
• Thưa ông, câu chuyện bắt đầu từ đâu để một nhà nghiên cứu vốn gắn bó với thư pháp và sử liệu như ông lại dành tâm huyết cho việc sưu tầm và tổ chức một triển lãm về sơn mài mỹ nghệ?
Tôi thích những vật phẩm sơn mài từ thời thanh niên, từng theo làm thợ vẽ đồ sơn mài vào những năm 1987 đến 1990, khi nghề này sắp không còn thịnh đạt nữa. Sau này dù làm công việc khác, tôi vẫn luôn nhớ về những năm tháng ấy. Tôi lại thích nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật, nên mới lấy việc tìm hiểu nghề sơn mài truyền thống để giải tỏa những điều tò mò mà thời trẻ chưa hiểu được.
• Triển lãm mang tên “Chu Tất Bình Dân”- một cái tên vừa cổ kính vừa giản dị. Ông có thể chia sẻ ý nghĩa và thông điệp sâu xa mà ông muốn gửi gắm qua cách đặt tên đầy dụng công này không?
Chữ “Chu” (màu đỏ son), chữ “Tất” (cây sơn) – “Chu Tất” có thể hiểu là màu đỏ và màu đen tiêu biểu và đặc trưng của sơn mài. Chữ “Chu Tất” cũng lần đầu xuất hiện trong Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Trần, để chỉ chi tiết dùng sơn son cho kiệu dành cho hoàng thất. Tôi muốn tái định nghĩa nó qua triển lãm này nên dùng. Ở tầng nghĩa khác, theo lối chơi chữ thì từ đồng âm “chu tất” trong tiếng Việt chỉ sự toàn vẹn, hoàn hảo - như những người thợ trong quá khứ đã làm rất tốt phần việc của mình và để lại những vật phẩm tuyệt đẹp mà chúng ta thưởng ngoạn hôm nay. Còn “Bình Dân” là gợi ý nhắc nhớ mọi người nhớ đến những người thợ thầm lặng phía sau, là tầng lớp “thầy thợ bình dân” trong làng nghề.

• Ông có thể giới thiệu khái quát về “linh hồn” của bộ sưu tập lần này? Đâu là những hiện vật tiêu biểu nhất, và câu chuyện đằng sau quá trình sưu tầm chúng có gì đáng nhớ?
Mỗi bức tranh, mỗi món đồ đều có vẻ đẹp và nét hay riêng, nhưng mang tiếng “đồ mỹ nghệ” nên thật khó nêu ra món nào hơn kém. Đối với bộ sưu tập này, phải nhìn nó như một tổng thể mới thấy được những biến hóa sống động của một dòng chảy thấm đẫm công phu và ý tứ của sơn mài mỹ nghệ Thủ Dầu Một - Sài Gòn giai đoạn 1950–1990. Nơi đây quy tụ dấu ấn sáng tạo của hơn 140 tên hiệu nghệ nhân và hãng xưởng lừng danh một thời, như vùng Thủ Dầu Một có Thành Lễ, Trần Hà, Trương Văn Thanh, Văn Thoát, Phát Anh, Cảnh An, Lê Thành, Thành Lập, Năm Biểu, Ngọc Lợi, Sáu Lực Sĩ; còn địa bàn Sài Gòn có Mê Linh, Hùng Anh, Thanh Quang, Lam Sơn, Trường Mỹ, Sông Đồng, Thiện Mỹ.
Kỷ niệm trong chục năm qua thì nhiều lắm. Gần đây nhất là khi gửi thiệp mời triển lãm, anh bạn họa sĩ ở Thủ Dầu Một nhận ra bộ bình phong in trên thiệp mời là do ba của anh làm năm xưa. Do trên bình phong ấy nghệ nhân Sáu Lực Sĩ không ký tên, nên tôi đã ghi “khuyết danh”. Khi nhìn ra đồ của ba mình làm, họa sĩ QS nhớ lại tuổi thơ theo mẹ chở hàng vào Sài Gòn bỏ mối, và hôm nay những món đồ ấy hiện diện trước công chúng như một dấu vết lịch sử ngành nghề, với tên tuổi nghệ nhân rõ ràng - quả là tôi và anh đều vui khó tả.
• Trong diễn từ nhận Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh (2015), ông có nhắc đến “ba trụ cột” trong nghiên cứu: Tinh thần khoa học, Năng lực học thuật và Nguồn tư liệu chuẩn xác. Vậy tinh thần khoa học đã được ông áp dụng cụ thể thế nào trong quá trình nghiên cứu về mảng mỹ nghệ sơn mài vốn còn ít tài liệu hệ thống?
Nhiều người chắc đã biết tranh sơn mài hiện nay bị làm giả khá nhiều: hoặc vẽ mới theo lối giả cổ rồi ký tên tác giả nổi tiếng, hoặc lấy hẳn tranh xưa khuyết danh ghi tên tác giả nổi tiếng, hoặc lấy tranh cũ của tác giả ít ai biết để bôi sửa ra tên tác giả nổi tiếng. Tình trạng này không riêng tranh của họa sĩ nổi tiếng mà tranh mỹ nghệ xưa có giá trị cao cũng bị rất nhiều. Sự khách quan và khoa học trong nghiên cứu sử đã giúp tôi làm việc thẩm định thật–giả khá được. Việc đặt tác phẩm vào đúng niên đại, xác định đúng tên người thực hiện rất quan trọng trong việc khảo cứu lịch sử ngành nghề.

• Là một nhà nghiên cứu độc lập, ông thấy đâu là những thuận lợi và khó khăn lớn nhất trên con đường của mình?
Giai đoạn đầu của dự án này quả thật có hơi khó khăn, phải có kinh phí khá lớn mới thu thập được nhiều vật phẩm để nghiên cứu sâu sát, phân tích chất liệu cặn kẽ, vượt quá dự tính ban đầu. Rất may mắn là về sau có ông chủ Công ty sách Huyền Đức đồng cảm và đồng hành, nên việc sưu tập hiện vật phục vụ nghiên cứu đã tiến triển khá thuận lợi. Bộ sưu tập trưng bày hôm nay tuy nhỏ nhưng đã gói gém được ý đồ và tiêu chí đề ra ban đầu, tức là sưu tập để phục vụ nghiên cứu.
• Từ góc nhìn của một nhà sưu tập và nghiên cứu, ông đánh giá như thế nào về vị thế và giá trị của sơn mài mỹ nghệ Nam bộ trong dòng chảy mỹ thuật và văn hóa Việt Nam, so với các loại hình nghệ thuật khác?
Một nền mỹ thuật dân tộc căn cơ phải có sự song hành của mỹ thuật tinh hoa và mỹ nghệ bình dân. Tôi nhắc để anh nhớ là họa sĩ lão luyện nghề sơn mài Hoàng Tích Chù từng được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện Mỹ nghệ - điều này cho thấy tầm nhìn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc thời điểm đó. Trên bình diện rộng, chính mỹ nghệ bình dân mới nói lên trình độ văn hóa nói chung hay trình độ mỹ học của dân tộc. Nhìn sang Nhật Bản sẽ thấy người dân xứ hoa anh đào không chỉ trang trí nhà cửa với gu thật trang nhã mà họ sử dụng món đồ dùng nào cũng ra nét và đậm nét mỹ thuật dân gian truyền thống- đó là do từ quý phái đến bình dân đều rất coi trọng nghề thủ công. Vì vậy, trong nghề sơn mài, tôi coi trọng vai trò đặc biệt quan trọng của những người thợ sơn, thợ thếp vàng, thợ cẩn ốc, thợ cẩn trứng - họ đã góp phần lớn công sức và tài hoa không chỉ giúp nhiều họa sĩ làm tốt tác phẩm mà còn riêng tạo thành một dòng sản phẩm mỹ nghệ thật ấn tượng. Cuộc triển lãm này cũng nhằm chia sẻ các tư liệu nghiên cứu ngành nghề truyền thống để người quan tâm có cái nhìn tổng quan về sự đa dạng sản phẩm và vẻ thâm trầm đặc sắc của những vật phẩm đã trải qua thời gian. Qua so sánh có thể thấy dòng sơn mài Nam Bộ có sự đa dạng mẫu mã và chủng loại hơn miền Bắc - vốn là cái nôi của nghề sơn truyền thống - nhưng điều này có thể vì hoàn cảnh lịch sử ở giai đoạn ấy mà thôi.
• Với một người luôn “khơi lại nguồn xưa”, những “mảnh sử rời” cần được kết nối. Ông có thể chia sẻ về các dự án hoặc hướng nghiên cứu tiếp theo của mình, có liên quan đến triển lãm này hay không?
Tôi cũng hy vọng qua triển lãm sẽ gặp gỡ được những hậu duệ của các nghệ nhân xưa để tìm hiểu bổ sung thêm thông tin, và mặt khác những người am hiểu cũng có thể góp được nhiều ý hay. Ngoài những hiện vật này, cuốn Vựng tập sẽ như chỗ lưu giữ tinh thần của nó, về lâu dài có thể góp được phần nhỏ trong việc phục dựng lịch sử làng nghề. Việc còn khá dài, nên chưa nghĩ đến dự án cho các ngành nghề khác.
• Trải qua hơn 20 năm nghiên cứu, từ một họa sĩ trẻ làm thuê ở Chợ Lớn đến một học giả độc lập được vinh danh, có bao giờ ông cảm thấy mệt mỏi hay muốn từ bỏ? Điều gì đã giúp ông giữ vững ngọn lửa đam mê và sự kiên định đến tận bây giờ?
Nghiên cứu đối với tôi là một thú vui, mọt niềm đam mê suốt cuộc đời. Dù ở lĩnh vực nào - văn hóa người Hoa, lịch sử Biển Đông, hội họa Trung Hoa, hay sơn mài, đông dược chẳng hạn - biết thêm điều mới mẻ hay biết rõ điều khuất lấp thì càng thấy cuộc đời thêm hữu ích và thú vị.
• Chân thành cảm ơn ông về những chia sẻ thú vị!

LÊ HUY HÒA thực hiện
Nguồn: Tạp chí VHNT số 650, tháng 7-2026