông trực tiếp làm việc. Nhạc sư giờ tuổi cao nên ông nắm vai trò “kỹ sư chỉ đạo”. Cầm mảnh gỗ lên, Nhạc sư sẽ gõ gõ vào để quyết định độ dày mỏng cũng như chiều thớ gỗ hay vân gỗ do nó nằm ở các vị trí khác nhau trên thân cây nên ảnh hưởng không nhỏ đến âm sắc của cây đàn. Đến khi đàn được lắp ráp “nháp” thì Nhạc sư lên dây, xếp nhạn và khảy ra âm thanh. Sau đó, ông dùng giấy nhám để mài trong lòng đàn những chỗ cần thiết, hoặc thêm bớt, dịch chuyển số “đợt” (giá) đỡ mặt đàn để âm thanh do cây đàn phát ra tạo thành một tổng thể hài hòa.

Kinh nghiệm hơn 60 năm đóng đàn, làm đàn khiến cho những cây đàn tranh, hay kìm thương hiệu Vĩnh Bảo có một vị trí đặc biệt trong lòng giới hâm mộ nhạc cổ truyền. Mỗi một cây đàn là một sản phẩm sáng tạo riêng của Nhạc sư; ông đã khiến thớ gỗ vô tri vô giác trở nên sống động, có hồn, có vẻ đẹp sang trọng và thu hút đôi tai khách mộ điệu.

Nhạc sư Vĩnh Bảo đã được Tổng thống Cộng hòa Pháp trao cho Huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng Officier, được vinh danh là “Quốc gia chi bảo” tại một hội nghị Âm nhạc-dân tộc học ở Mỹ, được trao Giải thưởng Đào Tấn và giải thưởng Phan Chu Trinh cũng như nhận được bằng khen của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam. Nhưng trên tất cả, ông được nhìn nhận là một trong những “cây đại thụ” sống mãi trong ký ức học trò hay nhạc sĩ, nghệ sĩ nhạc cổ truyền Việt Nam.

TS Trần Đoàn Lâm  tác giả bài viết thăm Nhạc sư Vĩnh Bảo tại Đồng Tháp, 6/2020. Ảnh: NĐB.jpg
TS Trần Đoàn Lâm tác giả bài viết thăm Nhạc sư Vĩnh Bảo tại Đồng Tháp, 6/2020. - Ảnh: NĐB

TRẦN ĐOÀN LÂM

Nguồn: Tạp chí VHNT số 644, tháng 5-2026