
Tạo lập hành lang pháp lý minh bạch cho các tác phẩm sử dụng nguồn ngân sách Nhà nước
Nghị định số 287/2026/NĐ-CP gồm 7 chương, 21 điều, thay thế cho các Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/3/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút trong lĩnh vực báo chí, xuất bản và Nghị định số 21/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác.
Theo đó, Nghị định số 287/2026/NĐ-CP (Nghị định 287) gồm 7 Chương, 21 Điều, quy định chi tiết một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 93/2025/QH15 và Luật số 131/2025/QH15 được giao tại khoản 4, Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ về các nội dung: Tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ trong các lĩnh vực: điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản; Tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 42 của Luật Sở hữu trí tuệ trong các lĩnh vực: điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản.
Nghị định 287 đã sử dụng thống nhất thuật ngữ “tiền bản quyền” để đồng bộ với Luật Sở hữu trí tuệ 2025 và văn bản liên quan (là khoản tiền trả cho việc sáng tạo hoặc chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, bao gồm cả tiền nhuận bút, tiền thù lao).
Về mặt phạm vi, Nghị định 287 tạo ra hành lang pháp lý minh bạch khi tập trung điều chỉnh hai vấn đề cốt lõi. Thứ nhất: Tiền bản quyền trả cho việc sáng tạo bằng nguồn ngân sách nhà nước theo phương thức giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu. Thứ hai: Tiền bản quyền trả cho việc khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu hoặc đại diện quản lý.

Định lượng giá trị sáng tạo trong từng lĩnh vực
Nghị định 287 điều chỉnh chi tiết các lĩnh vực nghệ thuật và báo chí, xuất bản, trên tinh thần bám sát đặc thù cấu trúc và quy trình vận hành của từng ngành.
Điện ảnh: Tiền bản quyền theo định mức và giá thành sản xuất phim
Nghị định 287 quy định tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm điện ảnh khá linh hoạt. Đối với cơ chế đặt hàng, đấu thầu bằng ngân sách nhà nước được chi trả theo định mức kinh tế - kỹ thuật và tỷ lệ phần trăm (%) của giá thành sản xuất phim.
Cụ thể, với phim truyện, biên kịch được hưởng từ 2,25% đến 2,75% giá thành sản xuất; đạo diễn hưởng mức cao nhất từ 2,5% đến 3%. Các chức danh khác cũng được lượng hóa rõ ràng: đạo diễn hình ảnh (1,70 - 2,10%), họa sĩ thiết kế mỹ thuật (1,20 - 1,50%), nhạc sĩ (1,50 - 1,90%), người làm kỹ xảo (0,80 - 1,10%), thiết kế âm thanh (1,50 - 1,80%). Đối với phim tài liệu, phim khoa học, tỷ lệ dành cho biên kịch và đạo diễn từ 4,21% - 5,50%.
Còn nếu phim có chi phí sản xuất cao do bối cảnh nước ngoài hoặc thiết bị đặc biệt, mức tiền bản quyền có thể được thỏa thuận nhưng không quá hai lần mức của phim có chi phí bình quân. Đây là một quy định vừa mở đường cho các dự án phim lớn của Nhà nước, vừa bảo đảm sử dụng ngân sách hiệu quả.
Nghệ thuật biểu diễn: Tính theo khung mức lương cơ sở, hoặc theo tỷ lệ phần trăm doanh thu cuộc biểu diễn
Trong lĩnh vực sân khấu (tuồng, chèo, kịch nói, xiếc, múa rối...), Nghị định 287 đưa ra cơ chế thanh toán “kép” đầy linh hoạt: tính theo khung mức lương cơ sở, hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm doanh thu cuộc biểu diễn (bán vé, quảng cáo hoặc nguồn thu trực tiếp khác từ biểu diễn).
Theo khung, tác phẩm được chia theo quy mô (tiểu phẩm, vở ngắn, vở vừa, vở dài). Ví dụ, với kịch nói vở dài (trên 105 phút), biên kịch có thể nhận từ 62,9 đến 145,8 lần mức lương cơ sở; đạo diễn nhận từ 41,9 đến 97,2 lần mức lương cơ sở. Đối với các chương trình nghệ thuật tổng hợp ngoài trời, quảng trường (Festival, Carnaval), nơi đòi hỏi nhiều sức lao động, biên kịch chương trình dài có thể nhận tới 96,9 lần và đạo diễn lên tới 80,7 lần mức lương cơ sở.
Theo doanh thu: tùy theo việc bán vé, người nghệ sĩ sẽ được hưởng lợi ích tương xứng. Với tuồng, chèo, kịch nói, biên kịch hưởng 4,2% - 6 % doanh thu; đạo diễn hưởng 3,50% - 5% doanh thu. Với tác phẩm âm nhạc thính phòng, giao hưởng, tác giả âm nhạc cũng được hưởng từ 4% - 6 % doanh thu cuộc biểu diễn. Cơ chế này khuyến khích các đoàn nghệ thuật công lập dàn dựng những tác phẩm hấp dẫn, hút khách, tạo động lực cạnh tranh mạnh mẽ trong thị trường giải trí.
Định giá tiền bản quyền theo giá trị tác phẩm mỹ thuật
Trong lĩnh vực mỹ thuật, Nghị định quy định tác phẩm dưới 1 triệu đồng thì tiền bản quyền tối đa là 60%; nhưng với tác phẩm có giá thành từ 9-10 tỷ đồng, tỷ lệ này là 4,7% - 4,5%. Với tác phẩm trên 10 tỷ đồng, tiền bản quyền bằng mức của tác phẩm 10 tỷ đồng cộng thêm 1% của phần giá thành tác phẩm vượt quá 10 tỷ đồng.
Nghị định đã bổ sung mục quy định quy mô trưng bày, triển lãm mỹ thuật, nhiếp ảnh cấp “xã, phường, đặc khu trực thuộc cấp tỉnh” thì mức hưởng tiền bản quyền bằng khoảng 1/2 mức áp dụng đối với quy mô “tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”, trên cơ sở thực tiễn chi trả tại các địa phương hiện nay.
Lĩnh vực Báo chí, Xuất bản: Thích ứng với môi trường số
Đối với báo in, báo điện tử, tiền bản quyền sáng tạo thực hiện theo quy định pháp luật về giao nhiệm vụ, đặt hàng, đấu thầu. Đối với phát thanh, truyền hình, mức tiền bản quyền được chi trả trong đơn giá sản xuất đã được phê duyệt theo nhiệm vụ đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc đấu thầu sử dụng nguồn ngân sách nhà nước.
Trong xuất bản, tỷ lệ phần trăm được quy định rất chi tiết theo từng thể loại sách (văn xuôi: 8-17%, từ điển: 12-18%, bản đồ: 7-23%...) nhân với giá thành sản xuất và số lượng in. Đặc biệt, Nghị định đã điều chỉnh xuất bản phẩm điện tử: tiền bản quyền sách điện tử bằng tỷ lệ % nhân với giá thành sản xuất (không bao gồm chi phí phát hành, đăng tải) nhân với số năm sử dụng. Ngoài ra, tác giả xuất bản phẩm điện tử còn được quyền truy cập, sử dụng tác phẩm trên các nền tảng thiết bị. Đây là một bước tiến mới, bắt kịp thực tiễn chuyển đổi số của ngành Xuất bản.

“Tiền bản quyền khuyến khích” và bảo vệ tác phẩm phái sinh
Một trong những điểm sáng nữa của Nghị định 287 là quy định “Tiền bản quyền khuyến khích” (Điều 3). Theo đó, một khoản tiền bản quyền trả thêm được quy định cho các tác giả thuộc những trường hợp đặc biệt: sáng tác đề tài về trẻ em, dân tộc thiểu số; nghệ thuật truyền thống (tuồng, chèo, cải lương); giao hưởng, opera, kịch múa, xiếc; phóng sự điều tra; tác phẩm dành cho người khuyết tật. (Ví dụ: điện ảnh đề tài trẻ em, dân tộc thiểu số được cộng thêm 5-10%; sân khấu truyền thống, giao hưởng, xiếc được cộng thêm 15%; sách giáo khoa, sách cho trẻ em/đồng bào dân tộc được cộng 10-30%); những người sáng tác trong điều kiện khó khăn, nguy hiểm; người dân tộc Kinh viết bằng tiếng dân tộc thiểu số, người Việt Nam viết bằng tiếng nước ngoài. Đặc biệt, nếu Nhà nước khai thác tác phẩm sinh lời, tác giả được chia thêm tối đa 10% lợi nhuận thu được.
Bên cạnh đó, quyền lợi của tác giả tác phẩm gốc khi phái sinh cũng được bảo vệ. Người làm tác phẩm phái sinh lĩnh vực mỹ thuật, nhiếp ảnh hưởng 40-55%, phần còn lại thuộc về tác giả gốc. Biên kịch chuyển thể phim từ văn học, sân khấu hưởng 70% mức tiền của biên kịch thông thường, phần còn lại trả cho tác giả gốc. Biên kịch chuyển thể kịch bản văn học sang nhạc kịch, opera hưởng 40%, 60% dành cho tác giả nguyên tác. Sự phân minh này sẽ góp phần xóa bỏ những tranh chấp bản quyền từng làm nhức nhối dư luận nhiều năm qua, đảm bảo sự tôn trọng chuỗi giá trị sáng tạo.

Khơi thông dòng chảy kinh tế văn hóa
Khắc phục những hạn chế của các Nghị định về tiền bản quyền và nhuận bút trước đây , Nghị định 287 đã bổ sung những quy định cụ thể về mức chi, việc khai thác các quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu.
Với sân khấu và nghệ thuật biểu diễn: khi khai thác thương mại (biểu diễn trước công chúng), mức tiền bản quyền không được thấp hơn 2% doanh thu cuộc biểu diễn. Với báo chí in, điện tử: các đơn vị khai thác lại tác phẩm của Nhà nước phải trả mức không thấp hơn 20% tiền bản quyền sáng tạo tác phẩm ban đầu. Với phát thanh, truyền hình: quy định một khung tỷ lệ % trên chi phí sản xuất rất rõ ràng cho các bên muốn sử dụng lại tin tức, phóng sự, phim tài liệu (từ 5% - 10% tùy mức chi phí). Nếu khai thác từ lần thứ hai trở đi, các bên phải thỏa thuận dựa trên tần suất, thời lượng, khung giờ, nền tảng.
Những quy định này hoàn toàn phù hợp với Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017 (sửa đổi, bổ sung các năm sau đó), coi quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản công mà cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập được sử dụng, khai thác theo các quy định của pháp luật. Tiền bản quyền cho giai đoạn khai thác, sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, hoặc đại diện quản lý sẽ quay vòng trở lại ngân sách, tiếp tục nuôi dưỡng những dự án, chương trình chất lượng khác. Tuy nhiên, Nghị định cũng rạch ròi giới hạn: Nếu khai thác, sử dụng tác phẩm nhằm mục tiêu tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ chính trị, không nhằm mục đích thương mại, dành cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo… thì không phải xin phép, không phải trả tiền bản quyền, nhưng phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm, cuộc biểu diễn.
Có thể nói, Nghị định 287 đã bao quát, điều chỉnh, bổ sung thực tiễn hoạt động nghệ thuật, báo chí và xuất bản, tạo động lực để các tác giả, nghệ sĩ, tổ chức, đơn vị nghệ thuật, báo chí, xuất bản hăng say sáng tạo. Đồng thời, góp phần xây dựng một nền công nghiệp văn hóa phát triển bền vững.
Tất nhiên, từ văn bản pháp quy đến thực tiễn đời sống luôn cần những nỗ lực thực thi của các cơ quan chức năng trong việc hướng dẫn, lập dự toán ngân sách và quy định chi tiết biểu mức cho phù hợp với đặc thù từng ngành, địa phương. Bên cạnh đó, để các quy định của luật pháp thành sức bật mạnh mẽ cho công nghiệp văn hóa , cần nâng cao năng lực minh bạch hóa dữ liệu của thị trường và bản lĩnh làm nghề của giới chuyên môn. Các ngành nghệ thuật, báo chí, xuất bản chỉ có thể vươn tầm khi giá trị của sáng tạo được bảo chứng bằng sự thực thi nghiêm túc của pháp luật về quyền tác giả, quyền liên quan.
NGÔ HỒNG VÂN
Nguồn: Tạp chí VHNT số 653, tháng 8/2026