
Từ lợi thế nguồn lực đến vị thế của sân khấu
Hà Nội hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi để trở thành trung tâm nghệ thuật biểu diễn phát triển mạnh mẽ của cả nước: hệ thống nhà hát chuyên nghiệp thuộc trung ương và thành phố; đội ngũ tác giả, đạo diễn, diễn viên và đông đảo nhà nghiên cứu; các cơ sở đào tạo nghệ thuật hàng đầu; kho tàng di sản vật thể, phi vật thể cùng mạng lưới di tích, lễ hội và không gian văn hóa phong phú. Đây là nguồn lực mà không phải đô thị nào cũng có được.
Tuy nhiên, có nguồn lực không đồng nghĩa với việc đã hình thành được một ngành công nghiệp văn hóa thực sự. Có những vở diễn được đầu tư công phu nhưng số buổi biểu diễn còn khiêm tốn; hoạt động biểu diễn thường gắn với kế hoạch chuyên môn, nhiệm vụ chính trị hoặc các kỳ liên hoan, hội diễn; sự kết nối giữa sân khấu với du lịch, giáo dục, truyền thông, công nghệ và không gian di sản vẫn còn phân tán. Không ít đơn vị có sân khấu nhưng thiếu lịch diễn ổn định; có tác phẩm nhưng chưa có hệ thống phân phối; có nghệ sĩ nhưng thiếu cơ chế đưa sức sáng tạo của họ vào những chuỗi giá trị dài hạn.
Nghịch lý ấy đặt ra một câu hỏi quan trọng: vấn đề của sân khấu Hà Nội hôm nay chủ yếu nằm ở đâu? Liệu là do thiếu vở diễn, thiếu nghệ sĩ, thiếu nhà hát, hay nằm ở khả năng tổ chức và kết nối các nguồn lực hiện có? Câu hỏi này cần được đặt trong bối cảnh Việt Nam đã xác định nghệ thuật biểu diễn là một bộ phận của các ngành công nghiệp văn hóa. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định nghệ thuật biểu diễn là một trong 10 ngành công nghiệp văn hóa [¹]. Ở cấp địa phương, Hà Nội là địa phương đầu tiên ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp văn hóa, với mục tiêu đưa lĩnh vực này trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô [²]. Như vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là tổ chức thêm các hoạt động sân khấu, mà là định vị đúng vai trò của sân khấu trong cấu trúc công nghiệp văn hóa Hà Nội.

Khi giá trị sân khấu vượt khỏi một đêm diễn
Theo Công ước năm 2005 của UNESCO, các ngành công nghiệp văn hóa là những ngành sản xuất và phân phối hàng hóa hoặc dịch vụ văn hóa [³]. Cách tiếp cận này cho thấy công nghiệp văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa nghệ thuật bằng mọi giá. Cốt lõi của nó là tổ chức hoạt động sáng tạo, sản xuất, phân phối và tiếp nhận sao cho giá trị văn hóa được lan tỏa, đồng thời tạo ra nguồn lực để tái đầu tư cho sáng tạo.
Đặt trong cách hiểu đó, một vở diễn không nên chỉ tồn tại qua một vài suất diễn rồi khép lại cùng tấm màn sân khấu, để sau đó chỉ còn nằm trong ký ức của khán giả. Tác phẩm có thể tiếp tục được khai thác qua biểu diễn định kỳ, lưu diễn, ghi hình, phát hành nội dung số, hoạt động giáo dục nghệ thuật, chương trình trải nghiệm du lịch, chuyển nhượng bản quyền hoặc phát triển những sản phẩm truyền thông liên quan. Giá trị kinh tế, nếu có, không thay thế giá trị nghệ thuật mà được hình thành từ khả năng lan tỏa và mở rộng đời sống của tác phẩm. Đây cũng là lý do cần chuyển từ tư duy phát triển từng ngành riêng lẻ sang tư duy hệ sinh thái. Mạng lưới các Thành phố sáng tạo của UNESCO đặt văn hóa và sáng tạo vào trung tâm của phát triển đô thị bền vững, đồng thời nhấn mạnh sự hợp tác giữa các thành phố, các chủ thể và các lĩnh vực sáng tạo [⁴]. Hà Nội được UNESCO ghi danh là Thành phố sáng tạo trong lĩnh vực thiết kế năm 2019, mở ra yêu cầu không chỉ tổ chức thêm các sự kiện sáng tạo mà còn phải tạo được những mối liên kết bền vững giữa văn hóa, thiết kế, giáo dục, công nghệ, du lịch và đời sống đô thị [⁵]. Trong hệ sinh thái ấy, sân khấu có một lợi thế đặc biệt: khả năng kết nối.

Trước hết, sân khấu là nghệ thuật tổng hợp. Một vở diễn là kết quả của sự tham gia đồng thời của văn học, âm nhạc, mỹ thuật, múa, thiết kế không gian, phục trang, ánh sáng, âm thanh và công nghệ biểu diễn. Vì vậy, ngay trong cấu trúc nội tại, sân khấu đã là nơi gặp gỡ của nhiều lĩnh vực sáng tạo.
Thứ hai, sân khấu gắn với trải nghiệm trực tiếp, khán giả không chỉ tiếp nhận nội dung mà cùng hiện diện trong một không gian, thời gian cụ thể với nghệ sĩ. Tính trực tiếp ấy giúp sân khấu dễ dàng kết nối với không gian di sản, hoạt động cộng đồng, giáo dục trải nghiệm và du lịch văn hóa. Đặc biệt, sân khấu tạo ra một trải nghiệm chỉ có thể diễn ra trong không gian và thời gian cụ thể, với những thăng hoa, cộng cảm và tương tác trực tiếp giữa nghệ sĩ với khán giả. Chính điểm này tạo nên sức hấp dẫn riêng của nghệ thuật biểu diễn mà các hình thức nghệ thuật khác khó có thể thay thế.”
Thứ ba, sân khấu có khả năng chuyển hóa lịch sử, di sản và ký ức thành trải nghiệm cảm xúc. Di tích có thể lưu giữ dấu vết lịch sử, nhưng nghệ thuật biểu diễn giúp lịch sử được kể lại, được hình dung và được đối thoại với hiện tại. Đây là khả năng đặc biệt quan trọng đối với Hà Nội - một thành phố có mật độ dày đặc của di sản và ký ức đô thị.
Do đó, giá trị của sân khấu trong công nghiệp văn hóa không chỉ nằm ở số lượng tác phẩm được dàn dựng hay doanh thu bán vé, mà còn ở khả năng kết nối các nguồn lực văn hóa để tạo thành những trải nghiệm và giá trị mới.
Hà Nội có nhiều nguồn lực nhưng thiếu một mạng lưới sân khấu
Trên địa bàn Hà Nội hiện có một hệ thống đơn vị biểu diễn đa dạng, với các đơn vị nghệ thuật công lập và ngoài công lập, trong đó, các đơn vị nghệ thuật công lập thuộc thành phố quản lý gồm: Nhà hát Chèo Hà Nội, Nhà hát Cải lương Hà Nội, Nhà hát Kịch Hà Nội, Nhà hát Ca Múa Nhạc Thăng Long, Nhà hát múa rối Thăng Long, Nhà hát Nghệ thuật Xiếc và Tạp kỹ Hà Nội. Tuy nhiên, các đơn vị vẫn chủ yếu vận hành theo chức năng và kế hoạch riêng. Lịch diễn, hoạt động truyền thông, dữ liệu khán giả và chiến lược phát triển thị trường chưa được kết nối thành một mạng lưới chung.
Vì vậy, Hà Nội chưa thực sự hình thành được một thương hiệu sân khấu mang dấu ấn đô thị. Công chúng có thể biết từng nhà hát, từng đoàn nghệ thuật hoặc từng vở diễn, nhưng chưa hình thành nhận thức rõ ràng về “Sân khấu Hà Nội” như một điểm đến văn hóa thống nhất. Đây là khác biệt đáng chú ý so với những trung tâm biểu diễn mà tên gọi của khu vực đã trở thành thương hiệu của cả thành phố.
Điểm nghẽn thứ hai nằm ở quan hệ giữa sân khấu với di sản và du lịch. Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, phố cổ, các làng nghề và lễ hội truyền thống đều có khả năng trở thành những không gian biểu diễn đặc thù của Hà Nội. Tuy nhiên, phần lớn chương trình nghệ thuật tại các địa điểm này vẫn mang tính sự kiện hoặc phục vụ những thời điểm nhất định, chưa trở thành các sản phẩm định kỳ đủ sức tạo thói quen cho công chúng và trở thành một phần của hành trình du lịch.
Điều Hà Nội cần không chỉ là đưa một vở diễn vào di tích, mà là kiến tạo một sản phẩm trong đó câu chuyện, hình thức biểu diễn, không gian, thời gian, dịch vụ và nhóm công chúng được thiết kế đồng bộ. Khi đó, di sản không chỉ là phông nền, sân khấu không chỉ là tiết mục minh họa, khách du lịch không chỉ là những người tiếp nhận trải nghiệm một cách thụ động. Ba thành tố phải cùng tham gia tạo ra trải nghiệm.
Thực tiễn đã xuất hiện những mô hình đáng chú ý. Nhà hát Múa rối Thăng Long cho thấy khả năng tổ chức một sản phẩm nghệ thuật truyền thống gắn với thị trường du lịch và lịch diễn thường xuyên. Giá trị của múa rối nước trong trường hợp này không dừng ở bảo tồn loại hình mà được chuyển hóa thành trải nghiệm văn hóa tiêu biểu của Hà Nội đối với khách trong nước và quốc tế.
Sân khấu Lệ Ngọc lại gợi mở hướng kết nối khác khi đưa các tác phẩm sân khấu đến trường học, tổ chức biểu diễn cho học sinh, sinh viên và xây dựng quan hệ giữa sân khấu với giáo dục. Hoạt động sân khấu học đường không chỉ mở rộng phạm vi phổ biến tác phẩm mà còn tham gia hình thành lớp công chúng tương lai. Trong công nghiệp văn hóa, phát triển công chúng không thể chỉ bắt đầu khi nhà hát cần bán vé; đó phải là một quá trình giáo dục thẩm mỹ và tạo dựng thói quen tiếp nhận từ sớm.
Các chương trình tại không gian đi bộ hồ Hoàn Kiếm, Hoàng thành Thăng Long và Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội cũng cho thấy tiềm năng đưa nghệ thuật ra khỏi kiến trúc sân khấu hộp, kết nối biểu diễn với thiết kế, không gian công cộng và cộng đồng. Báo cáo giám sát của Hà Nội gửi Mạng lưới các Thành phố sáng tạo cho thấy Lễ hội Thiết kế sáng tạo đã huy động nhiều không gian và thu hút lượng công chúng đáng kể, phản ánh nhu cầu có thật đối với những trải nghiệm văn hóa mới trong đô thị [⁶]. Tuy nhiên, những trường hợp tích cực ấy vẫn chủ yếu tồn tại như những điểm sáng riêng lẻ. Điều còn thiếu là cơ chế giúp các mô hình tốt được kết nối, nhân rộng và bổ trợ cho nhau

Tạo dựng nền tảng phát triển mới cho sân khấu Hà Nội
Trước hết, cần kết nối các nhà hát nhằm kiến tạo hệ sinh thái sân khấu Thủ đô. Điều này không có nghĩa là làm mất bản sắc của từng đơn vị, mà tạo ra một cơ chế phối hợp về lịch diễn, truyền thông, phát triển công chúng, khai thác không gian và liên kết với doanh nghiệp. Cơ quan quản lý nhà nước cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo môi trường phát triển, đặt hàng theo hiệu quả xã hội và khả năng lan tỏa, đồng thời tạo điều kiện cho các chủ thể công lập, tư nhân và độc lập cùng tham gia.
Thứ hai, cần chuyển từ dàn dựng vở diễn sang phát triển sản phẩm sân khấu có vòng đời dài. Ngay từ khâu lựa chọn kịch bản và tổ chức sản xuất, đơn vị nghệ thuật cần tính đến nhóm công chúng, lịch diễn, phương thức truyền thông, khả năng lưu diễn, kết nối giáo dục, du lịch và nền tảng số. Một tác phẩm chỉ thực sự tham gia công nghiệp văn hóa khi có khả năng tiếp tục sống sau lần công diễn đầu tiên.
Thứ ba, cần chuyển từ quảng bá từng đơn vị sang xây dựng thương hiệu chung cho sân khấu Hà Nội. Thành phố có thể nghiên cứu mùa sân khấu Thủ đô, lịch biểu diễn chung, bản đồ không gian biểu diễn, hệ thống vé và thông tin tập trung, các tuyến trải nghiệm kết nối nhà hát với di sản và kinh tế đêm. Thương hiệu “Sân khấu Hà Nội” phải được hình thành từ chất lượng tác phẩm, sự đa dạng loại hình, tính thường xuyên của hoạt động và khả năng giúp công chúng nhận diện Hà Nội như một điểm đến biểu diễn.
Sân khấu Hà Nội đang có nguồn lực lớn nhưng chưa chuyển hóa đầy đủ nguồn lực ấy thành năng lực phát triển công nghiệp văn hóa. Vấn đề vì thế không chỉ là đầu tư thêm cho từng nhà hát hay dàn dựng thêm nhiều vở diễn, mà là tổ chức lại mối quan hệ giữa sân khấu với di sản, giáo dục, du lịch, truyền thông, công nghệ, doanh nghiệp và cộng đồng.
Khi được đặt trong một hệ sinh thái có khả năng vận hành và tạo giá trị, sân khấu sẽ không chỉ là nơi biểu diễn tác phẩm, mà còn là phương thức kể câu chuyện của Hà Nội, tạo dựng trải nghiệm đô thị và góp phần gia tăng sức mạnh mềm của Thủ đô. Đó là hướng chuyển đổi cần thiết để nghệ thuật biểu diễn thực sự trở thành một bộ phận năng động của công nghiệp văn hóa Hà Nội.
_______________
1. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 2486/QĐ-TTg ngày 14/11/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
2. Thành ủy Hà Nội, Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 22/2/2022 về phát triển công nghiệp văn hóa trên địa bàn Thủ đô giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; UBND thành phố Hà Nội, Kế hoạch số 129/KH-UBND ngày 25/4/2024 thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU.
3. UNESCO, Convention on the Protection and Promotion of the Diversity of Cultural Expressions, (Công ước bảo vệ và phát huy sự đa dạng các biểu đạt văn hóa) Paris, 2005, Điều 4, khoản 5.
4. UNESCO, Creative Cities Network (Mạng lưới các thành phố sáng tạo), trong đó sáng tạo được xác định là nhân tố chiến lược của phát triển đô thị bền vững và các ngành văn hóa, sáng tạo được đặt vào trung tâm của kế hoạch phát triển địa phương.
5. UNESCO, Joining Hands to Promote Ha Noi Creative City and the UNESCO Creative Cities Network in Viet Nam (Chung tay thúc đẩy Thành phố Sáng tạo Hà Nội và Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO tại Việt Nam), 2020. Hà Nội chính thức được UNESCO ghi danh vào Mạng lưới các Thành phố sáng tạo ngày 30/10/2019, trong lĩnh vực thiết kế.
6. Hanoi People’s Committee, Hanoi UNESCO Creative Cities Network Membership Monitoring Report 2024. Báo cáo cho biết Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội năm 2022, với chủ đề “Sáng tạo và công nghệ”, thu hút hơn 30.000 lượt người tại 50 không gian sáng tạo.
DIỆP BẢO NGỌC
Nguồn: Tạp chí VHNT số 653, tháng 8/2026