
Trong cấu trúc hình thái kinh tế - xã hội của Việt Nam truyền thống, ngôi đình không chỉ là công trình kiến trúc vật chất, mà là “trái tim” của cộng đồng làng xã, nơi lưu giữ giá trị thẩm mỹ dân tộc độc đáo, nơi gắn kết cộng đồng - niềm tự hào của mỗi người dân. Tuy nhiên, dưới tác động của đô thị hóa, sự biến đổi của đời sống xã hội, hiện nay, hệ thống di sản đình làng đối mặt với nhiều thách thức. Qua những diễn biến của di sản đình làng giai đoạn 2010 - 2020, sự bùng nổ nguồn lực đầu tư cùng tư duy quản lý chưa được chặt chẽ ở không ít địa phương đã xuất hiện những nghịch lý đáng suy ngẫm: những ngôi đình mang dấu ấn đỉnh cao của kiến trúc và điêu khắc đình làng như đình Đình Chu hay đình Cổ Chế xuống cấp phải mỏi mòn chờ kinh phí tu bổ, trong khi nhà văn hóa cạnh đó được xây mới khang trang. Mặt khác, sự thiếu kiểm soát nguồn lực dồi dào lại gây ra thảm họa trùng tu, biến dạng mảng chạm khắc tại đình Quang Húc, bê tông hóa đình Lương Xá, đình Trung Trữ. Hay kiến trúc đình cổ bị sơn mới tại đình Trùng Hạ, đình Văn Xá. Những “vết sẹo” này đe dọa biến di tích thành phế tích, cách sử dụng và quản lý có nguy cơ biến đình làng thành đền, làm đứt gãy văn hóa lịch sử. Để hóa giải những vấn đề quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản nói chung, trong đó có đình làng, Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) 2024, Nghị quyết số 80-NQ/TW (2026) và Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa (2025-2035) đã ra đời. Vấn đề cốt lõi hiện nay là đưa thể chế vào thực tiễn sao cho hiệu quả, định vị lại công năng để đình làng không rơi vào cảnh “cửa đóng then cài”, “còn đình nhưng mất hồn”, mà thực sự trở thành nguồn lực nội sinh của kỷ nguyên mới.
Giải pháp quản lý gắn liền với chuẩn hóa năng lực chuyên môn
Hệ lụy từ những vụ việc hạ giải đình cổ, hay tự ý sơn mới lên kết cấu gỗ phần lớn bắt nguồn từ sự tùy tiện của cấp cơ sở và sự chậm trễ trong thủ tục hành chính của cấp trên. Bàn về nguyên tắc cốt lõi trong công tác bảo tồn, PGS, TS Bùi Xuân Đính là chuyên gia nghiên cứu về làng xã VN, với kinh nghiệm thực tế của mình ông nhấn mạnh: “đình làng, cũng như các thiết chế tín ngưỡng truyền thống khác như chùa, đền, miếu, văn chỉ..., dù đã hay chưa được xếp hạng di tích, đều là tài sản văn hóa chung của cộng đồng và thuộc sự quản lý của Nhà nước. Vì vậy, mọi hoạt động trung tu, tôn tạo cần được thực hiện trên nguyên tắc công khai, dân chủ... có sự tham gia tư vấn của các nhà khoa học, chuyên gia chuyên môn”, trước đây nguyên tắc này thường bị bỏ qua ở nhiều nơi.
Nhằm giải quyết điểm nghẽn về sự chậm trễ trong tiến hành cứu di tích bị xuống cấp, Luật Di sản văn hóa 2024 đã phân cấp mạnh mẽ, ủy quyền cho lãnh đạo địa phương chủ động xử lý khẩn cấp các nguy cơ xâm hại di sản. Tuy nhiên, sự phân quyền này được kiểm soát bởi các rào cản kỹ thuật nghiêm ngặt. Pháp luật quy định lập dự án và thi công tu bổ là ngành nghề kinh doanh có điều kiện; bắt buộc tổ chức tham gia phải có đội ngũ chuyên gia, nghệ nhân sở hữu Chứng chỉ hành nghề do cơ quan quản lý nhà nước cấp. Nhìn nhận sâu sắc về yêu cầu khắt khe này, TS Phan Thanh Hải, Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc gia, Giám đốc Sở VHTT TP Huế khẳng định: “Thực tế cho thấy không ít đình làng bị hư hại không phải bởi thời gian mà bởi những cuộc “trùng tu” thiếu hiểu biết. Vì vậy, cần tăng cường vai trò của các cơ quan chuyên môn, các nhà nghiên cứu, nghệ nhân truyền thống trong quá trình lập dự án, thiết kế và thi công”. Đồng thời, tu bổ không chỉ là bảo vệ lớp vỏ kiến trúc bên ngoài. Chia sẻ thêm về vấn đề này, PGS. TS Bùi Xuân Đính lưu ý: “hiện nay, một số nơi... chưa quan tâm đúng mức đến các yếu tố nội thất và giá trị văn hóa bên trong như ban thờ, đồ thờ tự... dẫn đến nhiều sai sót về nội dung, ý nghĩa, thậm chí làm giảm giá trị lịch sử và tính linh thiêng của di tích”.

Quản lý và giám sát các công trình từ các nguồn vốn đầu tư
Nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa 2025 - 2035 mở ra cơ hội tu bổ 95% di tích quốc gia đặc biệt và 70% di tích quốc gia. Tuân thủ nguyên tắc “địa phương quyết, địa phương làm”, các cấp chính quyền phải lập Hội đồng thẩm định độc lập gồm chuyên gia đa ngành để kiểm soát chặt chẽ nguồn kinh phí, tránh biến đây thành cơ hội “xây mới di tích” để giải ngân. Đối với nguồn vốn xã hội hóa, mọi can thiệp vào công trình đều phải được thẩm định và cấp phép rõ ràng. Đánh giá về sự lúng túng tại cơ sở thời gian qua, PGS, TS Bùi Hoài Sơn chỉ rõ thực trạng: “Nhà nước đưa ra những quy định nhằm định hướng, nhưng ở dưới cộng đồng phải có năng lực thực thi. Rất nhiều nơi, cán bộ quản lý văn hóa từ cấp xã, cấp thôn gặp khó khăn trong việc nắm bắt chuyên môn, dẫn đến lúng túng trong cách vận hành các thiết chế văn hóa”. Do đó, giải pháp then chốt là kích hoạt Ban Giám sát đầu tư cộng đồng, trao quyền kiến nghị đình chỉ thi công ngay lập tức nếu phát hiện nhà thầu làm biến dạng mảng chạm khắc hoặc sử dụng vật liệu sai quy chuẩn, đảm bảo sự minh bạch xuyên suốt từ nguồn vốn đến chất lượng công trình.
Tích hợp không gian đình làng vào thiết chế Nông thôn mới
Quá trình áp dụng Tiêu chí số 06 về xây dựng Nông thôn mới ở một số nơi đã vô tình tạo ra nghịch lý đau xót: các xã dồn lực xây dựng mới nhà văn hóa, trong khi đình làng bị bỏ hoang phế. Nhằm hóa giải sự đứt gãy này, TS Phan Thanh Hải đề xuất một định hướng: “Điều quan trọng nhất hiện nay là phải chuyển từ tư duy “bảo tồn di tích” sang tư duy “bảo tồn không gian văn hóa sống”. Một ngôi đình dù được trùng tu khang trang đến đâu nhưng quanh năm đóng cửa... thì sớm muộn cũng trở thành một công trình vô hồn. Vì vậy, cần khuyến khích tổ chức các hoạt động văn hóa... ngay tại đình làng, để đình thực sự trở thành trung tâm kết nối cộng đồng.
Về mặt quy hoạch, các địa phương cần linh hoạt công nhận không gian của đình làng là thiết chế văn hóa đáp ứng đủ Tiêu chí 06. Ủng hộ hướng tiếp cận thiết thực này, PGS, TS Bùi Xuân Đính cho rằng: “Đối với những địa phương có khuôn viên đình rộng, có thể nghiên cứu kết hợp tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa cộng đồng phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng không gian văn hóa, tránh lãng phí”. Mở rộng góc nhìn về phương thức quản trị linh hoạt, PGS, TS Bùi Hoài Sơn gợi mở: “Nhà văn hóa không thể chỉ là một công trình vật lý, mà phải trở thành “Không gian văn hóa cộng đồng đa chức năng ”. Nghị quyết 28 của Quốc hội đã mở đường cho cơ chế thí điểm ‘Đầu tư công, quản trị tư’”... Sự linh hoạt trong quản trị này sẽ gắn kết chặt chẽ hơn vai trò và trách nhiệm của toàn xã hội vào công cuộc bảo vệ di sản”.

Đình làng gắn với Công nghiệp văn hóa và Chuyển đổi số
Theo định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW, phát triển công nghiệp văn hóa là động lực kinh tế mới để bảo tồn di sản. Thay vì tĩnh lặng thờ tự, những không gian như đình Kim Ngân và một số đình trong khu phố cổ thuộc phường Hoàn Kiếm, đình So (Hà Nội), đình Hùng Lô (Phú Thọ) đã hồi sinh mạnh mẽ nhờ mở cửa đón du khách, tổ chức triển lãm thủ công mỹ nghệ và khôi phục các chiếu diễn xướng dân gian. Không gian sân đình hoàn toàn có thể trở thành tâm điểm cho các sự kiện văn hóa quy mô, như tái hiện các không gian lễ hội truyền thống, Tết Việt, hay trình diễn trang phục cổ truyền chuẩn xác về lịch sử như áo dài ngũ thân, bối cảnh điện ảnh, qua đó kiến tạo một hệ sinh thái du lịch di sản bền vững. Song song đó, trong làn sóng Cách mạng 4.0, công nghệ 3D scanning giúp lưu trữ vĩnh cửu kết cấu kiến trúc gốc, cung cấp dữ liệu tuyệt đối chính xác cho nghiên cứu tu bổ và phục hồi di tích và đảm bảo an toàn. Những dữ liệu này khi lan tỏa qua Bảo tàng ảo (VR, AR) sẽ phục vụ đắc lực cho giáo dục di sản. Nhấn mạnh xu thế tất yếu này, TS Phan Thanh Hải nhận định: “Trong thời đại số, đình làng cũng cần được đưa lên môi trường số thông qua việc số hóa tư liệu, thần tích, sắc phong... Đây không chỉ là giải pháp lưu trữ lâu dài mà còn giúp quảng bá, giáo dục di sản cho thế hệ trẻ và kết nối với du khách”.

Nâng cao nền tảng tri thức nhà quản lý và ý thức cộng đồng
Mọi chính sách và nguồn lực sẽ trở nên vô nghĩa nếu chủ thể quản lý và thụ hưởng di sản thiếu hụt tri thức nền tảng. Việc đập bỏ kiến trúc gỗ truyền thống hay sơn mới di tích phần lớn là hệ quả của sự thiếu kiến thức về di sản. Trong bối cảnh đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và lộ trình thực hiện mô hình chính quyền hai cấp hiện nay, trọng trách của chính quyền cơ sở càng trở nên nặng nề. Khi quyền tự chủ và giám sát được giao phó trực tiếp cho địa phương, cán bộ Ủy ban nhân dân và cán bộ văn hóa cấp xã chính là những “canh gác” ở tuyến đầu, quyết định trực tiếp đến sự sống còn của di tích. Tuy nhiên, sự phân quyền này đang bộc lộ một khoảng trống lớn về năng lực thực thi. Do đó, để bộ máy chính quyền cấp xã đủ sức đảm đương vai trò quản lý nhà nước về di sản trong mô hình chính quyền hai cấp, cần có một chiến lược bồi dưỡng chuyên môn bài bản và thường xuyên. Các cơ quan chuyên ngành cấp trên cần tổ chức tập huấn chuyên sâu về lịch sử, mỹ thuật và kiến trúc truyền thống cho đội ngũ này. Mục tiêu là trang bị cho cán bộ cơ sở kiến thức, tình yêu di sản, hiểu được giới hạn mong manh giữa bảo tồn và phá hoại, từ đó có đủ bản lĩnh và tri thức để phản biện, ngăn chặn kịp thời các dự án tu bổ sai lệch ngay từ khi mới thai nghén.
Cùng với việc chuẩn hóa năng lực cán bộ quản lý, các cơ quan chức năng phải đẩy mạnh truyền thông, số hóa tri thức chính thống nhằm chống lại các luồng thông tin lai căng, lệch chuẩn đang len lỏi vào đời sống nông thôn. Bàn về sức mạnh của cộng đồng trong bảo vệ di sản đình làng, PGS, TS Bùi Hoài Sơn đúc kết: “yếu tố sống còn là phải truyền thông để chính cộng đồng hiểu và tự hào về giá trị lịch sử đích thực của di sản. Nhận thức của người dân chính là lớp bảo vệ vững chắc đầu tiên. Khi cộng đồng trân trọng di sản, chính họ sẽ giám sát và ngăn chặn mọi sự can thiệp sai lệch”. Đồng quan điểm về việc trao lại không gian di sản cho cộng đồng, TS Phan Thanh Hải khẳng định triết lý quan trọng: “điều cốt lõi nhất vẫn là phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng. Nhà nước có thể hỗ trợ cơ chế, chính sách... nhưng chỉ khi người dân thực sự yêu quý, tự hào... thì di sản ấy mới có thể trường tồn”.
* * *
Bảo vệ và phát huy mạng lưới di sản đình làng trong kỷ nguyên mới là một chiến lược quốc gia đòi hỏi sự đồng bộ giữa kỷ cương pháp luật, tài chính, quy hoạch không gian và công nghệ số. Dưới góc độ quản lý nhà nước, hệ thống thiết chế cần chuyển dịch mạnh mẽ từ tư duy “bao cấp, bảo tồn thụ động” sang mô hình “kiến tạo và quản trị linh hoạt”. Việc thực thi cơ chế phân cấp, phân quyền cho cấp địa phương theo Luật Di sản văn hóa 2024 phải được gắn liền với trách nhiệm giải trình và bộ tiêu chuẩn khắt khe về năng lực chuyên môn.
Đặc biệt, sứ mệnh bảo tồn và phát huy di sản đình làng hiện nay phải bám sát và hiện thực hóa các định hướng chiến lược của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Quản lý nhà nước không chỉ dừng lại ở việc dùng các mệnh lệnh hành chính để giữ gìn mái ngói, cột gỗ, mà phải kiến tạo hành lang pháp lý thông thoáng để đưa đình làng hội nhập sâu rộng vào chiến lược phát triển nền “Kinh tế di sản”. Đó là việc giải quyết hài hòa bài toán giữa việc bảo vệ tính linh thiêng của không gian di sản với việc khai thác, chuyển hóa chúng thành các sản phẩm Công nghiệp văn hóa đặc sắc; đồng thời xử lý tinh tế mối quan hệ giữa “đời sống thực và không gian số” nhằm xác lập chủ quyền, an ninh văn hóa số quốc gia. Bằng cách tái định vị đình làng như một không gian sáng tạo, nơi hội tụ các giá trị nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ và diễn xướng dân gian, chúng ta sẽ thực sự khơi dậy vẹn toàn sức sống của di sản đình làng - nguồn lực nội sinh văn hóa Việt, biến vốn quý truyền thống thành sức mạnh cốt lõi để đất nước tự tin hội nhập và phát triển.

____________________
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
2. Luật Di sản văn hóa 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) số 45/2024/QH15.
3. Quyết định số 318/QĐ-TTg ngày 8/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới.
4. Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.
5. Quyết định số 1211/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa giai đoạn 2012 - 2015.
6. Cục Di sản Văn hóa (Bộ VHTTDL), Báo cáo công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa năm 2025.
7. Quyết định số 3399/QĐ-BVHTTDL: Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035.
8. Ý kiến của PGS, TS Bùi Xuân Đính, PGS, TS Bùi Hoài Sơn, TS Phan Thanh Hải trao đổi trực tiếp với Nguyễn Đức Bình - tác giả bài viết.
NGUYỄN ĐỨC BÌNH
Nguồn: Tạp chí VHNT số 647, tháng 6-2026