
Từ truyền thống 80 năm dưới ngọn cờ của Ðảng...
Niềm tự hào lớn nhất của ngành TDTT Việt Nam chính là được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại khai sinh và trực tiếp rèn luyện. Trong 3 tháng đầu năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký 2 bản Sắc lệnh số 14 và 38 về việc thành lập các cơ quan quản lý Nhà nước ở cấp Trung ương trong lĩnh vực TDTT. Trong đó, 2 sự kiện cùng trong ngày 27/3/1946: Nha Thanh niên và Thể dục trong Bộ Quốc gia Giáo dục được thành lập theo Sắc lệnh số 38 và bài báo Sức khỏe và Thể dục (hay Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục) của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng tải trên Báo Cứu Quốc là cơ sở để Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra quyết định lấy ngày 27/3 hằng năm làm “Ngày Thể thao Việt Nam” (hay Ngày truyền thống ngành TDTT).
Trong những năm kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục có sự chỉ đạo sâu sát để duy trì phong trào TDTT trong cán bộ chiến sĩ và nhân dân ở chiến khu. Các lớp “thể dục – quân sự” được mở tại chiến khu Việt Bắc. Trong đó, lớp thể dục quân sự phổ thông cung cấp hơn 2400 cán bộ sơ cấp để tổ chức phong trào “Khỏe vì nước”…
Kháng chiến chống Pháp kết thúc, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta, ngành TDTT cũng nhanh chóng được tái thiết với sự ra đời của Ban TDTT Trung ương (1956), sau đó là Ủy ban TDTT (1960), đứng đầu đều là các cán bộ cấp cao như đồng chí Hoàng Anh (Chủ nhiệm Ban TDTT Trung ương, sau này là Phó Thủ tướng Chính phủ) hay Trung tướng Hoàng Văn Thái (Chủ nhiệm đầu tiên của Ủy ban TDTT, sau là Ðại tướng – Thứ trưởng Bộ Quốc phòng)…
Ngày 14/12/1961, Trường Trung cấp TDTT Trung ương vinh dự được đón Bác Hồ về thăm, động viên. Từ 25/11- 6/12/1966, đoàn Thể thao VN (miền Bắc) tham gia thi đấu tại GANEFO châu Á lần thứ nhất ở Campuchia, giành 4 HCV, 10 HCB, 13 HCÐ. Sau khi đoàn trở về, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Ðồng đã dành thời gian tiếp, biểu dương tại Phủ Chủ tịch. Tất cả đều cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Người dành cho công tác TDTT.

Sau khi đất nước thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, TDTT tiếp tục là lĩnh vực được Ðảng ta quan tâm đặc biệt. Ngày 23/10/2002, Ban chấp hành Trung ương Ðảng ra Chỉ thị số 17-CT/TW “Về phát triển TDTT đến năm 2010”, trong đó chỉ rõ nhiều yếu kém còn tồn tại và nguyên nhân cụ thể, qua đó xác định một loạt nhiệm vụ quan trọng và toàn diện. Ðặc biệt, Trung ương Ðảng nhấn mạnh các quan điểm mới về xã hội hóa TDTT: “Ðổi mới cơ bản các hình thức và biện pháp quản lý nhà nước về TDTT; chuyển giao phần lớn việc điều hành các hoạt động thể thao cho các tổ chức xã hội về TDTT. Tạo cơ sở phát triển kinh tế thể thao”.
Nghị quyết số 08-NQ/TW (2011) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về TDTT đến năm 2020” nêu rõ quan điểm mang tính định hướng: “Ðầu tư cho TDTT là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước. Tăng tỷ lệ chi ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở vật chất TDTT và đào tạo vận động viên thể thao thành tích cao; đồng thời phát huy các nguồn lực của xã hội để phát triển thể dục, thể thao, phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức xã hội trong quản lý, điều hành các hoạt động TDTT”.
Kết luận 70 của Bộ Chính trị (31/1/2024) về Phát triển TDTT trong giai đoạn mới với những nội dung rất đáng chú ý: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao trong giai đoạn mới; Ðẩy mạnh sắp xếp, chuyển đổi các đơn vị sự nghiệp công lập TDTT theo hướng tự chủ, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ gắn với chuẩn mực quốc tế. Khuyến khích phát triển TDTT quần chúng, tạo cơ hội cho mọi người được quyền tham gia hoạt động tập luyện, biểu diễn, thi đấu để nâng cao sức khoẻ, phòng bệnh, chữa bệnh, vui chơi, giải trí… Tập trung phát triển thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao, hoàn thiện hệ thống phát hiện, đào tạo VÐV, thi đấu thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao trình độ quốc gia, quốc tế, nhất là các môn thể thao Olympic trọng điểm. Tăng cường các nguồn lực cho sự nghiệp TDTT. Rà soát, hoàn thiện quy hoạch, phát triển mạng lưới thiết chế, cơ sở thể thao đồng bộ, từng bước hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế”…
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng và Nhà nước, thể thao Việt Nam đã từng bước hội nhập với các đấu trường quốc tế, xác lập vị thế trong tốp 3 của khu vực Ðông Nam Á từ SEA Games 22 năm 2003 – kỳ Ðại hội thể thao Ðông Nam Á đầu tiên do Việt Nam đăng cai – tới nay (trong đó có 3 lần đứng đầu bảng xếp hạng huy chương); một số môn thể thao đã vươn lên trình độ châu lục và thế giới. Chúng ta cũng đã đăng cai tổ chức nhiều Ðại hội thể thao quốc tế như 2 kỳ SEA Games (2003 và 2022), Ðại hội thể thao trong nhà châu Á (Asian Indoor Games) năm 2009, Ðại hội thể thao bãi biển châu Á (Asian Beach Games) năm 2016…
...Tới 8 nhiệm vụ trọng tâm được Tổng Bí thư giao phó
Dự lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành TDTT hôm 28/3 tại Nhà hát Hồ Gươm, đồng chí Tô Lâm – Tổng Bí thư BCH Trung ương Ðảng đã có bài phát biểu chỉ đạo sâu sắc. Ðặc biệt, Tổng Bí thư cũng nêu rõ 8 nhiệm vụ trọng tâm mà Bộ VHTTDL, ngành TDTT cũng như các bộ, ban, ngành, các địa phương cần tập trung thực hiện:
“Thứ nhất: phải khẩn trương hoàn thiện thể chế phát triển thể dục thể thao theo hướng hiện đại, đồng bộ, mở đường cho phát triển lâu dài.
Thể dục thể thao muốn phát triển mạnh thì trước hết phải có thể chế tốt. Thể chế phải đi trước, mở đường cho đổi mới, cho đầu tư, cho xã hội hóa, cho quản lý hiện đại, cho vận hành minh bạch, cho phát huy đầy đủ nguồn lực của Nhà nước, xã hội và người dân.
Thể chế mới phải “phân vai cụ thể” vai trò của Nhà nước, vai trò của xã hội. Phải chỉ rõ quản trị thế nào? Ðầu tư công vào đâu? Xã hội hóa mức độ nào? Tiêu chuẩn cơ sở vật chất, cơ chế đào tạo huấn luyện viên, vận động viên, chính sách đãi ngộ, bảo hiểm, y học thể thao, chuyển đổi nghề nghiệp sau thi đấu thế nào? Ứng dụng công nghệ, dữ liệu số, kinh tế thể thao, công nghiệp thể thao được khuyến khích ra sao... Làm được điều đó, thể thao Việt Nam mới có nền móng thể chế vững chắc để đi xa.
Thứ hai: phải phát triển mạnh mẽ thể dục thể thao đại chúng, để mọi người dân đều có quyền, có điều kiện và có động lực tham gia rèn luyện.
Ðây phải là nhiệm vụ trung tâm, nhiệm vụ bao trùm, nhiệm vụ lâu dài của ngành thể dục thể thao trong giai đoạn mới.
Phải làm sao để thể dục thể thao thật sự đi vào từng gia đình, từng khu dân cư, từng trường học, từng cơ quan, từng nhà máy, từng doanh nghiệp, từng đơn vị lực lượng vũ trang, từng con người; đi vào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo; đi vào cả những nhóm yếu thế, người khuyết tật, người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em, thanh niên công nhân, người lao động nhập cư. Mục tiêu không chỉ là tăng số người tập luyện, mà là xây dựng một xã hội vận động, một nếp sống khỏe mạnh, một văn hóa rèn luyện thân thể hằng ngày.
Tôi đề nghị phát động mạnh mẽ hơn nữa phong trào “Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên”.
Môn thể thao đó có thể rất đơn giản: đi bộ, chạy bộ, cầu lông, bóng chuyền, bơi, đạp xe, võ thuật, dưỡng sinh, yoga, cờ tướng, cờ vua, kéo co, bắn nỏ, đẩy gậy… Ðiều quan trọng là phải làm cho việc rèn luyện thân thể trở thành nhu cầu tự thân, thành thói quen, thành nếp sống, chứ không chỉ là phong trào từng đợt.
Muốn vậy, phải làm rất cụ thể: quy hoạch quỹ đất cho thể thao cộng đồng; bảo đảm mỗi khu dân cư đều có không gian vận động; xây dựng sân chơi, bãi tập, đường đi bộ, công viên thể thao; hỗ trợ thiết chế thể thao cơ sở; tận dụng trường học, nhà văn hóa, công viên, quảng trường, mặt nước công cộng cho hoạt động thể dục thể thao phù hợp.

Thứ ba: phải nâng tầm giáo dục thể chất và thể thao học đường, coi đây là gốc rễ của chiến lược phát triển con người Việt Nam.
Một dân tộc muốn khỏe phải bắt đầu từ trẻ em. Một nền thể thao mạnh phải bắt đầu từ trường học. Một xã hội năng động phải được hình thành từ thói quen vận động của mọi công dân.
Tôi đề nghị ngành Giáo dục, ngành TDTT và các địa phương phải phối hợp chặt chẽ hơn nữa để đổi mới mạnh mẽ giáo dục thể chất và thể thao trường học. Học sinh, sinh viên phải được vận động thực chất, được học những kỹ năng thể chất căn bản, được tiếp cận nhiều môn thể thao phù hợp với lứa tuổi, thể trạng, sở thích. Trường học phải là nơi phát hiện năng khiếu, bồi dưỡng thói quen vận động, hình thành tinh thần đồng đội, ý chí vượt khó, kỷ luật, sự trung thực và lòng tự tin cho thế hệ trẻ.
Tôi cũng đề nghị nghiên cứu phát triển đồng bộ hơn các môn thể thao trong trường học, từ bóng đá, điền kinh, bơi, võ, cầu lông, bóng rổ, đến các môn thể thao trí tuệ như cờ vua, cờ tướng, vận động tư duy chiến thuật để thế hệ em Việt Nam cao hơn, khỏe hơn, bền hơn, nhanh hơn, linh hoạt hơn, thông minh hơn, tự chủ hơn.
Thứ tư: phải đặc biệt quan tâm bảo tồn, phát triển thể thao truyền thống dân tộc và các hình thức vận động gắn với văn hóa cộng đồng.
Việt Nam có kho tàng phong phú các môn thể thao, trò chơi dân gian, võ thuật truyền thống, hình thức vận động cộng đồng gắn với lễ hội, phong tục, đời sống lao động và bản sắc vùng miền. Ðây là tài sản quý của dân tộc, phải được gìn giữ, làm sống lại và phát huy trong đời sống hiện đại.
Kéo co, đẩy gậy, bắn nỏ, vật dân tộc, đua ghe, đua thuyền, cờ người, võ cổ truyền, các trò chơi dân gian trong lễ hội… là thể thao, là văn hóa, là ký ức, là mạch nối giữa các thế hệ, là nơi nuôi dưỡng tinh thần thượng võ, đoàn kết, yêu quê hương, tự hào dân tộc.
Tôi đề nghị ngành TDTT phối hợp với ngành văn hóa, giáo dục, các địa phương, các hội nghề nghiệp để xây dựng chương trình bảo tồn và phát triển thể thao truyền thống dân tộc một cách có hệ thống; đưa những môn phù hợp vào trường học, lễ hội, phong trào cộng đồng và cả quảng bá du lịch văn hóa.
Thứ năm: phải phát triển thể thao thành tích cao theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, trung thực và bền vững.
Thể thao thành tích cao là bộ mặt của thể thao quốc gia trên đấu trường khu vực và thế giới. Do vậy chúng ta cần xây dựng lộ trình đầu tư trọng điểm cho những môn có khả năng cạnh tranh cao; chuẩn hóa hệ thống phát hiện tài năng; đổi mới cơ chế quản lý đội tuyển; tăng cường liên kết giữa thể thao học đường, thể thao phong trào và thể thao đỉnh cao; bảo đảm đời sống, học văn hóa, học nghề, an sinh, chuyển đổi sau giải nghệ cho vận động viên.

Thứ sáu: phải mở rộng khái niệm thể thao theo hướng toàn diện hơn, bao gồm cả vận động thể chất và vận động trí óc.
Trong xã hội hiện đại, thể thao là sự rèn luyện trí tuệ, phản xạ, chiến thuật, tư duy logic, khả năng tập trung, khả năng kiểm soát cảm xúc và năng lực bền bỉ tinh thần. Các môn như cờ vua, cờ tướng, một số loại hình thể thao trí tuệ, thể thao điện tử được quản lý lành mạnh, các hoạt động kết hợp vận động-tư duy… đều cần được nghiên cứu, định hướng, quản lý và phát triển phù hợp. Nói cách khác, xây dựng con người khỏe mạnh hôm nay phải là xây dựng thân thể khỏe, tinh thần khỏe, trí tuệ khỏe và lối sống khỏe. Ðó mới là phát triển toàn diện.
Thứ bảy: phải đẩy mạnh xã hội hóa có định hướng, có chuẩn mực trách nhiệm đối với thể dục thể thao.
Phát triển TDTT không thể phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Cần đẩy mạnh xã hội hóa có phân công, có quản rõ ràng. Nhà nước phải giữ vai trò định hướng, dẫn dắt, bảo đảm công bằng, đặc biệt trong phát triển thể thao cơ sở, thể thao trường học, thể thao cho trẻ em, người cao tuổi, người yếu thế, vùng khó khăn.
Cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở thể thao, công nghiệp thể thao, dịch vụ thể thao, tài trợ thể thao, khoa học thể thao, tổ chức sự kiện thể thao, kinh tế thể thao; đồng thời phải xây dựng môi trường minh bạch, ổn định, thuận lợi để các nguồn lực hợp pháp cùng tham gia.
Thứ tám: phải mở rộng hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế thể thao Việt Nam và học hỏi những kinh nghiệm tiến bộ của thế giới.
Hợp tác quốc tế về thể thao không chỉ để thi đấu, mà còn để học quản trị, học khoa học huấn luyện, học y học thể thao, học tổ chức sự kiện, học kinh tế thể thao, học cách xây dựng thương hiệu quốc gia qua thể thao.
Việt Nam cần chủ động hơn trong đăng cai các giải đấu khu vực, châu lục và quốc tế phù hợp; đồng thời chuẩn bị từng bước, có lộ trình, có điều kiện, có tính toán hiệu quả tổng thể khi hướng tới những sự kiện thể thao lớn hơn trong tương lai”.
Những chỉ đạo sâu sắc, quan trọng của Tổng Bí thư là kim chỉ nam cho ngành TDTT Việt Nam phấn đấu, nhằm xây dựng một nền Thể thao Việt Nam bền vững, chuyên nghiệp, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của đất nước.
PHAN AN
Nguồn: Đặc san Thể thao & Đời sống số 1, tháng 5-2026