Trung gian hóa cảm nhận thiêng

Trong trường hợp các đình làng tại TP.HCM, cấu hình cảm nghiệm tính thiêng trên không gian số có thể được nhận diện rõ nét qua sự chuyển dịch của các yếu tố nghi lễ truyền thống vào môi trường số. Chẳng hạn, tại đình Minh Hương Gia Thạnh (nay là phường Chợ Lớn), một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia (xếp hạng theo Quyết định số 43/VH-QĐ ngày 7/1/1993 của Bộ Văn hóa - Thông tin), các video ghi lại lễ Kỳ yên thường tập trung vào các phân đoạn mang tính cao trào nghi lễ như chánh tế, dâng hương và đọc văn tế. Việc lựa chọn góc quay cận cảnh bàn thờ, sắc phong và các động tác nghi lễ không chỉ nhằm mục đích ghi hình, mà còn tái tổ chức trật tự cảm giác của người xem theo hướng “hướng tâm thiêng” (sacred focalization). Điều này tương ứng với luận điểm của Morgan rằng, trải nghiệm thiêng được cấu thành qua các cấu hình thị giác - vật chất, trong đó hình ảnh trở thành phương tiện kích hoạt cảm thức tôn giáo.

Tương tự, tại đình Phú Nhuận (nay là phường Phú Nhuận), một cơ sở tín ngưỡng dân gian tiêu biểu của cư dân Nam Bộ được đề cập trong Tín ngưỡng dân gian Nam Bộ: truyền thống và biến đổi, các nội dung số hóa nghi lễ cho thấy sự gia tăng vai trò của âm thanh - đặc biệt là nhạc lễ Nam Bộ (đờn, trống, kèn) - như một yếu tố kiến tạo cảm nghiệm thiêng (Huỳnh Ngọc Thu, 2017, tr.112-114). Trong các video được chia sẻ trên nền tảng số, âm thanh thường được khuếch đại và tách nền, qua đó tạo ra một “không gian thính giác thiêng” (sacred soundscape) độc lập với không gian vật lý. Theo tác giả, âm nhạc nghi lễ là thành tố cốt lõi trong việc thiết lập không khí linh thiêng; trong môi trường số, vai trò này được tái tăng cường thông qua các kỹ thuật xử lý âm thanh. Hoặc các truyền thuyết về thần tích, sự linh thiêng của Thành hoàng được nhiều người xem quan tâm, chẳng hạn clip trên nền tảng YouTube nói về nội dung “thề là bị vặt cổ” ở đình Phong Phú (nay là phường Long Thạnh Mỹ) đạt 4,4 triệu lượt xem hay video giới thiệu về Hội quán Minh Hương Gia Thạnh có 1.000 lượt truy cập, lễ Kỳ Yên đình Phú Nhuận và xem hát bội đạt 2.700 lượt xem… (tính đến ngày 16/4/2026).

Trong khi đó, đình Bình Đông (nay là phường Bình Đông), được giới thiệu trong Đình làng Nam Bộ: tín ngưỡng và nghi lễ của Trần Hồng Liên (2013, tr.85-92) cung cấp một trường hợp đặc thù khi các video nghi lễ thường gắn với bối cảnh sông nước và hoạt động thương hồ. Các hình ảnh ghe thuyền, dòng kênh Tàu Hủ và không gian mở được tích hợp vào nội dung số, qua đó tạo ra một cấu hình cảm nghiệm lai ghép giữa thiêng và đời thường. Điều này cho thấy tính thiêng không bị tách biệt hoàn toàn, mà được “cài đặt” (embedded) trong các lớp cảnh quan văn hóa - sinh thái cụ thể. Tùy vào tín ngưỡng và sở thích cá nhân mà họ lựa chọn hình thức thể hiện tín ngưỡng cá nhân trên nhiều nền tảng số khác nhau. “Tôi buôn bán suốt ngày, tới ngày lễ cúng đình cũng muốn đi tới tận nơi tham dự nhưng đâu có bỏ quán xá cho ai được nên chỉ lên mạng coi người ta livestream, họ quay tới đâu thì mình biết tới đó. Vậy cũng thấy như mình được tới tận nơi” (PVS chị O, phường Bình Đông, tháng 2/2025).

Trong môi trường số, các công nghệ hình ảnh, âm thanh và giao diện vì vậy không chỉ đóng vai trò công cụ truyền dẫn, mà trở thành các “thiết bị cảm nghiệm” (apparatuses of mediation) có khả năng tái cấu hình cấu trúc tri giác của chủ thể. Điều này dẫn đến sự hình thành của một dạng “tính thiêng trung gian” (mediated sacrality), trong đó, trải nghiệm thiêng được sản sinh thông qua các lớp trung gian kỹ thuật số, mang tính lặp lại, khả biến và phụ thuộc vào kiến trúc nền tảng.

Như vậy, thay vì đối lập giữa “trực tiếp” và “gián tiếp”, cần tiếp cận tính thiêng số như một cấu hình hiện diện được trung gian hóa, nơi hiệu lực thiêng (sacred efficacy) được tái lập không chỉ qua nội dung nghi lễ, mà còn qua cách thức các yếu tố cảm giác được lựa chọn, khuếch đại và tái tổ chức trong môi trường truyền thông số.

Tính thiêng và tính đại chúng

Trong khung phân tích của Meyer (2012, tr.10-27), khái niệm “hình thức cảm giác” (sensational forms) được hiểu không đơn thuần như các phương tiện trung gian biểu đạt, mà như những cấu trúc quy phạm - thẩm mỹ - cảm giác có tính thể chế, qua đó định dạng (formatting) khả năng tri nhận, trải nghiệm và hợp thức hóa cái thiêng trong những bối cảnh văn hóa - lịch sử cụ thể. Nói cách khác, tính thiêng không tồn tại như một bản thể siêu nghiệm bất biến, mà được hiện thực hóa thông qua các chế độ cảm giác (regimes of sensation) mang tính xã hội hóa cao. Khi chuyển vị sang môi trường truyền thông đại chúng và đặc biệt là môi trường số, các hình thức này không chỉ bị “truyền tải” mà còn bị tái cấu trúc theo logic của hạ tầng kỹ thuật số, nơi kinh tế chú ý (attention economy), khả năng lan truyền thuật toán (algorithmic virality) và cơ chế truy cập mở (open accessibility) trở thành những điều kiện tiên quyết định hình kinh nghiệm thiêng.

Trần Hồng Liên (2013, tr.85-92) đã dùng cách tiếp cận này trong các công trình của mình để chỉ ra rằng ngôi đình không chỉ là không gian thờ tự mà còn là “trường cảm nghiệm văn hóa” nơi các yếu tố kiến trúc, nghi lễ và biểu tượng cùng tham gia kiến tạo cảm thức thiêng. Tương tự, Huỳnh Ngọc Trảng (2014) nhấn mạnh rằng tính thiêng trong đình làng Nam Bộ được duy trì thông qua sự lặp lại nghi lễ và các cấu trúc biểu tượng mang tính cộng đồng, qua đó hình thành một hệ thống cảm nhận mang tính quy phạm.

Các trường hợp cụ thể tại TP.HCM cho thấy rõ cách các “hình thức cảm giác” này được tái cấu trúc trong môi trường số. Tại đình Minh Hương Gia Thạnh, một trong những đình cổ tiêu biểu của cộng đồng người Hoa, các video ghi hình lễ Kỳ yên thường tập trung vào cận cảnh bàn thờ, sắc phong và nghi thức dâng hương, tạo nên một “khung thị giác thiêng” được chuẩn hóa. Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng chính sự lặp lại biểu tượng và nghi thức này là nền tảng của cảm thức thiêng; khi được số hóa, nó tiếp tục được “định dạng lại” theo logic hình ảnh hóa, các bản ghi âm và video về nhạc lễ Nam Bộ (đờn, trống, kèn) được lan truyền trên nền tảng số đã tái cấu trúc trải nghiệm thính giác của nghi lễ. Âm thanh trong nghi lễ đóng vai trò “kích hoạt không gian thiêng” (Huỳnh Ngọc Trảng, 2014; Trần Hồng Liên, 2013). Trong môi trường số, yếu tố này được tách khỏi không gian vật lý nhưng vẫn duy trì hiệu lực cảm xúc thông qua tai nghe cá nhân.

Các video quay cảnh ghe thuyền, lễ rước trên các con kênh ở TP.HCM cho thấy sự kết hợp giữa cảnh quan tự nhiên và nghi lễ. Điều này phù hợp với nhận định của Ngô Đức Thịnh (2001, tr.125), cho rằng tính thiêng luôn gắn với “môi trường văn hóa - sinh thái cụ thể”. Khi được số hóa, yếu tố không gian này bị “nén” thành hình ảnh, nhưng đồng thời lại mở rộng khả năng tiếp cận cho các cộng đồng ngoài địa phương.

Hệ quả lý thuyết quan trọng là tính thiêng không còn vận hành trong một chế độ khép kín, cục bộ và mang tính độc quyền biểu tượng, mà được tái định vị trong một không gian công cộng mở, đa trung tâm và đa chủ thể diễn giải. Trong không gian này, cái thiêng buộc phải liên tục thương lượng (negotiate) với các diễn ngôn phi thiêng, các thực hành tiêu dùng văn hóa và các chiến lược diễn giải cạnh tranh, từ đó làm nảy sinh những hình thức “thiêng trung gian hóa” (mediated sacrality) mang tính lai ghép. Tuy nhiên, thay vì xác nhận luận điểm giải thiêng theo nghĩa suy giảm, các dữ liệu từ các đình tại TP.HCM cho thấy sự hình thành một cấu trúc đa tầng (multi-layered configuration) của tính thiêng, trong đó các cấp độ nghi lễ, cảm xúc, thẩm mỹ và biểu tượng không những cùng tồn tại mà còn tương tác theo những cách phi tuyến tính.

Khi chuyển sang môi trường số, các đình làng này ngày càng xuất hiện nhiều trên các nền tảng truyền thông (video lễ hội, tham quan ảo, hình ảnh nghi lễ…), qua đó tái cấu trúc “hình thức cảm giác” theo hướng thị giác hóa và đại chúng hóa. Tuy nhiên, như các minh chứng trên cho thấy, tính thiêng không bị triệt tiêu mà được tái định vị trong mối quan hệ giữa truyền thống - cộng đồng - truyền thông, qua đó củng cố luận điểm rằng tính thiêng là một hiệu ứng quan hệ mang tính lịch sử - xã hội cụ thể.

4. Kết luận

Từ góc độ lý thuyết về trung gian hóa (mediation) và các chế độ cảm giác (regimes of sensation), có thể khẳng định rằng, tính thiêng của đình làng tại TP.HCM không suy giảm trong môi trường số, mà đang được tái cấu trúc như một quá trình động, đa tầng và mang tính quan hệ, gắn chặt với bối cảnh đô thị hóa và lịch sử di dân đặc thù của Nam Bộ. Sự chuyển dịch này không chỉ là sự “mở rộng” không gian thực hành nghi lễ, mà còn là sự tái định vị bản thể của cái thiêng trong một cấu hình truyền thông mới, nơi các chủ thể (ban quý tế, cộng đồng cư dân, khách hành hương), công nghệ (mạng xã hội, nền tảng video) và diễn ngôn (lịch sử - văn hóa - tín ngưỡng) cùng tham gia kiến tạo ý nghĩa.

Trong trường hợp cụ thể, các đình làng như đình Minh Hương Gia Thạnh, đình Phú Nhuận và đình Bình Đông nêu trên cho thấy rõ sự vận hành của quá trình này. Tại đình Minh Hương Gia Thạnh, vốn gắn với cộng đồng người Hoa và tín ngưỡng Thành hoàng mang sắc thái giao thoa văn hóa Việt - Hoa, việc số hóa hình ảnh sắc phong, hoành phi, liễn đối và không gian thờ tự trên các nền tảng trực tuyến đã góp phần tái tạo một “không gian thiêng mở rộng”, nơi yếu tố thị giác trở thành trung gian chủ đạo của trải nghiệm thiêng. Trong khi đó, tại đình Phú Nhuận, các video ghi lại lễ Kỳ yên với âm thanh nhạc lễ Nam Bộ (đờn, trống, chiêng) được lan truyền trên môi trường số đã làm nổi bật chiều kích thính giác như một kênh trung gian hóa quan trọng, qua đó duy trì và tái kích hoạt ký ức nghi lễ trong cộng đồng đô thị phân tán. Trường hợp đình Bình Đông, nằm trong không gian văn hóa sông nước, cho thấy sự kết hợp giữa hình ảnh thuyền bè, chợ nổi và nghi lễ đình làng trong các sản phẩm truyền thông số, tạo nên một dạng thức “thiêng lai ghép” giữa di sản tín ngưỡng và cảnh quan văn hóa.

Cụ thể hơn, tính thiêng trong bối cảnh số hóa tại các đình làng ở TP.HCM biểu hiện qua ba chiều kích liên kết chặt chẽ với nhau: (i) sự giãn nở không - thời gian của thực hành tín ngưỡng, cho phép các nghi lễ như Kỳ yên, Thượng điền, Hạ điền vượt ra khỏi tính cục bộ địa phương để tham gia vào không gian công cộng số mang tính xuyên địa phương; (ii) sự gia tăng tính tương tác và đồng sáng tạo, trong đó người tham dự - bao gồm cả cộng đồng cư dân gốc và thế hệ trẻ đô thị - trở thành tác nhân kiến tạo và tái diễn giải cái thiêng thông qua việc chia sẻ, bình luận và tái sản xuất nội dung; và (iii) sự đa dạng hóa các hình thức trải nghiệm, khi cảm thức thiêng được trung gian hóa qua hình ảnh, âm thanh và giao diện kỹ thuật số, tạo nên những “hình thức cảm giác” mới mang tính lai ghép giữa truyền thống và hiện đại.

Hệ quả là, trong bối cảnh TP.HCM - một đô thị có mật độ di sản đình làng cao với hơn 300 đình (Sở Văn hóa và Thể thao TP.HCM, 2025) - tính thiêng cần được hiểu như một hiệu ứng quan hệ được kiến tạo trong sự giao cắt giữa ký ức văn hóa, thực hành nghi lễ và hạ tầng công nghệ, thay vì như một thực thể bất biến gắn chặt với không gian vật lý của đình làng. Điều này đặt ra những yêu cầu lý luận và thực tiễn cấp thiết đối với chính sách bảo tồn di sản: thay vì chỉ tập trung vào bảo tồn vật thể, cần chuyển sang mô hình bảo tồn tích hợp, trong đó, chú trọng đến việc duy trì các thực hành trung gian hóa, các cộng đồng diễn giải và hệ sinh thái số như những thành tố cấu thành của di sản đương đại trong bối cảnh đô thị hóa nhanh của TP.HCM.

____________________

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. (2021). Chương trình chuyển đổi số ngành văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

2. Campbell, H. A. (2013). Digital religion: Understanding religious practice in new media worlds (Tôn giáo số: Tìm hiểu thực hành tôn giáo trong các không gian truyền thông mới). Routledge.

3. Huỳnh Ngọc Thu. (2017). Tín ngưỡng dân gian Nam Bộ: Truyền thống và biến đổi. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Huỳnh Ngọc Trảng. (2014). Văn hóa dân gian Nam Bộ: Những tiếp cận. Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ.

5. Huỳnh Ngọc Trảng. (2015). Đình làng Nam Bộ. Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ.

6. Meyer, B. (2012). Mediation and the genesis of presence (Trung giới và sự hình thành tính hiện diện). Religion and Society, 3.

7. Morgan, D. (2010). Religion and material culture (Tôn giáo và văn hóa vật thể). Routledge.

8. Ngô Đức Thịnh. (2001). Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

9. Phan An. (2015). Văn hóa dân gian Nam Bộ. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

10. Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh. (2025). Phụ lục Hội nghị Di sản Văn hóa toàn Thành triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần 1 (nhiệm kỳ 2025-2030).

11. Trần Hồng Liên (chủ biên). (2013). Đình làng Nam Bộ: Tín ngưỡng và nghi lễ. Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ.

12. Trung tâm Văn hóa - Thể thao Quận 5. (2019, 18 tháng 2). Hội quán Minh Hương Gia Thạnh. https://www.youtube.com/watch?v=_u2rGJ6CoWY

13. YTUP-TV886. (2020). Đình Phong Phú _linh thiêng thề là bị vặt cổ. https://www.youtube.com/watch? v=B_MB4TROsbI

Ngày Tòa soạn nhận bài: 28/5/2026; Ngày phản biện, đánh giá, sửa chữa: 16/6/2026; Ngày duyệt bài: 30/6/2026.

Ths LÊ THỊ HỒNG NHUNG

Nguồn: Tạp chí VHNT số 648, tháng 7/2026